VIENGIAC.DE
Cao Tăng Hành Đạo

Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang1) Lệnh Hưu Đại Sư: Đời nhà Tùy, người tỉnh Hà Nam, tính ưa thích tìm cầu Thánh tích, đi khắp hết mọi danh sơn, sau mới đến Đài Sơn, chí mong cầu được hiển linh khai ngộ. Một hôm đang kinh hành trong rừng, bỗng gặp một vị tăng lạ thường. Sư cúi chào hỏi: "Thánh giả, tôi thường nghe Văn Thù đại sĩ trụ nơi Ngũ Đài Sơn này, song tôi đã tìm kiếm khắp nơi, mà không thấy đâu hết." Ông tăng nói: "Làm sao mà ông lại không thấy được ! Do ông cứ mong thấy, thế nên mới không thấy, mà ông không thấy đó, chính cũng là thấy vậy ! Nếu quả thật không thấy, thì đó mới đúng là thấy Văn Thù. Lại như khi ông nhấc chân lên, thì chính là ông dẵm bước lên mặt Văn Thù, ông đưa tay đến đâu, cũng chính là ông tròng bắt lỗ mũi Văn Thù. Làm gì có chỗ nào mà tránh khỏi !" Sư nói: "Nếu thế thì núi sông cây cỏ chính là Văn Thù đó hay sao?" Ông tăng nói: "Nếu bảo núi sông là Văn Thù, thì hóa lại thành có hai Văn Thù. Nếu bảo là không phải, thì đó là vọng ngữ. Điều này quả thật không hề là phải hay không phải. Như ông từ vô thủy đến giờ ở ngay trong con mắt của Văn Thù, mà sống không chết uổng, thăm nước viếng non, có ngờ đâu Văn Thù chỉ ở ngay giữa hai hàng lông mi của ông, đang chuyển đại pháp luân, mà ông đâu từng biết nương vào !" Sư nghe xong phần nào tỉnh ngộ, khể thủ rồi nói tiếp: "Tôi có một căn bệnh làm đạo nghiệp không thành, Đại Đức có thể chữa hộ cho chăng?" Ông tăng nói: "Có loại cỏ vô tâm, tên là Manh Đăng (có nghĩa là mờ mịt không rõ ràng?), ông hãy tìm uống. Uống lâu ngày dần, thời Manh Đăng tức chính là ông, ông tức chính là Manh Đăng, bệnh ấy sẽ không." Sư lùng tìm khắp rừng rậm hang động, không tìm đâu ra cỏ, mới tự ngộ ra rằng: "Nào phải là uống cỏ đâu, mà làm sao cho ta không tâm để diệt phiền não. Lại nữa thân ta chính là một Manh Đăng, vạn vật chính là một Manh Đăng, vốn như huyễn tương tợ có mà thôi, còn bản thể thì vốn lại là không..." Do đó sư thấu tỏ tâm pháp, thoát nhiên không còn trói buộc gì nữa. Năm bảy mươi ba tuổi, ngồi yên ngay ngắn mà ra đi.

 

2) Đạo Tuyên Luật Sư (596 ~ 667): Tức khai Tổ của Nam Sơn Luật Tông, ngài là hậu duệ của Bành Tổ, là con của Sứ Bộ Thượng Thư Tiền Thân. Mẹ mộng thấy mặt nhật xuyên vào bụng mà mang thai. Sinh ra bẩm tính lễ độ, nhìn ngó ngay ngắn, dung cách đàng hoàng... Năm mười tám xuất gia, hai mươi thọ cụ, tinh học về giới luật, nổi tiếng khắp nơi... Toản Linh Ký có ghi: Luật sư thường viếng Thanh Lương, đến Trung Đài, đêm ngồi thiền tịch, bỗng có đồng tử đến đứng hầu bên phải. Ngài hỏi: "Chú bé người ở đâu vậy?" Đáp: "Tôi tên Huyền Sương, vốn là người cõi trời, phụng mệnh Thiên Đế tuần du Thánh cảnh. Nghe thầy đến đây, nên lại hạ hầu." Ngài hỏi: "Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh nói thì núi này chính là nơi trú xứ của Văn Thù. Nay ta thấy gò đồi cây cỏ, y như phàm cư. Vậy cảnh giới của Thánh Nhân có thật có chăng?" Thiên đồng đáp: "Cảnh giới của Đại Thánh, phàm phu và nhị thừa vốn không sao biết được. Tôi là phàm phu, thầy là nhị thừa, nếu lấy tâm tư duy mà tìm cầu cảnh bất tư nghị, ắt là hỏng hết ! Thầy không nghe sao, cũng đồng một pháp mà ba người thấy khác. Chẳng qua là mắt của mỗi người do nghiệp báo riêng mà khác nhau, nên điều nhìn thấy cũng thành khác. Thanh Lương Sơn nếu do mắt tôi thấy thời là màu lưu ly xanh biếc, ở chân núi các Đài, đều là rừng tạp báu, quang minh chiếu sáng, đêm ngày không tận. Song chỗ trụ của Bồ Tát đâu phải tôi có thể thấy nổi." Nói xong biến mất.

 

3) Khuy Cơ Pháp Sư (632 ~ 682): Dòng họ Uất Trì, con nhà quan cách, theo Huyền Trang xuất gia, tham gia dịch thuật mọi Kinh Luận, nhìn qua là thuộc, thông hiểu ý nghĩa. Ngài theo Trang sư thọ Du Già Duy Thức tông chỉ. Pháp Tướng Đại Thừa đến ngài là đại thịnh. Ngài tạo luận có đến cả trăm bộ, thời ấy gọi ngài là "Bách Bộ Luận Sư". Song bẩm tính ngài vẫn xa xỉ, mỗi phen đi đâu, đều mang theo ba xe kinh sách, nữ bộc và đồ ăn uống, người đương thời gọi là "Tam Xa Pháp Sư". Nam Sơn Luật Sư nghiêm trì giới phẩm, tế hành nghiêm ngặt, thấy thái độ xa xỉ của ngài, nên lãnh đạm không thâm giao. Luật Sư thường có thiên thần cúng đồ ăn, ngài đến thăm Luật Sư, ngồi chơi quá ngọ, đồ ăn trời không thấy đến, ngài đi rồi, cõi trời mới xuất hiện. Luật sư trách là đã quá khỏi giờ rồi, cõi trời nói: "Bởi vừa rồi có Bồ Tát đại thừa ở chơi, hộ vệ hết sức nghiêm cẩn, nên không dám vào." Luật Sư nghe nói kinh hãi, hối quá. Năm Vĩnh Long, ngài đến viếng Ngũ Đài Sơn, ở lại một năm. Sau có chiếu gọi về Kinh. Lúc sắp sửa lên đường, có ông tăng lạ từ trong rừng bước ra, ngăn lại nói: "Pháp sư báo duyên đã hết, sao không chấm dứt nơi chốn này, mà còn muốn đi đâu khác?" Ngài nói: "Túc duyên của ta ở nơi kia." Ông tăng lạ nói: "Thầy đi cho bình an, sang năm trở lại gặp." Ngài lên đường, các thầy ở Hoa Nghiêm Tự phân vân hỏi ông tăng lạ kia: "Thầy ấy là ai vậy?" Ông tăng lạ đáp: "Đệ tử của Di Lặc." Nói xong bỏ vào rừng, mọi người chạy theo, thì không thấy đâu nữa. Ngài về đến Trường An, qua sang năm là lâm chung, bảo với môn đồ rằng: "Biển cõi mười phương, là trường du hí, sinh tử niết bàn, đồ chơi giải trí, Đâu Suất vườn xưa, ta sẽ quay về !"

 

4) Thanh Lương Quốc Sư (738 ~ 839): Húy là Trừng Quán, tức tổ thứ tư của Hoa Nghiêm Tông, thân tướng cao lớn, tay thõng dài quá đầu gối, miệng có bốn mươi răng, mắt chiếu sáng trong đêm, ban ngày không bao giờ chớp. Khi mới thọ cụ túc giới xong, ngài tự đặt ra mười điều sau đây để sách tấn mình:

 

1. Thể không bỏ hình tướng sa môn.

2. Tâm không phạm Như Lai giới chế.

3. Ngồi không ngược lại Kinh Pháp Giới

4. Tính không nhiễm tình cảnh trở ngại

5. Chân không dẵm lên bụi chùa ni

6. Sườn không chạm vào giường cư sĩ

7. Mắt không nhìn vải vóc lòe loẹt

8. Lưỡi không nếm thức ăn quá ngọ

9. Tay không lần châu ngọc trong sáng

10. Đêm không lìa y bát bên cạnh


Ngài từng theo các Thiền sư Ngưu Đầu Trung và Kính Sơn Khâm để học hỏi về tông chỉ "tây lai", còn viên chỉ của Hoa Nghiêm thì ngài bẩm thọ lại qua sớ luận của Hiền Thủ Quốc Sư, tức đệ tam tổ của Hoa Nghiêm Tông. Năm đại lịch thứ ba Đại Tông, ngài được triệu vào cung, giữ vai "Nhuận Bút Đại Đức", cùng dịch Kinh với Đại Biện Chính Tam Tạng. Sau đó ngài quay trở về Ngũ Đài, trụ Hoa Nghiêm Tự (nay là Hiển Thông Tự), suy xét sâu xa về Hoa Nghiêm, thấy rằng Thánh Nhân của ba địa, thân tuy trú Phật cảnh, tâm thể nhập chân như, mà nơi hậu đắc trí vẫn khởi thế tục tâm, học các trí thức thế gian. Do đó mà ngài coi xét sâu rộng mọi môn học của thế gian, từ Kinh điển chữ phạn cho đến tứ vi ngũ minh (tứ vi tức tứ vi đà, bốn bộ Kinh Vệ Đà của Bà La Môn giáo; còn ngũ minh gồm:

 

1) thanh minh, tức ngữ ngôn;

2) công xảo minh, tức công nghệ, nghệ thuật, toán lịch;

3) y phương minh, tức y dược, chú thuật;

4) nhân minh, tức luận lý;

5) nội minh, tức học về diệu lý nhân quả), các sách thánh giáo thế điển, không gì không bao quát.

 

Năm kiến trung thứ tư Đức Tông, ngài hạ bút tạo sớ giải Kinh Hoa Nghiêm, song trước tiên cầu nguyện điềm lành linh ứng. Một đêm ngài mộng thấy dáng dấp vàng kim xoay về phía nam sừng sững như núi, ánh sáng uy nghi chiếu rực, nhân đó ngài lấy tay bưng lấy áp vào mặt mình. Khi tỉnh dậy rất vui mừng, coi như đó là điềm đạt được "Quang Minh Biến Chiếu" (tức là nghĩa của danh hiệu Tỳ Lô Già Na). Từ đó ngọn bút cứ thế lưu loát không ngừng, ngài lấy "lý, giải, hành, chứng" phân Hoa Nghiêm ra làm bốn khoa, bao quát hết mọi lý. Ngài thường hay tiếc là các Sớ giải trước giờ không nói hết được ý chỉ của Kinh, chỉ có sự giải thích của Hiền Thủ Quốc Sư là mới vào đến đầu nguồn, thế nên mới ngưỡng mộ mà tông theo. Sớ ngài viết trải bốn năm trời mới hoàn tất. Khi ấy ngài lại nằm mộng thấy thân mình biến thành rồng, đầu ngất ngưởng ở Nam Đài, đuôi cuốn vòng nơi Bắc Đài, uyển chuyển bay lên không, vẩy và râu chiếu sáng ngời, chốc lát biến thành trăm ngàn thân, uốn thân bay lượn, rồi phân tán ra bốn phương mất hút. Đó chính là điềm Kinh Sớ sẽ được lưu hành đi khắp nơi. Lần đầu tiên ngài khai giảng cho chúng, cảm ứng đám mây lớn tụ lại trên không, cuốn lại thành lọng che, hồi lâu vẫn không tan... Năm Trinh Nguyên thứ mưới hai, vua sai Hà Đông Tiết Độ Sứ, Lễ Bộ Thượng Thư Lý Thân đem đủ lễ lộc đến đón ngài về Kinh, hạ chiếu chỉ đặc biệt khiến ngài cùng với Bát Nhã Tam Tạng ở Kế Tân phiên dịch phần Phạn văn sau cùng của Kinh Hoa Nghiêm do nước Ô Trà hiến dâng. Vua cũng đích thân tham dự dịch trường, một hôm không đến, liền sai tăng Tịch Quang y theo thể lệ gửi dục trong Tăng chúng, đến nói: "Hoàng Đế do quốc sự nhân duyên không đến được, nên đối với Tăng sự như pháp này, xin gửi dục thanh tịnh." Phiên thuật xong xuôi, dâng lên vua. Vua hạ lệnh ngài khai thị tông chỉ của Hoa Nghiêm, quần thần đại tập, ngài thăng cao tòa thuyết giảng về bảy chữ "Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh", vua đẹp ý vô cùng, ban tặng ngài áo tử phương bào, phong hiệu là Giáo Thọ Hòa Thượng... Năm thứ mười lăm, ngài thọ tước hiệu Trấn Quốc Đại Sư. Tháng tư năm đó ngày sinh nhật của vua, vua cho thỉnh ngài vào cung, xiển dương Hoa Nghiêm tông chỉ, ngài thăng tòa tuyên thuyết... Vua nghe xong lắng trong hải ấn, sáng suốt đại giác, quay sang quần thần nói: "Bậc thầy của trẫm, lời lẽ tao nhã mà đơn giản, văn chương gẫy gọn mà phong phú, nổi gió chân thật lên bầu trời đệ nhất nghĩa, ngài có thể mang Thánh Pháp lại mà làm mát mẻ tâm trẫm, nên trẫm lấy hai chữ Thanh Lương mà tứ hiệu cho Quốc Sư. Trẫm xét lại xưa giờ chấp thân tâm ta người, cùng các pháp là quyết định có, quả thật là điên đảo !" Quần thần lễ bái chúc mừng, xin tuân minh mệnh. Từ đó ngài có hiệu là Thanh Lương Quốc Sư. Một hôm vua hỏi ngài rằng: "Thế nào là nghĩa Pháp Giới mà trong Hoa Nghiêm tuyên thuyết?" Ngài đáp: "Pháp giới là bổn thể của thân tâm của tất cả chúng sinh vậy. Từ hồi nào tới giờ, bản thể ấy linh sáng rỗng thấu, rộng lớn hư tịch, duy chỉ có một cảnh chân thật mà thôi. Bản thể ấy vốn không hình dáng mà um tùm đại thiên, không có biên tế mà bao hàm vạn hữu, sáng chiếu rực rỡ ngay trước mắt, mà hình tướng không sao thấy được, lung linh hiển hiện nơi sắc trần, mà lý lẽ không thể phân hai. Nếu không phải là mắt huệ thấu triệt các pháp, là trí sáng lìa hết các niệm, thì không thể nào thấy được tự tâm mình linh thông như thế. Nên Thế Tôn khi vừa thành chính giác, đã thốt lên rằng: Lạ thay! Ta nay thấy khắp tất cả chúng sinh đều có đủ đức tướng trí huệ của Như Lai, song chỉ do vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được. Do đó mà ngài tương xứng theo Pháp Giới tính, nói lên Kinh Hoa Nghiêm, gom trọn hết vạn hữu tức chỉ là một tâm, vô ngại viên thông, nên gọi là Pháp Giới." Vua thiên bẩm sáng suốt, nghe được lẽ huyền diệu ấy, thời thông toát tự đắc. Do đó sắc Hữu Ty đúc ấn, thăng ngài thành Quốc Sư thống lĩnh toàn thể phật đồ trong nước, tặng hiệu là Tăng Thống Thanh Lương Quốc Sư. Ngày 6 tháng 3 năm Khai Nguyên thứ ba, ngài dặn dò đồ chúng: "...Đừng lần mò dị đoan, đừng phải trái biện ngụy, đừng mê hãm tà chấp, đừng ngoan cố cãi tranh. Ánh sáng lớn không thể phá hết bóng tối đêm dài, bà mẹ từ không thể bảo bọc con sau khi qua đời. Hãy tin tưởng vào Phật, đừng tin tưởng nơi người, chân viễn ly vốn huyền vi, lời lẽ không nói lên được, cần phải do tâm sâu thể giải, thời rành mạch hiện tiền. Đối cảnh vô tâm, chạm duyên đừng động, ắt không cô phụ ta vậy !" Nói xong ngài ra đi, thọ 102 tuổi, tăng lạp là 83. Trọn đời ngài trải qua chín triều vua, thời ngài đã làm thầy đến bảy đời vua vậy (Chín đời là Đường Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông, Đức Tông, Thuận Tông, Hiển Tông, Mục Tông, Kính Tông, Văn Tông. Bảy đời là từ Đại Tông trở xuống). Toàn thân ngài nhập tháp tại Phàn Xuyên Hoa Nghiêm Tự. Không lâu có vị phạn tăng đến, dâng biểu lên vua tấu là ở Thông Lãnh thấy có hai vị sứ giả bay ngang trên không, tăng dùng chú chặn lại hỏi thăm, thì đáp rằng: "Chúng tôi là sứ thần nơi Văn Thù Đường ở bắc Ấn Độ, sang bên đông này để lấy răng của Bồ Tát về cúng dường." Vua hạ chỉ mở tháp khám xét, quả nhiên ngài thiếu mất một răng, chỉ còn lại ba mươi chín cái.

 

5) Kim Địa Tạng Bồ Tát

 

a) Đông nham khổ tu, tăng cách cao khiết


Kim Địa Tạng, tức Kim Kiều Giác thái tử của xứ Tân La, sinh vào năm 696 (tức năm nguyên niên Vạn Tuế Thông Thiên Đường Vũ Tắc Thiên), năm 719 độ hàng hải, vào Đường cầu Pháp, năm 741 ngài đến trấn tích nơi Cửu Hoa, tịch năm 794, thọ 99 tuổi.

 

Truyền thuyết sau khi gặp Mấn Công Nhượng Hòa, ngài xin một mảnh đất bằng áo cà sa thôi, Mấn Công ưng thuận, song khi ngài trải cà sa ra, thì áo trùm hết lãnh vực Cửu Hoa Sơn, do đó mà Mấn Công cúng dường trọn núi Cửu Hoa cho ngài. Đầu tiên ngài trụ trong hang đá phía nhai. Ngài ở đó tu hành chẳng nề gian khổ, chẳng sợ hiểm nguy, dù độc xà ác yết, ngài vẫn đoan tọa chẳng động. Ngài khổ tu cảm Long nữ hiện ra là một cô gái tuyệt đẹp lễ lạy dâng thuốc cúng dường, nói: "Tiểu nhi vô tri, xin được khai suối ra mà chuộc lỗi." Nói xong, nhìn vào đá, đá tự nhiên tuôn ra nước, cho ngài uống thuốc.

 

Ngài trụ nơi Đông Nhai khoảng hai năm, tuy chuyên hành thiền tọa, song không bao giờ quên nghiên cứu Phật kinh. Ngài bình sinh vẫn hâm mộ bốn bộ kinh, song trên núi thiếu Kinh, nên ngài phải xuống núi đến Nam Lăng, tìm đạo hữu giúp cho. Các vị này vốn rất sùng kính ngài, nên mới vì ngài mà sao chép đủ bốn bộ. Khi được Kinh rồi, ngài vô cùng kính cẩn hoan hỉ, lui về núi tuyệt tích ẩn tu luôn.

 

b) Hóa Thành kiến tự, đạo tràng huy hoàng


Thấp thoáng, hơn mười năm trôi qua. Vào năm đầu Chí Đức (757), Chư Cát Tiết là Hương Lão của Thanh Dương Huyện, cùng thân hữu lên núi vân du, vô tình đặt bước đến hang đá, thấy có vị đại hòa thượng khép mắt ngồi yên, bên cạnh có đỉnh sắt đã gẫy chân, trong có ít cơm trộn lẫn với tro nguội. Mọi người sụp lạy bật khóc nói: "Hòa thượng khổ hành như vầy, bọn con thật là tội lỗi!" Sau đó họ xin được quyên góp để kiến tạo tự viện, mời ngài cư trụ. Ngài chấp thuận, thế là tứ chúng đổ về hợp lực xây dựng, và ngài bắt đầu thâu nhận đồ đệ. Đại đệ tử ngài là Thắng Du cùng các huynh đệ khởi công xây đài điện. Sau hai năm khởi công chặt cây đục đá, theo sơn thế kiến trúc, một đại già lam được hoàn tất. Đó là ngôi chùa Hóa Thành Tự đầu tiên mà ngài trụ. Sau này khoảng năm 780 Thứ Sử Trì Châu là Trương Nham sủng ngưỡng đạo hành của ngài, nên cúng dường rất hậu, lại còn tấu biểu lên triều đình, hoàng đế sắc tứ là Hóa Thành Tự. Từ đó Hóa Thành Tự thành ra là Cửu Hoa Đạo Tràng.

 

c) Tụ chúng học pháp, cung thân giáo hóa


Từ năm 780 cho đến 185, Hoá Thành Tự trở thành đạo tràng ở Cửu Hoa, danh ngài lan bốn phương, bá quan lê thứ, nho sĩ thương buôn, thiện nam tín nữ, đều được ngài cảm hóa, tìm đến Cửu Hoa chiêm bái, cúng dường, trợ giúp. Ngài đích thân lãnh chúng khai mương đào rãnh, kể cả trồng trọt cấy cầy, và không nề công sức khai đạo dạy dỗ cho tất cả mọi người.

 

d) Linh trường chung cổ, vĩnh trấn danh sơn


Năm 794, vào một ngày cuối hạ, ngài bỗng ngồi ngay ngắn trên giường thiền, rồi kêu tứ chúng đến cáo biệt, rồi nhập diệt. Tăng chúng đem di thể của ngài đặt vào trong hộp đá, ba năm sau mở ra, nhục thân ngài vẫn y nguyên như khi còn sống vậy, lay thử các khớp tiết thời nghe tiếng khua vang như khoen vàng. Tăng đồ cho là quả đúng ngài là Địa Tạng Bồ Tát ứng thế vậy, bởi theo trong Kinh có câu nói về Địa Tạng Bồ Tát như sau: "Bồ Tát câu tỏa, bách cốt minh hĩ !" có nghĩa là các khớp xương của Bồ Tát như khoen móc vào nhau, chạm nghe rổn rảng vậy.

 

Do đó, mới đem nhục thân ngài lên an táng trên đỉnh ngọn Thần Quang, tạo thạch tháp ba tầng cúng dường. Nay chính là Nhục Thân Bảo Điện.

 
Số lần xem bài viết : 985222
Hiện có 11 khách Trực tuyến
COPYRIGHT © 2012 VIENGIAC.DE
Karlsruher Strasse 6, 30519 Hannover, Germany.
Email: info@viengiac.de - Tel: 0511 879630 - Fax: 0511 8790963.