VIENGIAC.DE
Tin Đức quốc tháng 11.2011
Viết bởi Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp   
Thứ ba, 01 Tháng 11 2011 10:47


Thứ tư ngày 30.11.2011
Trưng cầu ý dân cho dự án „Stuttgart 21“: Kẻ chống đối thừa nhận đã thua cuộc – Người dân trong tiểu bang Baden-Württemberg bỏ phiếu cho nhà ga ngầm.


Kẻ chống đối (Gegner) dự án đường sắt (Bahnprojekt) mang tên „Stuttgart 21“ đã thừa nhận (einräumen) thất bại (Niederlage) ngay trước khi tuyên bố (Verkündung) kết quả (Ergebnis) cuối cùng (endgültig) của cuộc trưng cầu ý dân. Ông Winfried Kretschmann (Grüne), Thủ hiến (Ministerpräsident) tiểu bang Baden – Württmeberg giờ đây chấp thuận (zusagen) xúc tiến thực hiện (umsetzen) dự án này.
“Sự quyết định (Entscheidung) vụ việc (Sache) được chấp nhận (akzeptieren)“, ông Kretschmann nói tại Stuttgart. Chính quyền tiểu bang (Landesregierung) sẽ hỗ trợ (begleiten) dự án (Projekt) mộc cách „xây dựng (konstruktiv) và nghiêm túc (kritisch)“. Đối với cá nhân ông, lá phiếu (Votum) của người dân (Bürger) là một „quyết định cứng rắn (hart)“. Ông đã từng tin tưởng (fest überzeugt) rằng những cách chọn lựa (Alternativ) đối với dự án „Stuttgart 21“ sẽ khả quan hơn (besser). Dù vậy ông Kretschmann đã mô tả (bezeichnen) việc trưng cầu ý dân (Volksabstimmung) cũng đồng thời (zugleich) là „một ngày rất tốt đẹp cho nền dân chủ (Demokratie)“.
Một phát ngôn viên (Sprecher) của Liên minh Hành động (Aktionsbündnis), ông Hannes Rockenbauch, tiếc nuối (bedauern) trong lời giải thích (Erklärung) rằng đa số (Mehrheit) cử tri (Wahlbeteiligte) đã bỏ phiếu (stimmen) cho việc tiếp tục xây cất (Weiterbau). Sau khi kiểm phiếu (auszählen) 39 trong số 44 phòng bỏ phiếu trong tiểu bang Baden – Württemberg ghi nhận tỷ lệ (Verhältnis) có 59 phần trăm đồng ý dự án so với số 40 phần trăm chống lại.
Ông Rockenbauch tiếc nuối và nói rằng „đa phần các cử tri nam nữ đã hiến tặng (schenken) cho công ty đường sắt (Bahn) và những người ủng hộ (Unterstützer) có quyền thế (mächtig) trong kinh tế và chính trị sự tin tưởng (Glauben) của họ“. Công ty đường sắt đòi hỏi (auffordern) Hội đồng thành phố (Stadtrat) Stuttgart „ngay từ bây giờ phải giữ lời hứa (Versprechung) cũng như chi cho phí tổn khoảng 4,5 tỷ Euro“.
Tổng cộng (insgesamt) có khoảng 7,6 triệu người dân tiểu bang Baden – Württemberg đã bỏ phiếu (abstimmen) về việc tiểu bang này có nên rút khỏi (aussteigen) dự án hàng tỷ Euro này hay không. Ngay trong thành phố Stuttgart có khoảng 360.000 người được kêu gọi (aufrufen) đi bỏ phiếu (Stimmabgabe). Chính quyền xanh-đỏ (Grüne/SPD) đã đưa ra việc trưng cầu ý dân, vì đối tác liên minh (Koalitionspartner) có quan điểm (Ansicht) khác với (unterschiedlich) dự án „Stuttgart 21“. Trong khi đảng Grüne bác bỏ (ablehnen) dự kiến xây nhà ga ngầm (Tiefbahnhof), thì đảng SPD hoàn toàn đồng ý dự án.

Tin và hình AFP

Thứ ba ngày 29.11.2011
Sự ủ ê trầm cảm là nguyên nhân tự sát của ông Rafati, trọng tài bóng đá Đức.

Sáu ngày sau hành động cố tự sát (Selbstmordversuch) trong một khách sạn (Hotel) ở Köln, ông Babak Rafati, một trọng tài (Schiedrichter) bóng đá của Đức đã nêu lên (nennen) chứng ủ ê trầm cảm (Depression) là nguyên nhân của vấn đề. Trong một văn kiện (Schreiben) của ông Sven Menke, luật sư (Rechtsanwalt) của ông Rafati, nói rằng việc dẫn đến hành động cố tự sát (Suizidversuch) là do „ấn tượng (Eindruck) sai lầm (falsch)“ về những lý do (Grund) cá nhân (privat) và khó khăn (Problem) trong gia đình (familär) sanh ra (entstehen). Thật tế (tatsächlich) cho thấy trong những ngày qua người ta đã chẩn đoán biết được chứng ủ ê trầm cảm là nguyên nhân (Ursache) cho hành động (Handeln) của ông.
“Đây là nguyện vọng (Anliegen) khẩn thiết (dringend) của ông Rafati . . . để báo (informieren) cho công luận (Öffentlichkeit) biết về những lý do tác động (Bewegungsgrund) thật sự“, trong bản thông tin (Mitteilung) ghi nhận thế. Những triệu chứng (Symptom) bệnh trầm cảm đã xuất hiện (auftreten) lần đầu (erstmal) trước đây một năm rưỡi và ngày càng tăng (verstärken) kể từ đó (seither). Sau đó ông Rafati đã bị áp lực công việc (Leistungsdruck) làm trọng tài ngày càng đè nặng (belasten) như sợ sệt (Angst) và làm lỗi lầm (Fehler). Hiện ông Rafati đang được bác sĩ chuyên môn điều trị (behandeln). Sau sự thành công của sự trị liệu, ông sẽ tiếp tục làm trọng tài bóng đá.

Tin và hình AFP

Thứ hai ngày 28.11.2011
Chứng bệnh dân gian „cạn lực“: Phương thức chẩn đoán và điều trị mới.

Chứng „cạn lực“ (Burnout) ngày càng phát triển (entwicklen) trở thành một căn bệnh dân gian (Volkskrankheit). Vì thế số lượng giấy nghỉ bệnh (Krankenschreibung) hàng năm (jährlich) bởi chứng Burnout trong thời gian từ 2004 đến 2010 đã tăng gấp chín lần (verneunfachen). Dù vậy vẫn thường xảy ra những cuộc tranh luận (Diskussion) rằng liệu chứng Burnout có phải chỉ là một căn bệnh thời trang (Modekrankheit) chăng. Vì đa phần bệnh nhân (Patient) dường như (scheinbar) được chẩn đoán (diagnostisieren) và kết luận (schlussfolgern) hơi bị sớm (vorschnell) hoặc sai lầm (falsch) là mắc chứng Burnout! Vị bác sĩ chuyên gia (Experte) về chứng Burnout, ông Dr. Thomas Michael Platzer, giải thích (erklären) rằng làm thế nào để thành công (gelingen) trong việc chẩn đoán đúng (richtig) chứng Burnout và giới thiệu (vorstellen) một phương thức (Konzept) mới cho việc chẩn đoán (Diagnose) cũng như điều trị (Behandlung) của Viện Chẩn đoán (Diagnoseklinik) München như sau:
Hầu có sự chẩn đoán chứng Burnout một cách chính xác (genau) điều cần thiết là sự tốn kém (Aufwand) nhất định chẳng hạn như sử dụng hóa chất để thí nghiệm (Laborchemie) và thế thì phải tốn kém rất nhiều. Vì thế cho nên những quả quyết (Behauptung) được nêu ra (aufstellen) rằng chứng Burnout chỉ họa hoằn (nur selten) xảy ra (vorkommen) và thường bị nhầm lẫn (verwechseln) với sự kiệt sức (Erschöpfung). Hội chứng (Syndrom) Burnout có nhiều cấp độ (Stufe) khác nhau, hầu như chứng trầm cảm (Depression) lúc nào cũng tiềm tàng (enthalten) trong hội chứng Burnout. Nhưng người ta thiếu (fehlen) tiền để chẩn đoán và cho sự điều trị lâu dài (langwierig). Chỉ có một số kiến thức chuyên môn (Fachwissen) đã nêu ra và sự hợp tác (Zusammenarbeit) liên khoa (interdisziplinär) mới có thể có một sự chẩn đoán chính xác chứng Burnout.
Cho nên Viện Chẩn đoán ở München đến nay đã phát huy một phương thức chẩn đoán và điều trị chứng Burnout. Theo ông Platzer: „Trong phương thức của Viện Chẩn đoán München thì chúng tôi đào sâu vào toàn bộ (ganzheitlich) vấn đề (Problematik). Chúng tôi làm việc liên khoa và ghi nhận (einbeziehen) tất cả những câu hỏi từ các ban ngành chuyên môn (Fachbereich) đưa vào sự chẩn đoán cũng như liệu pháp (Therapie) như của các bác sĩ nội khoa (Internisten), thần kinh học (Neurologen) và nội tiết học gia (Endokrinologen), đây chỉ là một số ít được nhắc đến và họ làm việc chặt chẽ (Hand in Hand) với chúng tôi. Trong Viện Chẩn đoán München, một bệnh nhân không chỉ biết đến kết quả chẩn đoán, mà (sondern) còn được hỗ trợ kèm theo (begleiten) có tính cách chuyên nghiệp (professionell) vàđược hướng dẫn (emphatisch) cho đến khi trị lành bệnh (Heilung).
Con đường đến đó còn có khá nhiều sai biệt (sehr verschieden) tùy từng cá nhân (individuell) nên không thể tóm gọn (fassen) trong vài chữ (Worte) để làm câu trả lời chuẩn (Standardantwort) được. Một trung tâm có thẩm quyền (Kompetenzzentrum) như Viện Chẩn đoán München qua cách làm việc (Arbeitsweise) liên khoa, kiến thức chuyên môn và những điều kiện (Vorausetzung) kỹ thuật (technisch) hiện đại nhất (modernste) sẽ là một sự đảm bảo (Garant) những bước tiến (Schritte) đúng đắn cho từng người tìm sự giúp đở (Hilfssuchende).
Nhưng làm thế nào để có thể phòng ngừa (vorbeugen) có hiệu quả (gezielt) được hầu chứng Burnout trước tiên không thể xảy ra? „Một giải pháp (Lösung) cho câu hỏi này đã được các nhà cổ học (Klassiker) La mã (römisch) thực tập (üben) trong câu „Mens sana in corpore sano“ – nghĩa là „tiếng Việt có câu: Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện“ (ein gesunder Geist in einem gesunden Körper) đã thể bày (ausdrücken) quá sáng suốt (klar) và rõ ràng (deutlich) hầu đạt đến (gelangen) sự phòng bệnh (Prävention) tốt nhất. Cho nên mỗi người đều có thể nghĩ rằng họ đang nói chuyện (Gespräche) với con cái (Kinder) qua điện thoại di động (Mobiltelefon) và cùng lúc (gleichzeitig) nhận 3 cú điện thoại (Anruf), đang kiểm (checken)120 cái mail cũng như muốn giải quyết (bearbeiten) và muốn xử lý tất cả lập tức (sofort) cùng lúc đồng thời sự kiện này xảy ra ngay trong lúc lái ô-tô (Auto) trên đường đi (Fahrt) trong giờ cao điểm (Stoßverkehr)! Vậy thì điều gì sẽ xảy ra – họ phải tự hiểu lấy“, ông Platzer nói.
(Độc giả biết tiếng Đức có thể vào trang nhà
www.diagnoseklinik.de tìm hiểu thêm)

Tin và hình glp (Global Press)

Thứ sáu ngày 25.11.2011
Quảng cáo „giá cố định“ về tiền điện có thể gây hiểu lầm– Công ty cung cấp điện phải cho biết những giá cả khác nhau trong đó.

Việc quảng cáo về tiền điện qua khái niệm (Begriff) „giá cố định“ (Festpreis) có thể gây hiểu lầm (irreführend) khi người tiêu thụ (Verbraucher) không được giải thích (aufklären) đầy đủ (unzureichend) về thành phần giá cả (Preisbestandteile) khác nhau (varieable) trong đó. Điều này đã được Tòa án Cao thẩm (Oberlandgericht) Hamm phán quyết qua đơn kiện (Klage) chống một công ty cung cấp năng lượng (Energieversorger) ở Bắc Đức (Norddeutschland). Doanh nghiệp này đã bị một công ty đối đầu (Konkurrenz) ở vùng Ruhrgebiet đòi hỏi (verlangen) phải dẹp đi (unterlassen) khái niệm „giá cố định“ cho một quảng cáo trên mạng (Internetwerbung) về quy chuẩn tiền điện (Stromtarif).
Theo tòa (Gericht), quy chuẩn tiền điện theo giá cố định còn có trong đó 40 phần trăm giá cả khác nhau chẳng hạn như tiền thuế (Steuer) và phụ phí (Umlage) theo đạo luật về Năng lượng tái tạo (Erneuerbare Energie Gesetzt, viết tắc là EEG). Thật ra công ty cung cấp bị kiện (beklagt) cũng đã có chú thích thêm (hinzufügen) „ngôi sao ghi chú“ (Sternchenhinweis) ở đàng sau và bên trên nhóm chữ quảng cáo „giá ncố định“ để nói lên những thay đổi (Änderung) khả thi (möglich) bởi doanh thu (Umsatz) hoặc thuế điện (Stromsteuer), cũng như loại thuế mới và phụ phí theo EEG quy định. Tuy nhiên tòa nhận thấy rằng công ty cung cấp điện bị kiện chưa cho biết (informieren) đầy đủ về thành phần khác nhau trong tổng giá cả (Gesamtpreis). Thế nên nên người tiêu thụ không thể biết trước được rằng ít hơn 60 phần trăm quy chuẩn điện là cố định, còn những thứ khác thì có sai khác nhau.

Tin và hình AFP

Thứ năm ngày 24.11.2011
Hãng xe Suzuki chấm dứt liên hiệp với hãng xe VW Đức – Hoà giải viên (Schlichter) sẽ xúc tiến việc hoàn trả cổ phiếu.

Sau nhiều tháng tranh cãi (Streit) của các doanh nghiệp (Unternehmen), hãng xe (Autobauer) Suzuki Nhật bản đã lên tiếng chấm dứt (beenden) sự liên hiệp (Allianz) của họ với hãng xe Volkswagen (VW) của Đức. „Hãng Suzuki chấm dứt sự đối tác (Partnerschaft) với VW“, ông Osamu Suzuki, giám đốc đại công ty (Konzernchef) nói. Hãnh xe Nhật sẽ điều động (einschalten) một hòa giải viên để tiến đến (erreichen) việc hoàn trả (Rückgabe) cổ phiếu (Aktien) của họ từ hãng VW. „Tôi thất vọng (enttäuscht) rằng chúng tôi phải đi đến bước (Schritt) này, vì hành vi (Handeln) của VW không cho phép chúng tôi có cách chọn lựa (Wahl) khác“, ông Suzuki nói. VW có tầm 20 phần trăm phần hùn (Anteil) của Suzuki.
Cả hai hãng chế tạo xe đã liên hiệp nhau trong năm 2009. Hai nhà sản xuất (Hersteller) muốn cùng nhau (gemeinsam) chế tạo (bauen) loại xe mới cho các quốc gia chậm phát triển (Entwicklungsländer) và đang chuyển hoá (Schwellenländer) cũng như loại xe thích nghi môi trường (umweltfreundlich) cho khách hàng (Kunde) trong các quốc gia kỹ nghệ (Industriestaat). Trong tháng bảy (Juli), hãng VW thông báo (mitteilen) rằng tính cách đối tác đã tiến triển „chậm hơn (langsamer) như mong đợi (als erwartet)“. Vì thế đại công ty này muốn đánh giá (bewerten) lại (neu) sự hợp tác (Kooperation). Hãng xe tại Wolfsburg cáo buộc (vorwerfen) đối tác Nhật bản vì họ đã dùng loại động cơ dầu cặn (Dieselmotor) của hãng xe Fiat thuộc Ý Đại Lợi không được phép (unzulässig).
Mặc khác, hãng Suzuki cáo buộc hãng xe Đức về việc phá bỏ hợp đồng (Vertragsbruch). Vì hãng VW không dành cho hãng xe Nhật theo quy trình (Zuge) liên hiệp việc tiếp cận (Zugang) kỹ thuật (Technologie) thích nghi môi trường của VW - chẳng hạn loại động cơ Hybrid (là loại động cơ dùng nhiều nhiên liệu hỗn hợp)

Tin và hình AFP

Thứ tư ngày 23.11.2011
Tiền đóng bảo hiểm hưu trí sang năm xuống còn 19,6 phần trăm.

Tiền đóng bảo hiểm hưu trí (Rentenbeitrag) sang năm (Jahreswechsel) sẽ hạ xuống (sinken). Nội các Đức (Bundeskabinett) đã quyết định thông qua (beschliessen) hôm thứ tư (Mittwoch) tuần trước tại Berlin việc hạ thấp (Absenkung) tiền đóng bảo hiểm hưu trí hiện nay (derzeit) là 19,9 phần trăm xuống còn 19,6 phần trăm kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) năm 2012, theo sự loan báo (bekanntmachen) của Bộ Lao động Đức (Bundesarbeitsministerium) tại Berlin. Điều này tương đương (entsprechen) một sự giảm gánh nặng (Entlastung) khoảng 2,6 tỷ Euro cho nhân viên (Beschäftigte) và người lao động (Arbeitnehmer). Đối với năm tới, dự tính (erwarten) đồng thời sẽ có „tăng hưu đáng lưu ý (merklich), bộ này giải thích (erklären). Sự tiến triển hưu trí (Rentenentwicklung) là một „ giấy chứng minh (Ausweis) tình trạng khả quan của nền kinh tế và thị trường lao động (Arbeitsmarkt) đã vượt qua cơn khủng hoảng (Krise) như thế nào“, bà Ursula von der Leyen (CDU), bộ trưởng lao động (Arbeitsministerin) giải thích.

Tin AFP.

Thứ ba ngày 22.11.2011
Đảng SPD chỉ trích những dự kế về lương tối thiểu của đảng CDU – Ông Gabriel nói rằng bà Merkel chỉ nhắm đến chiến lược chứ không quan tâm đến con người.

Đảng SPD đã chỉ trích (kritisieren) thậm tệ (scharf) những dự kế (Plan) của đảng CDU liên quan đến lương tối thiểu (Mindestlohn).  „Theo những ý định (Willen) của CDU thì không có gì thay đổi (ändern) cho hàng triệu người dân Đức đang làm việc toàn giờ (Vollzeit), nhưng rốt cuộc (anschließend) họ cũng phải lê lết đến cơ quan xã hội (Sozialamt) vì tiền lương quá ít (zu wenig) không đủ sống“, ông Sigmar Gabriel, chủ tịch đảng SDP, đã phát biểu hôm thứ hai tại Berlin. Ông cáo buộc (vorwerfen) bà Angela Merkel (CDU), Thủ tướng Đức rằng bà ấy chỉ nhắm đến „chiến luợc (Taktik) chứ không quan tâm đến con người (Menschen)“. Còn ông Hubertus Heil, phó chủ tịch đảng khối SPD trong quốc hội thì nói đến một loại „lương tối thiểu giả hiệu (Placebo“.
Sự phê phán (Kritik) của đảng SPD đặc biệt nhắm đến việc phản bác mức lương (Lohngrenze) theo dự tính của đảng CDU chỉ có giá trị (gelten) cho những ngành (Bereiche) không có quy định (Regelung) theo quy chuẩn lương bổng (tariflich). „Như thế một thiếu nữ hớt tóc (Friseurin) ở Thüringen vẫn tiếp nhận (beziehen) đồng lương chết đói (Hungerlohn)“, bà Andrea Nahles, Tổng thư ký (Generalsekretär) đảng SPD, nói sau hội nghị của ban chấp hành đảng (Parteipräsidium). Những dự kế của đảng CDU sẽ mời mọc (einladen) các chủ nhân (Arbeitgerber) ký kết (abschließen) một loại hợp đồng quy chuẩn lương bổng (Tarifabschluss) „với công đoàn (Gewerkschaft) dễ duôi (gefällig)“. Điều này đặc biệt nhận thấy rõ rệt từ cái gọi là (sogenannt) các công đoàn Cơ đốc giáo (christliche Gewerkschaft), họ được biết (bekannt) đến qua các hợp đồng quy chuẩn lương bổng rẻ mạt.
Bà Nahles chỉ trích những dự kế của đảng CDU đã nhắm đến mức lương khác biệt tùy theo ngành và khu vực, đồng thời nó quá quan liêu (bürokratisch). „Dù vậy chính quyền này cũng không thể thực hiện được đồng lương tối thiểu“, bà nói thêm nhắm đến sự phản kháng (Widerstand) của đảng FDP. Những dự kế này đã được đại hội đảng CDU tại Leipzig thông qua. Còn đảng SPD cũng như đảng Grüne và Tả khuynh ngược lại đòi hỏi phải có đồng lương tối thiểu do luật định (gesetzlich) cho tất cả công nhân (Arbeitnehmer).
Đảng trưởng SPD, ông Sigmar Gabriel, đã lên tiếng bác bỏ (Absage) rõ ràng sẽ không có một liên minh (Bündnis) đen-đỏ (Union/SPD) ở cấp liên bang (Bundesebene). „Chúng tôi sẽ đi đến một sự phân minh (Auseinandersetzung) cụ thể về đường hướng (Richtung)“, ông Gabriel nói với „Spiegel Online“. Vị trưởng đảng SPD phản chống (widersprechen) những lấn cấn (Spekulation) đã được đảng CDU bày ra cho một định vị mới (Neupositionierung) của họ về đề mục (Thema) lương tối thiểu khi họ muốn tiến gần đến (annähern) đảng SPD. „Đồng lương tối thiểu kiểu bà Merkel không có bản chất (substanzlos)“, ông Gabriel phê phán. Theo những quan điểm (Vorstellung) của đảng CDU thì „trong tương lai chỉ có thể còn là đồng lương đói nghèo (Armutslohn)“.

Tin và hình AFP

Thứ hai ngày 21.1.2011
Sự phát triển kinh tế trong khu vực EU gần như dậm chân tại chỗ.


Nền kinh tế ở Âu châu trong quý (Quartal) thứ ba hầu như không tiến triển gì. Sản phẩm nội địa (Bruttoinlandprodukt, viết tắc là BIP) tăng giữa tháng bảy (Juli) và tháng chín (September) so với quý trước (Vorquartal) khoảng 0,2 phần trăm, theo Cơ quan Thống kê (Statistikbehörde) „Eurostat“ của Âu châu phổ biến (bekanntgeben) hôm thứ ba (Dienstag) dựa trên cơ sở (Grundlage) đoán nhanh (Schnellschätzung).
Trong khu vực Âu châu (Euroraum), nền kinh tế cũng tăng 0,2 phần trăm. So với quý ba năm ngoái, BIP tăng theo mùa (Saison) trong khu vực Âu châu cũng như trong toàn khối EU khoảng 1,4 phần trăm.

Tin và hình dapd

Chủ nhật ngày 20.11.2011
Giảm chi phí sưởi đốt mà không lo bị lạnh rét.

Nếu sưởi (heizen) quá nhiều (zu viel), ít thông gió (lüften) và cách nhiệt (isolieren) kém (schlecht) phải tính đến việc trả phí tổn sưởi đốt (Heizkosten) cao. Tuy nhiên với một vài thủ thuật (Trick) đơn giản (einfach) cũng có thể giảm bớt (redukzieren) việc sử dụng nhiệt (Wärmeverbrauch) mà căn hộ (Wohnung) vẫn không bị mát lạnh (auskühlen).
Cổng trang nhà bất động sản (Immobilienportal) „immowelt.de“ đã liệt kê (zusammenstellen) một vài mẹo tiết kiệm (Spartipps) như sau: Nếu hạ (absenken) nhiệt độ (Temperatur) xuống khoảng 1 độ (Grad) sẽ tiết kiệm đến sáu phần trăm tiền sưởi trong năm. Trong phòng khách (Wohnzimmer) chỉ cần (ausreichen) chừng 20 đến 22 độ thì tạo (schaffen) được không khí (Atmosphäre) dễ chịu (angenehmen). Trong bếp (Küche) chỉ cần 18 độ. Ngay trong phòng ngủ (Schlafzimmer) có thể chọn độ sưởi (Heizstufe) thấp nhất (kleinste). Ai ban ngày (tagsüber) không ở nhà, thì nên hạ nhiệt độ trong khoảng thời gian này xuống. Gắn một đồng hồ canh giờ (Zeitschaltuhr) để điều chỉnh nhiệt độ (Temperaturregler) rất hữu ích (hilfreich).
Để các phòng (Raum) có thể sưởi ấm (aufheizen) tốt và khí ẩm ướt (Feuchtigkeit) có thể thoát ra ngoài được, ta nên thường xuyên (regelmäßig) thay đổi gió trong nhà (Luftaustausch). Gọi là lớn gió (Stoßluft), nghĩa là các cửa sổ (Fenster) mở (komplett) toàn bộ (komplett). Trong mùa đông (Winter) tốt nhất là thực hiện cách trên hai đến ba lần trong ngày và mỗi lần độ chừng năm đến 10 phút (Minute). Quan trọng: Lò sưởi (Heizung) phải tắt (abstellen) trước khi thông gió (lüften).
Để hơi ấm (Wärme) sau khi thông gió trở lại trong phòng, tất cả cửa sổ và cửa ra vào (Tür) phải đóng kín (dicht). Những chỗ (Stelle) hở có gió len vào (luftdurchlässig) ở cửa sổ có thể bịt kín lại (abdichten) bằng một loại đệm làm bằng chất sốp (Schaumstoffdichtung) có thể tự dán được (selbstklebend). Đối với các cửa sổ, một cái miếng đệm như cái bàn chải (Dichtungsbürste) rất thích hợp để che kín (verschließen) những khe hở (Spalt) giữa cánh cửa ra vào và sàn nhà (Fußboden).
Nếu trong lò sưởi (Heizkörper) có nhiều không khí thì nước nóng (Heizwasser) không thể phân phối (verteilen) tốt (optimal) được và nó cần nhiều thời gian để sưởi ấm (aufheizen) những căn phòng. Vì thế các lò sưởi trước khi mùa đông bắt đầu (Wintereinbruch) cần phải xả hơi (entlüften) và kiểm tra (überprüfen) lại áp suất nước (Wasserdruck) ở dàn sưởi (Heizanlage). Nếu áp suất quá thấp (zu niedrig), phải kịp thời (rechtzeitig) châm thêm (nachfüllen) nước nóng vào.

Tin và hình dapd

Thứ bảy ngày 19.11.2011
Phí tổn nằm viện tăng tùy trường hợp có thể lên đến 3.854 Euro

Trong năm 2010 có tổng cộng 79,7 tỷ Euro chi phí (Aufwendung) cho bệnh viện (Krankenhaus). Như thế, chi phí cho mỗi bệnh nhân (Patient) được điều trị trong nhà thương (stationär behandeln) trung bình là 3.854 Euro, điều này có nghĩa là một sự gia tăng (Steigerung) khoảng 2 phần trăm so với năm 2009 (3.772 Euro). Theo Sở Thống kê Đức (Statisches Bundesamt), tổng cộng (insgesamt) trong năm ngoái có khoảng 18 triệu người được điều trị trong nhà thương.
Phí tổn bệnh viện (Krankenhauskosten) được tính chung từ chi phí nhân viên (Personalkosten) ở mức 47,4 tỷ Euro (+3,4 phần trăm so với năm 2009), chi phí vật chất (Sachkosten) khoảng 30,2 tỷ Euro (+3,3 phần trăm) cũng như phí tổn cho quỹ huấn nghệ (Ausbildungsfond) khoảng 1,0 tỷ Euro (+1,7 phần trăm). Ngoài ra còn thêm 1,1 tỷ Euro tiền thuế, tiền lời (Zinsen) và những chi phí tương tự (ähnlich) như phí tổn cho các cơ sở huấn nghệ (Ausbildungsstätten). Trong số tổng chi (Gesamtaufwendung) có những khoản chi tiêu (Ausgabe) không thuộc bệnh viện (nichtstationär) lên đến 10,3 tỷ Euro. Chi phí này bao gồm các chi tiêu khác ngoài bệnh viện (Ambulanz) cũng như cho các công trình nghiên cứu (Forschung) khoa học và giảng dạy (Lehre). Những phí tổn hoàn toàn cho việc chăm nom người nằm viện ở mức 69,5 tỷ Euro.
Phí tổn trung bình cho một bệnh nhân nằm viện điều trị sai biệt khá lớn trong từng tiểu bang. Thấp nhất là tiểu bang Mecklenburg – Vorpommern với 3.516 Euro mỗi trường hợp, cao nhất tại Bremen với 4.311 Euro.

Tin của Nizamogou
Hình glp (Global Press)

Thứ sáu ngày 18.11.2011
Bị căng thẳng thần kinh lúc mang thai có ảnh hưởng đến sự nghiện ngập của trẻ.

Sự căng thẳng thần kinh (Stress) lúc mang thai (Schwangerschaft) theo một công trình khảo sát (Studien) có thể dẫn đến (führen) việc trẻ sơ sinh (Neugeborene) dễ bị nghiện ngập (suchtanfällig) sau này (spatter). Các nghiên cứu gia (Forscher) người Bồ Đào Nha (Portugal) đã có kết quả (Ergebnis) trong những cuộc thử nghiệm (Versuch) chuột (Ratten). Tuy nhiên ảnh hưởng (Einfluss) ở loài thú (Tier) cũng có thể đảo ngược lại (wieder rückgängig machen) được, theo tờ chuyên ngành (Fachblatt) “Molecular Psychiatry” (Tâm thần phân tử).
Để kích thích (simulieren) chuột cái (Rattenweibchen) có sự căng thẳng tinh thần trước khi sanh (Vorgeburt), đội ngủ (Team) của Ana João Rodrigues và Nuno Sousa thuộc đại học (Universität) Minho tại Braga đã tiêm (injizieren) vào chúng một loại hóc-môn gây căng thẳng (Stress-Hormon) – Glukokortikoide. Những con chuột trước khi sanh đã bị tiêm chất hóc môn này cho thấy (aufweisen) có những cấu trúc bất thường ở não bộ (Gehirnanomalien) so với các loài khác nghiện ma túy (Drogensüchtigen). Đồng thời chúng dễ nghiện ngập hơn chẳng hạn ghiền thuốc phiện (Opiate) và rượu (Alkohol).
Qua việc cho uống (verabreichen) chất hóa học dẫn truyền thần kinh (Neurotransmittler) Dopamin, còn được biết là một loại “hóc-môn hạnh phúc” (Glückshormon), những cấu trúc bất thường ấy (Anomalien) có hoán chuyển ngược lại, các nghiên cứu gia giải thích (erläutern) trong một thông báo (Mitteilung) của đại học. Ngay cả hành vi nghiện nghập (Suchtverhalten) cũng có thể hoán chuyển (reversible) được. “Đây là một kết quả đáng ngạc nhiên (erstaunlich), vì từ đó có thể kết luận rằng qua cách sử dụng dược phẩm bình thường có thể khôi phục (Wiederherstellung) mức độ (Niveau) Dopamin và con người có khả năng trị liệu (behandeln) chứng nghiện ma túy (Drogensucht). Và, điều còn quan trọng hơn (wichtiger) là sự phòng ngừa (vorbeugen) tiềm năng (potentiell) nghiện ma túy ở những người dễ mắc phải có khả quan hơn”, ông Rodrigues trích giải. Nữ nghiên cứu gia này cho thấy rằng “dĩ nhiên con đường phía trước vẫn còn dài”.
Các phương pháp (Methode) khôi phục mức độ Dopamin trong vài trường hợp đã được áp dụng (einsetzen) để điều trị (Behandlung) sự nghiện ngập (Abhängigkeit) Kokain – nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nào cụ thể (eindeutig). Điều này còn tùy thuộc vào thời gian (Dauer) điều trị hoặc có thể ở liều lượng (Dosierung) thuốc cho uống. Ở công trình nghiên cứu, những người Bồ Đào Nha đã khảo nghiệm (ermitteln) được rằng những con chuột được điều trị trong vòng ba ngày đã tái phát hành vi nghiện ngập sau đó ba tuần. Nếu sự điều trị kéo dài ba tuần thì không xảy ra hiện trạng này.
Vì thế cho nên cần phát huy (entwickeln) những quy chuẩn và thử nghiệm (testen) mới cho người nghiện ma túy, các nghiên cứu gia phát biểu. Những công trình khảo sát lớn hơn, chẳng hạn tình trạng căng thẳng tinh thần trước khi sanh có tác dụng (auswirken) nào đối với cuộc sống của bé (Baby) sau này, hiện nay đang được tiến hành (durchführen) tại Gia Nã Đại (Canada).
Ở dự án (Projekt) “Ice Storm”, sự phát triển (Entwicklung) trẻ em được theo dõi (verfolgen) qua nhiều năm. Những trẻ này được sanh ra khi cơn bảo băng tuyết (Eissturm) hoành hành trong tháng giêng (Januar) 1998 tại Quebec. Ngay giữa mùa đông (Winter) ấy đã có hàng triệu người sống cả tuần lễ (wochenlang) bị cúp điện (Stromausfall) và mức độ căng thẳng thần kinh của những bà mẹ sắp sanh đã lên mức độ cao.
Những bất thường của não bộ ở những trẻ em này nay đã 13 tuổi được phát hiện và trong vài năm nữa thì mối tương quan (Zusammenhang) giữa sự căng thẳng trước khi sanh và sự nghiện ngập có thể được phơi bày.
Mã số tài liệu chuyên ngành (Fachartikelnummer) DOI: 10.1038/mp.2011.126

Nguồn DPA

Thứ năm ngày 17.11.2011
Các thông thái gia về kinh tế lo ngại về hiệu ứng Domino của cơn khủng hoảng – Nữ giáo sư đại học, bà Weder di Mauro, cảnh báo trước sự sụp đổ đồng Euro.

Bà Beatrice Weder di Mauro, nữ thông thái về kinh tế (Wirtschaftsweise) đã cảnh báo trước sự leo thang (Eskalation) toàn cầu (global) liên quan đến cơn khủng hoảng nợ nần (Schuldenkrise) của đồng Euro. „Nguy cơ (Gefahr) trước mắt (unmittelbar) nằm trong khu vực đồng Euro (Euro-Zone), nhưng nó cũng có thể lan (ausstrahlen) ra cả thế giới (Welt)“, bà nói với tờ „Süddeutsche Zeitung“. „Một sức bật lui (Rückschlag) toàn cầu là điều có thể“ Một sự leo thang chỉ có thể ngăn chận (aufhalten) được khi các chính phủ Âu châu còn biết nhân quả hơn (konzequenter) trong việc giảm nợ (Schuldenabbau) và sớm (rasch) thực thi (einleiten) những cuộc cải cách (Reform). Một sự giảm nợ quá cứng nhắt (radikal) không phải là phương sách (alternativlos), nữ thông thái về kinh tế phát biểu.
Tuy nhiên việc giảm nợ sẽ còn kéo dài hơn nhiều thập niên (Jahrzehnte), bà Weder die Mauro nói với tờ báo ấy. Mục đích (Ziel) nhắm đến (anstreben) là tất cả các quốc gia sử dụng đồng Euro (Euro-Länder) trong khoảng 20 năm sẽ đạt đến (erreichen) mức nợ (Schuldenstand) khoảng 60 phần trăm năng suất kinh tế (Wirtschaftsleistung) của họ. Điều này tương đương (entsprechen) những tiêu chuẩn (Kriterien) của hợp đồng Maastricht đặt ra. Liên quan đến những cảnh tượng (Szenarien) đối việc có thể rút lui (Ausstieg) của Hy Lạp (Griechenland) ra khỏi khu vực Euro (Eurozone), nữ giáo sư đại học (Professorin) đã cảnh báo trước sự sụp đổ (Zerfall) đồng Euro (Währungsunion). Việc tái thực hiện (Wiedereinführung) mang ý nghĩa chẳng hạn như tiền cổ Hy Lạp (Drachme), nghĩa là tất cả nợ nần có dính dáng đến đồng Euro sẽ cao hơn và không thể hoàn trả (zurückzahlen) được. „Nhà nước, hệ thống ngân hàng (Banksystem) và nhiều bộ phận nhánh doanh nghiệp (Unternehmenssektor) do đó sẽ bị phá sản (bankrott)“.

Tin và hình AFP

Thứ tư ngày 16.11.2011
Số lượng công nhân cao tuổi tăng đáng kể - Tầm một phần tư người Đức ở tuổi 60 vẫn còn lao động.

Số lượng (Zahl) công nhân (Arbeitnehmer) cao tuổi (älter) trong những năm qua đã gia tăng (zunehmen) rõ rệt (deutlich). Chỉ số lao động (Beschäftigungsquote) ở nhóm tuổi (Altergruppe) 60 đến 64 giữa năm 2000 và 2010 đã tăng hơn gấp đôi (verdoppeln). Điều này đã được Tổ chức Kinh tế Thị trường Xã hội Mới (Initiative Neue Soziale Marktwirtschaft, viết tắc là INSM) cho biết (mitteilen) qua sự xác tín của một công trình khảo sát (Studie) của Viện (Institut) Kinh tế Đức tại Köln. Ở khúc quanh của thiên niên kỷ (Jahrhundertwende) có 11 phần trăm người trong nhóm tuổi này đã làm việc có đóng bảo hiểm xã hội (sozialversicherungspflichtigt). Mười năm sau đó, chỉ số (Quote) này lên đến 24,6 phần trăm.
Gần một nửa xí nghiệp (Betrieb) dù vậy (außerdem) cho rằng việc lao động trong những năm tới vẫn tiếp tục mang nhiều ý nghĩa đối với người cao tuổi (Ältere). Cũng khoảng chừng ấy (ungefähr) doanh nghiệp (Unternehmen) sẽ quan tâm (berücksichtigen) đến đề mục (Thema) sự lao động của người cao tuổi như là một chính sách nhân viên (Personalpolitik) của họ. Chỉ có bốn phần trăm người được hỏi (Befragte) tin (glauben) ngược lại (gegenüber) rằng ý nghĩa của vụ việc này sẽ lắng xuống (abnehmen).
“Những con số báo hiệu (signalisieren) cho thấy cần có sự thay đổi mô hình (Paradigmenwechsel)“, ông Hubertus Pellengahr, Quản đốc (Geschäftsführer) INSM giải thích (erklären). Những công nhân cao tuổi vẫn được hết sức (dringend) cần dùng (gebrauchen) trong thị trường lao động (Arbeitsmarkt), „họ có khả năng (Fähigkeit) mà những người trẻ (Junge) không có chẳng hạn: kinh nghiệm (Erfahrung), sự bình tĩnh (Ruhe), năng lượng quyết định (Entscheidungskraft)“, ông Pellengahr đánh giá (urteilen) tiếp. Điều này đã được nhiều doanh nghiệp biết nhìn xa (weitsichtig) biết đến.

Tin và hình AFP

Thứ ba ngày 15.11.2011
Bảo hiểm phụ về chăm sóc có thể gây tốn kém cho nhà nước.


Bảo hiểm phụ (Zusatzversicherung) được chính phủ (Bundesregierung) dự định cho việc chăm sóc (Pflege) có thể gây tổn phí (Kosten) cho người đóng thuế (Steuerzahler) đến một tỷ Euro. Theo sự tính toán (Berechung) của Bộ Y tế Đức (Bundesgesundheitsministerium), một khoản tiền (Betrag) có thể lên đến con số (Größenordnung) được trưng dụng khi tất cả những người có quyền lợi (Berechtigte) ký kết (abschließen) một hợp đồng (Vertrag) tương tự (entsprechend) theo dạng hỗ trợ (Förderung) Riester cho việc chăm sóc, tạp chí tin tức (Nachrichtenmagazin) „Spiegel“ tại Hamburg tường thuật (berichten) trong số phát hành (Ausgabe) mới nhất. Những khoản tiền đóng để được hưởng tiền hưu (Rente) theo dạng Riester sẽ được nhà nước tài trợ (bezuschüssen) – cho nên người đóng thuế phải nộp một số tiền tương đương cho bảo hiểm chăm sóc (Pflegeversicherung) Riester.
Liên minh cầm quyền (Koalition) đen – vàng đã quyết định (entscheiden) thực thi (einführen) một loại bảo hiểm phụ cho việc chăm sóc (Pflegezusatzversicherung) tự nguyện được nhà nước tài trợ tương ưng (analog) tiền hưu Riester. Được hưởng quyền lợi (Berechtigung) để được tài trợ Riester lúc về hưu hiện nay có khoảng 40 triệu người dân Đức (Bundesbürger). Theo bài viết, tài chánh trong quỹ chăm sóc (Pflegekasse) cho đến năm nay đã phát triển khả quan (positiv). Với sự thu nhập gia tăng (Einnahmeanstieg) đáng kể (deutlich) hơn hai phần trăm và kém chi tiêu dưới ba phần trăm, quỹ này có thặng dư (Überschuss) chút ít (geringfügig), điều này đã được nêu trong bản báo cáo (bericht) của bộ gửi đến Ủy ban Y tế (Gesundheitsausschuss) của quốc hội.

Tin và hình AFP

Thứ hai ngày 14.11.2011
Liên hiệp Cơ đốc trong quốc hội kêu gọi kiểm soát cụ thể những ủng hộ viên bóng đá có vấn đề.

Ngay (unmittelbar) trước hội nghị thượng đỉnh (Gipfel) về bóng đá liên quan sự bạo hành của ủng hộ viên (Fangewalt) diễn ra trong ngày hôm nay thứ hai (Montag), liên hiệp Cơ đốc (Union= CDU/CSU) trong quốc hội (Bundestag) đã kêu gọi (fordern) cảnh sát (Polizei) các tiểu bang (Bundesländer) hãy có sự kiểm soát (Kontrolle) cụ thể đối với những ủng hộ viên có vấn đề (Problemfans). Trong một cuộc nói chuyện (Gespräch) với nhật báo „Neue Osnabrücker Zeitung“ số phát hành ngày thứ hai (Montagsausgabe), ông Wolfgang Bosbach (CDU), Chủ tịch Ủy ban Nội chính (Innenausschuss) nói rằng: „Sự bạo hành của ủng hộ viên ngày càng gia tăng (zunehmen) là một sự thách thức (Herausforderung), nên các hội bóng đá (Fussballverein) và nhà nước (Staat) phải cùng phối hợp nhau (gemeinsam) để đối ứng (reagieren).“
Việc cấm vào sân vận động (Stadionverbot) của các hội bóng chưa đủ hỗ trợ gì, khi thành phần côn đồ (Rowdys) vẫn tiếp tục đấm đá (prügeln) phía ngoài (außerhalb) vận động trường (Arena). „Ủng hộ viên bị cấm vào sân vận động phải có những biện pháp cụ thể hơn để đối phó chứ không chỉ ngăn cản (fernhalten) không cho họ vào xem các trận bóng đá (Fussballspiel), chẳng hạn họ phải có bổn phận khai báo (Meldepflich) trong các ngày có đấu bóng (Spieltag) và trực tiếp nói chuyện với các thành phần nguy hiểm (Gefähdere)“, ông Bosbach nói. Thành phần phá phách (Chaoten) trong số cảm tình viên bóng đá (Fußballanhänger) vì thế phải bị nhà chức trách (Behörde) theo sát kiểm soát.

Tin và hình dapd

Thứ sáu ngày 11.11.2011
Hơn 12.000 công nhân kỹ nghệ kim loại đình công.

Có hơn 12.000 công nhân (Beschäftigte) kỹ nghệ kim loại (Stahlindustrie) Tây Bắc (Nordwest), theo nguồn tin của Công đoàn (Gewerkschaft), đã đình công vào sáng thứ năm (Donnerstagmorgen).
Qua cuộc đình công cảnh báo (Warnstreik) này, công đoàn muốn tạo áp lực (Druck) đối với chủ nhân (Arbeitgeber) trong vụ tranh cãi về lương quy chuẩn (Tarifstreit) của kỹ nghệ kim loại khu vực Tây Bắc. Công đoàn Kim loại IG yêu cầu (fordern) tăng lương bảy phần trăm cho khoảng 75.000 công nhân trong các tiểu bang Nordrhein-Westfallen (NRW), Niedersachsen và Bremen cũng như việc tiếp nhận (Übernahme) chắc chắn (fest) các học viên huấn nghệ (Ausgebildete).
Trọng tâm (Schwerpunkt) chiến dịch (Aktion) này đặt tại NRW. Những cuộc đình công cảnh báo sẽ còn diễn ra trong các tiểu bang Niedersachsen, Bremen và tại thành phố Dillenburg (bang Hessen). Với triển vọng thăng tiến (Wachstumsaussicht) của ngành (Branche) và 2,5 đến 3 phần trăm lạm phát (Inflation), các công nhân đã đòi hỏi chính đáng phần đóng góp của họ, ông Oliver Burkhard, Chủ tịch vùng NRW, đã phát biểu trong cuộc biểu dương (Kundgebung) chính tại Duisburg. Tại đó (dort), theo công đoàn IG Metall, có sự tham dự (Teilnahme) của khoảng 3.500 người đình công (Warnstreikende). Tại Salzgitter, công đoàn tính có 2.300 người tham dự. Các chủ nhân hiện chưa đưa ra (vorlegen) một đề nghị cụ thể. Vòng ba cuộc thương thuyết (Verhandlungsrunde) sẽ diễn ra (stattfinden) vào ngày 21 tháng mười một (November) tại Düsseldorf.

Tin và hình dpa: Những công nhân đình công tại Dortmund: Các chủ nhân chưa có một giải pháp nào. Hình của Marius Becker.

Thứ tư ngày 09.11.2011
Hội Thánh Tin Lành nhóm họp Đại Hội Đồng tại Magdeburg.

Bằng một buổi Thánh lễ (Gottesdienst) trong Thánh đường (Dom) của thành phố Magdeburg hôm chủ nhật (Sonntag) vừa qua, phiên họp Đại Hội Đồng (Synode) hàng năm (Jahrestreffen) của Hội Thánh Tin Lành Đức (Evangelische Kirche in Deutschland, viết tắc là EKD) đã bắt đầu (beginnen). Synode sẽ tư vấn (beraten) đến hôm nay thứ tư (Mittwoch) nhiều vấn đề, đặc biệt là làm thế nào để có thể thu phục (gewinnen) được nhiều người trở lại (wieder) với niềm tin (Glauben) Thiên Chúa.
Mặc khác (außerdem), các đại biểu hội Thánh (Kirchenparlamentarier) cũng tư vấn về tài chánh (Finanzen) và giáo luật (Gesetze) của Giáo hội này.
Trong một bài giảng (Predigt), nữ Giám mục tiểu bang (Landesbischöfin) Ilse Junkermann đã cảnh báo (warnen) con người hãy tực đặt mình ở vị trí (Stelle) của Chúa (Gott) và đừng đánh mất (verlieren) mọi hỗ trợ (Halt) đáng tín (verlässlich). Cơn khủng hoảng nợ nần (Schuldenkrise) cho thấy (zeigen) làm thế nào để nhiều quốc gia sống (leben) vượt (über) khả năng của họ mà vẫn còn nhắm đến sự thăng tiến vô hạn (grenzenlos). Bà Junkermann công nhận (anerkennen) và đề cao (hervorheben) rằng nền chính trị trong tình trạng (Situation) hiện nay hãy đặt quyền lợi (Interesse) của cộng đồng (Gemeinschaft) lên trên quyền lợi của từng cá nhân (Einzel). Hơn nữa, câu hỏi được đặt ra là: „Ai được cứu vớt (retten) – và ai không được?“
Phiên họp (Tagung) Synode có sự tham dự 126 đại biểu giáo hội do 22 giáo hội tiểu bang gửi đến (entsandten). Họ đại diện (vertreten) tầm 24 triệu tín hữu Tin Lành tại Đức.

Tin và hình dpa: Bên ngoài phiên họp Synode của EKD, các nhân viên giáo hội (Kirchenmitarbeiter) tại Magdeburg đã biểu tình (demonstrieren) đòi quyền đình công (Streikrecht). Hình tư liệu của Jens Wolf.

Thứ ba ngày 08.11.2011
Việc triển khai mạng lưới trì trệ bóp nghẹt việc sản xuất năng lực gió.

Vì tình trạng tồi tệ của mạng điện (Stromnetz) nên nhiều trang trại gió (Windpark) tại Đức, theo kết quả một công trình khảo sát (Studie), đã phải ngưng hoạt động lúc thời tiết có nhiều gió. Giữa năm 2009 và 2010, mức độ giảm (Drosselung) tăng gấp đôi (verdoppeln), tờ „Financial Times Deutschland“ (Tài chánh Đức thời báo) số phát hành hôm thứ hai (Montagsausgabe) đã đăng tải (berichten) qua sự xác tín của sự phân tích (Analyse) bởi Liên hội Năng lượng gió (Bundesverband Windenergie).
Sự phát triển (Entwicklung) là hệ quả (resultieren) từ sự triển khai (Ausbau) nhanh chóng (rasant) sức gió (Windkraf) và đồng thời sự phát triển trì trệ (schleppend) của mạng mưới (Netz) này. Bản nghiên cứu cho rằng trong năm 2010 sẽ cự mất mát (Ausfall) lên đến 150 Gigawatt giờ (Stunde). Đặc biệt (besonders) những dàn (Anlage) ở miến Bắc (Norden) thường (häufig) bị tắt (abschalten).

Tin và hình dapd

Thứ hai ngày 07.11.2011
Ông Wulff yêu cầu quay lại sự thăng tiến vững bền lâu dài.

Cơn khủng hoảng tài chánh hiện nay theo dự đoán (Einschätzung) của ông Christian Wulff, Tổng thống Đức (Bundespräsident) không chỉ hoàn toàn (rein) là cơn khủng hoảng (Krise) đồng Euro. Vấn đề này có liên quan nhiều đến cơn khủng hoảng ngân hàng (Bankenkrise) và sự khủng hoảng nợ nần của nhà nước (Staatsschuldenkrise), ông Wulff nói trên đài phát thanh Văn hóa Đức (Deutschlandsradio Kultur) hôm thứ bảy (Samstag). Việc thăng tiến (Wachstum) đã được tài trợ (finnazieren) từ nợ nần (Schulden). Vì thế phải chấm dứt đường lối chính trị gây gánh nặng cho những thế hệ (Generation) sắp tới. Cho nên cần có „sự quay lại (Kehrtwende) một ngân sách (Haushalt) và nền kinh tế (Wirtschaft) vững bền lâu dài (nachhaltig) hơn“.
Trong tương quan (Zusammenhang) này, ông Wulff đã phát biểu trong một cuộc thảo luận (Disskussion) về đề tài „thăng tiến có phẩm chất (qualitativ)“, ở đó sự thăng tiến phải được tách ra khỏi (entkoppeln) việc tiêu dùng tài nguyên (Ressourcenverbrauch). Đời sống (Leben), hạnh phúc (Glück) và sự hài lòng (Zufriedenheit) phải được đánh giá (bewerten) một cách khác (anders) chứ không chỉ là tỷ lệ thăng tiến (Wachstumsrate) truyền thống (traditionell) dựa vào sản phẩm quốc nội (Bruttoinlandprodukt), vị nguyên thủ quốc gia (Staatsoberhaupt) đã lên tiếng cảnh báo (mahnen) như vậy.

Tin và hình dapd

Chủ nhật ngày 06.11.2011
Nhiều gia đình có con cái ta thán bị áp lực của thời gian! – Họ đề nghị nên có sự hòa điệu giữa công ăn việc làm và thời gian gửi trẻ.


Hơn 40 phần trăm phụ huynh (Eltern) có trẻ dưới tuổi thành niên (minderjährige Kinder) theo lời tự thuật (Schilderung) đã bị ảnh hưởng bởi áp lực của thời gian (Zeitdruck). Điều này trích từ bản báo cáo gia đình (Familienbericht) được trao (übergeben) cho bà Kristina Schröder (CDU), Bộ trưởng Bộ Gia đình Đức (Bundesfamilienministerin) tại Berlin. 63 phần trăm người cha (Vater) và 37 phần trăm người mẹ (Mutter) cho biết (angeben) rằng họ có quá ít (zu wenig) thì giờ cho con cái của họ. Đối với những bà mẹ sống một mình nuôi con (alleinerziehende Mütter) thì con số lên đến gần một nửa.
Trong bản báo cáo ghi: Một Ủy ban Chuyên gia (Expertenkommission) gồm nhiều thành viên đã yêu cầu (fordern) đường lối chính trị phải có nỗ lực (Anstrengung) nhiều hơn nữa về chính sách thời giờ làm việc (Zeitpolitik) có tính cách thân thiện đối với gia đình (familienfreunlich). Theo đó cần có sự phối hợp (Koordinierung) khả quan hơn giữa giờ lao động (Arbeitszeit) và giờ mở cửa (Öffnungszeit) các vườn trẻ (Kindergarten). Việc quản lý thời gian (Zeitmanagement) của phụ huynh vì thế đã bị giới hạn (einschränken) đáng kể (erheblich) vì trường học (schule) và các cơ sở chăm sóc (Betreuungseinrichung) „không ngó ngàng gì (Rücksicht) đến giờ lao động của phụ huynh“.
Các giám định viên (Sachverständiger) đồng thời cũng yêu cầu (fordern) triển khai (Ausbau) dịch vụ chăm sóc cả ngày (Ganztagsbetreuung) và thời gian nghĩ hè (Ferienschließzeit) ngắn hơn (kürzer). Thật tế số học sinh tiểu học học cả ngày (Ganztagsgrundshüler) giữa năm 2004 và 2008 tăng từ bảy (sieben) lên 19 phần trăm. Ở phía Tây Đức vẫn còn quy định (Regel) học nửa ngày (Halbtagsschule). Việc này và 14 tuần nghĩ hè (Schulferien) gây ra vấn đề nan giải (unlösbar) cho phụ huynh đi làm, các chuyên gia (Expert) đã phê phán (kritisieren) như thế.
Hơn nữa (weiterhin), bản báo cáo gia đình đề nghị (vorschlagen) hãy tận dụng (nutzen) tiềm năng (Potential) của người cao tuổi trong việc hỗ trợ (Unterstützung) gia đình, chẳng hạn qua dịch vụ tự nguyện liên bang (Bundesfreiwilligendienst) hoặc qua các mạng lưới (Netzwerke) cộng đồng (kommunal). Trong khi (während) phụ huynh và trẻ em thường (häufig) bị thiếu thời gian (Zeitknappheit) thì những người đang nghĩ hưu (Ruhestand) trái lại đa phần có dư thời giờ (Zeitreserven).
Đối với nền kinh tế, các chuyên gia yêu cầu có những mẫu giờ làm việc (Arbeitszeitmodelle) thuận lợi cho gia đình nhiều hơn. Công việc bán thời gian (Teilzeitarbeit) với khoảng 30 tiếng được nhiều bà mẹ mong muốn (wünschen) cho đến nay vẫn chưa áp dụng trọn vẹn, trong khi người cha ngược lại (dagegen) thường (oft) muốn làm việc nhiều hơn. Vì thế người cha thường không có nhiều thì gian cho gia đình (Familienzeit).
Bà Schröder bộ trưởng bộ gia đình Đức mô tả thì giờ như là „ngoại tệ chủ yếu“ (Leitwährung) trong chính sách gia đình (Familienpolitik). Sự mong ước (Wunsch) của phụ huynh là có nhiều thời gian cho gia đình được xếp hạng (rangieren) trước xa hơn những mong muốn như có nhiều tiền hoặc sự chăm sóc trẻ (Kinderbetreuung) tốt đẹp hơn. Đồng thời (zugleich) bà đã biện hộ (veretiedigen) cho quyền lợi pháp lý (Rechtsanspruch) về chỗ chăm sóc (Betreuungsplatz) cho trẻ nhỏ (Kleinkinder) kể từ năm 2013. Điều này sẽ „không làm lung lay được“ (rütteln), bà bộ trưởng nói tại Berlin. Theo bản báo cáo gia đình, hiện nay có khoảng 57 phần trăm trẻ em giữa hai và ba tuổi cần có nơi chăm nom, trong khi đó điều này lại là sự mong ước của nhiều phụ huynh - 80 phần trăm.
Bà Manuela Schwesig, phó chủ tịch đảng SPD, chỉ trích (kritisieren) rằng tình trạng chăm non trẻ nhỏ ở nhiều nơi rất „đáng than trách“ (beklagenswert). Chỉ có 11 phần trăm trẻ em dưới ba tuổi có thể được chăm nom cả ngày (Ganztagsbetreuung). Còn bà Renate Künast, chủ tịch đảng khối Grüne, yêu cầu số ngân khoản dự định cho tiền chăm nom (Betreuungsgeld) đang còn tranh cải nên đầu tư (investieren) tốt hơn cho việc kiến tạo các cơ sở chăm nom.
Bà Ingrid Sehrbrock, phó chủ tịch công đoàn lao động Đức (DGB) cảnh báo (anmahnen) về một cuộc tranh luận (Debatte) xã hội rộng rãi liên quan đến giờ lao động. Việc tổ chức giờ làm việc là „chìa khóa (Schlüssel) cho môi trường làm việc (Arbeitswelt) có tính cách thân thiện gia đình hơn“. Thì giờ của ông bà (Großelternzeit) hoặc dịch vụ tự nguyện không thể thay thế (ersetzen) việc triển khai các nơi chăm nom trẻ em.

Tin và hình AFP

Thứ sáu ngày 04.11.2011
Cục Lao động bắt đầu tìm việc cho quân đội Đức.

Cục Lao động Đức (Bundesagentur für Arbeit) tuyên bố (ankündigen) sẽ quan tâm đến vấn đề tìm việc làm (Vermitlungsinitiativ) cho những viên chức (Mitarbeiter) bị ảnh hưởng bởi sự giảm nhân viên (Personalabbau) và đóng cửa các doanh trại (Standortschließung) của quân đội Đức (Bundeswehr). Các Trung tâm Tìm việc (Jobcenter) sẽ liên hệ trực tiếp (direkt) với doanh trại (Kaserne), giới thiệu chỗ làm những gì Cục lao động sẳn có, ông Heinrich Alt, giám đốc Cục Lâo động, nói với tờ „Rheinische Post“ phát hành tại Düsseldorf.
Ông Alt nói rằng, các Ty Lao động (Arbeitsagentur) đã từng có kinh nghiệm (Erfahrung) tốt với các cựu (ehemalig) viên chức của quân đội Đức (Bundeswehrangehörige). „Họ là những người thường có một trình độ học vấn (Ausbildung) và kỹ năng (Qualifikation) tốt (ordentlich)“, ông nói.
Theo quy trình (Zuge) cải tổ quân đội Đức (Bundeswehrreform), theo nguồn tin của thông tấn xã dapd, thì có tầm 30 trong số khoảng 400 vị trí lực lượng quân sự (Streitkraft) sẽ bị đóng cửa.

Tin và hình dapd

Thứ năm ngày 03.11.2011
Nước Đức không phải là một quốc gia dễ bị dòm ngó!

Trong vụ Trojan, ông Hans-Peter Friedrich, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức (Bundesinnenminister), đã lến tiếng trước các cơ quan an ninh (Sicherheitsbehörde). Nhà chính trị đảng CDU nói với „FOCUS-Online“ rằng: „Nước Đức không phải là một quốc gia dễ bị dòm ngó (Schnüffelstaat)“. Vì thế không cần thiết phải thay đổi luật lệ (Gesetzänderung). „Chúng ta có một nền tảng pháp lý (Rechtsgrundlage) hợp hiến (verfassungsgemäß) và toàn hảo (einwandfrei) cho hành động của các cơ quan an ninh“, ông Friedlich nhấn mạnh (betonen). Điều này đã dẫn đến việc phòng chống (bekämpfen) thành công (erfolgreich) những vụ phạm pháp (Kriminalität) và khủng bố (Terrorismus) ở Đức. Những người dân (Bürger) tuân thủ pháp luật sẽ không bị ảnh hưởng bởi những phương pháp giám sát (Überwachungsmethode).

Tin và hình dapd.


Thứ tư ngày 02.11.2011
Dự luật mới của đảng SPD về lưỡng tịch – 50 năm sau Hiệp ước tuyển dụng nhân công với Thổ Nhĩ Kỳ.


50 năm sau khi ký kết (Unterzeichnung) Hiệp ước Tuyển dụng (Anwerberabkommen) nhân công giữa Đức và Thổ (Türkei), đảng SPD xúc tiến việc thực hiện (Einfügrung) lưỡng tịch (doppelte Staatsangehörigkeit) cho người ngoại quốc (Ausländer) sống tại Đức. „Cuối cùng chúng ta cần (brauchen) một đạo luật về lưỡng tịch“, ông Sigmar Gabriel, đảng trưởng SPD, nhấn mạnh (unterstreichen) trên tuần báo „BILD am Sonntag“ (Hình ảnh ngày chủ nhật). „50 năm sau hiệp ước tuyển dụng nhân công là một tín hiệu (Signal) mạnh mẽ của thế kỷ đối với những nam nữ người Thổ sống tại đây.“ Đảng SPD sắp tới (in Kürze) sẽ đệ trình (einbringen) một dự luật (Gesetzentwurf) về đề mục này lên quốc hội (Bundestag) Đức.
Đạo luật sự tuyển chọn nhân công (Arbeiter) Thổ đã được ký kết vào ngày 30 tháng mười (Oktober) năm 1961 tại Bad Gosdesberg là một phường (Stadtteil) tại Bonn ngày nay.
Sự thỏa thuận (Vereinbarung) với Thổ được xem là một bước tiến quan trọng (wichtig) cho sự phát triển (Entwicklung) sau này của nước Đức trở thành một quốc gia nhập cư (Einwanderungsland).
Bà Claudia Roth và ông Cem Özdemir, hai vị chủ tịch đảng Grüne (Xanh) nhắc lại nhân dịp kỷ niệm (Jahrestag) rằng, phép lạ (Wunder) nền kinh tế Đức trong những năm 60 phải tri ân (verdanken) nhiều đến sự hợp tác của những người ngoại quốc gốc Thổ, „họ đã làm những công việc nặng về thể chất (körperlich) và nhờ thế tạo (ermöglichen) được sự tiến bộ (Aufstieg) xã hội cho người dân địa phương (Einheimischen)“. Những năm 50 kể từ ngày ký hiệp ước „đáng tiếc (leider) là sự kiện trình lịch sử (Geschichte) đã bỏ lỡ (verpassen) nhiều cơ hội (chance) để hổ trợ (fördern) sự chung nhau (Miteinander) của những người Đức và không có gốc (Herkunft) Đức trở thành một „chúng ta (wir)“ chung (gemeinsam)“.

Tin và hình AFP.

Thứ ba ngày 01.11.2011
Bệnh vẩy nến và đa sơ cứng – Cơ hội trị lành bệnh tự miễn dịch.

Các nhà nghiên cứu (Forscher) đã tìm ra một cách trị liệu (Therapie) khả thi (möglich) cho bệnh đa sơ cứng (Multiple Sklerose) có tác dụng tiêu cực (negativ) ở bệnh da (Hautkrankheit) vẩy nến (Psoriasis) – và ngược lại. Giờ đây, các nhà khoa học (Wissenschaftler) đã tìm ra lối thoát (Ausweg) khỏi tình trạng tiến thoái lưỡng nan (Dilemma).
Chứng đa sơ cứng và vẩy nến được kể là những căn bệnh thuộc về hệ thống miễn dịch (Autoimmunkrankheit) thông thường nhất (häufigsten). Điều ngạc nhiên (erstaunlich) là cho đến nay hầu hết mọi cách trị liệu giúp được cho hai căn bệnh này thì lại có tác dụng (wirken) hại (schädlich) đối với những cơ phận khác. Mặc dù hai căn bệnh này tương tự (ähnlich) quá trình viêm (Entzündungsvorgang) trong cơ thể (Körper). Các nhà nghiên cứu thuộc bệnh viện đại học (Universitätsklinikum) Tübingen nay đã tìm được một giải pháp (Lösung): Họ đã theo dõi sự vận hành cơ chế hoạt động (Wirkmechanismus) một phân tử (Molekühl) của cơ thể (körpereigen) trong mười (zehn) năm qua và giải thích rằng nó ảnh hưởng (beeinflussen) then chốt (entscheidend) đến hệ thống miễn dịch (Immunabwehr) của tế bào (Zell) gai thần kinh (Dendritten). Phân tử này có tên là Di-Methyl-Fumarat (DMF) và cải thiện (bessern) việc trị liệu bệnh vẩy nến kể cả chứng đa sơ cứng, bằng cách cải hóa (umerziehen) những tế bào gai thần kinh hầu phòng chống (schützen) sự hủy hoại các mô (Gewebezerstörung).
“Chúng tôi cho rằng, đây là cơ sở (Basis) cho sự phát triển (Entwicklung) mới hơn và theo xác xuất (Wahrscheinlichkeit) thì ta có thể chế tạo một loại thuốc (Medikament) an toàn hơn (sicherer) cho con người mắc chứng bệnh tự miễn dịch như vẩy nến hoặc đa sơ cứng. Những dược phẩm đầu tiên liên hệ có thể xuất hiện trên thị trường trong năm nay“, ông Martin Röcken, giám đốc y khoa bệnh viện đại học Tübingen nói.
Công trình khảo cứu (Studie) được công bố (publizieren) trên tạp chí (Zeitschrift) „Journal of Experimental Medicine“.

Tin của hb/idw và nữ biên tập viên (Redaktuerin) Helwi Braunmiller của FOCUS-Online.
Hình của gemeinfrei: Một tế bào gai thần kinh bị cô lập (isolieren).

 
Số lần xem bài viết : 1561700
Hiện có 36 khách Trực tuyến
COPYRIGHT © 2012 VIENGIAC.DE
Karlsruher Strasse 6, 30519 Hannover, Germany.
Email: info@viengiac.de - Tel: 0511 879630 - Fax: 0511 8790963.