VIENGIAC.DE
Con Rồng Cháu Tiên
Viết bởi Nhựt Trọng   
Thứ tư, 21 Tháng 12 2011 09:09

``Con Rồng cháu Tiên`` Tranh: Họa sĩ Vi ViTổ quốc và Dân tộc Việt Nam chúng ta đã có một chiều dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến. Trên bước đường dựng nước và giữ nước, Dân VIệt đã tạo nên thật nhiều chứng tích oai hùng. Bao phen quân dân ta đã vùng lên đánh đuổi ngoại xâm,  giành lại độc lập, tự do, dân chủ.

Dân Việt cũng có một nguồn cội thiêng liêng, trong sáng! Là con dân của mẹ Việt Nam, hẳn rắng không  ai có thể quên được những kỷ niệm đầm ấm, thân thương trong thời gian còn mài đũng quần trên ghế nhà trường Tiểu học, ngân nga bài tập đọc vỡ lòng, qua sử tích:`` Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ, sanh ra một trăm người con cùng chung trong một cái bọc (nên gọi là đồng bào). Năm mươi theo cha xuống vùng biển, năm mươi theo mẹ lên núi;  vì cha thuộc dòng giống Rồng còn mẹ là Tiên``!

Tô đậm thêm cho bề dầy lịch sử của dân tộc, các đời vua Hùng đã dầy công dựng nước và giữ nước; Ông cha ta đã thành lập nên nước Văn Lang (2879 BC/Trước công nguyên); nước Nam VIệt  (207-111 BC). Bà Trưng (12-43/Sau công nguyên), Bà Triệu (225-248), là những Anh Thư đã vùng lên đánh đuổi ngoại xâm, nêu cao ngọn cờ đại nghĩa. Ngô Quyền với trận Bạch Ðằng Giang oai hùng (938), đã đánh tan quân Nam Hán, dựng nên Triều Ngô. Tiếp theo, các triều đại: Ðinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Trần, Hậu Lê, Nguyễn …đã kế thừa sự nghiệp của Tổ Tiên, đánh đuổi giặc Tàu xâm lược, bảo tồn và làm rạng danh dòng giống Lạc Hồng.


Không còn bao lâu nữa, chúng ta sẽ tiễn đưa năm Tân Mão đi vào vòng quay của ``chu kỳ sáu mươi năm`` và đón chào Tân Niên Nhâm Thìn trở về ngự trị thế gian; Dòng giống Rồng Tiên sẽ hội ngộ cùng với con Rồng đương nhiệm. Xin chí tâm nguyện cầu cho thế giới hòa bình, nhân sinh an lạc, cho mọi người dân Việt khắp nơi sẽ gặp nhiều hạnh thông trong năm mới. Như thường lệ, chúng tôi xin viết đôi dòng, để góp lời tiễn cựu nghinh tân và xin kính gởi đến quý Chư Tôn Ðức Tăng, Ni, đến tất cả bạn bè thân hữu, cũng như quý độc giả lời chúc mừng Xuân mới tốt đẹp nhứt.

Loài Rồng, một trong Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng và được xếp vào hàng thứ năm trong Thập nhị địa chi. Theo Hán văn, Long là Rồng; một loài động vật thân dài như rắn, không có chân, là một trong  tám bộ chúng có thần lực biến hóa, làm mây mưa và bảo vệ bầu trời. Mùa Xuân, Rồng cất cánh bay cao, mùa Ðông ngủ yên trong lòng đất.. Loài Thủy Long  được xem là vua của sông nước, biển cả. Ðặc biệt, Phật Giáo Tây Tạng tin rằng, loài Thủy Long đang cất giữ các bộ Kinh quý báu ở Thủy cung và sẽ trao lại cho loài người khi nhân duyên hội đủ (1)

Theo truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta, Rồng (Long) là biểu tượng của vua chúa. Hình ảnh con Rồng được trang trí tại Long cung (cung điện của Vua), trước Long ngai (ghế của vua), thêu trên Long bào (áo của vua), thiết kế trên Long xa (xe của vua), chạm trổ trên Long sàng (Giường của vua); Người nào được diện kiến Long nhan (gặp mặt vua) là một điều diễm phúc; Khi nào vua bị bịnh là Long thể bất an!
Viết đến đây, tôi sực nhớ đến một mẫu chuyện hơi``tiếu`` một chút, xin mạn phép kể hầu quý vị, mong đem lại một niềm vui nho nhỏ trong lúc Xuân về: Ngày ấy, có đoàn hát cải lương trình diễn tại một làng quê. Một hôm, người nghệ sĩ đang thủ diễn vai Hoàng Ðế, bất ngờ bị bịnh tháo dạ. Không biết phải làm sao. Ðương sự nghĩ ra kế mọn và ``cương`` ngay vào đoạn diễn của mình: ``Trẩm nay Long thể bất an, truyền nội thị kỵ luôn cái bàn!``

Có những điều mà ngày nay, chúng ta cho là phong kiến như vua là Thiên Tử và thần dân phải khâm tuân Thánh ý! Tuy nhiên, chúng tôi thiển nghĩ, là vua, đâu phải chỉ  đơn phương có cái quyền sanh sát đó, mà còn phải chu toàn trách nhiệm của mình; Vì vậy về đạo Vua tôi, trong giáo lý ``Tam Cương`` của Khổng Mạnh có ghi: ``Quân vi thần cương``, có nghĩa là Vua phải làm giềng mối cho thần dân; dĩ nhiên phải là một minh quân! Về xã hội, quý Ngài cũng dạy câu: `` Phu vi thê cương``, Chồng làm giềng mối cho vợ và ``Phụ vi tử cương``, Cha làm giềng mối cho con.

Dân tộc Việt Nam cũng vừa kỷ niệm 1000 Năm Thăng Long. (1010-2010). Nhân dịp chào mừng năm mới Nhâm Thìn, cầm tinh con Rồng, chúng ta hảy cùng nhau ôn lại  lịch sử thiêng liêng nầy!:
Vua Lý Thái Tổ (974-1028), là một vì vua lừng danh của Dân tộc Việt Nam, là người sáng lập nên Triều Lý.  Ðặc biệt, dưới thời Lý Thái Tổ, đạo Phật rất hưng thịnh; Nhà vua coi trọng Phật giáo, tôn kính Tăng, Ni, cho xây dựng trên 300 ngôi chùa; Các bộ Kinh  chủ yếu như Kim Cang, Dược Sư, Diệu Pháp Liên Hoa (Kinh Pháp Hoa)…được in và phổ biến rộng rãi.
Trước khi lên ngôi, Vua là Lý Công Uẩn, người làng Cổ Pháp. Cha mất trước khi Vua chào đời và mẹ cũng từ trần sau khi Ngài vừa được sanh ra; một vị Tăng đã đem về nuôi dưỡng. Khi lên 8-9 tuổi, Ngài được ``dưỡng Phụ`` gởi  cho theo học với  Thiền Sư Vạn Hạnh. Nhờ những điềm lành báo trước, Thiền Sư biết rằng Lý Công Uần sẽ lên ngôi vua, thành lập nên Triều Lý. Vì vậy ông đã hết lòng phò tá! Khi Lê Long Ðỉnh mất, Lý Công Uẩn được các quan đương triều phong lên Hoàng Ðế, hiệu là Lý Thái Tổ. Vua thấy kinh đô Hoa Lư chật hẹp nên đã ra chiếu chỉ dời về La Thành. Trên đường thiên đô, Vua thấy một con Rồng vàng từ dưới biển bay lên không trung nên đổi tên La Thành là  Thăng Long, tức Hà Nội bây giờ.  

Dân tộc VIệt Nam chúng ta còn có  phong tục, tập quán múa Lân, múa Rồng trong các ngày lễ hội và các ngày Tết cổ truyền. Tại các đền đài, Lăng tẩm, chùa viện…, bên cạnh những hoa văn muôn màu muôn sắc, chúng ta thường thấy hình dáng những con Rồng oai vệ, thước tha. Những tác phẩm ``Lưỡng Long tranh châu``, ``Nhị Long giữ lữa``là những nét đặc thù trong nền Văn hóa Việt.       

Nhân dịp đón mừng năm mới Nhâm Thìn, xin mời quý Vị cùng  chúng tôi ôn cổ tri tân, tham khảo những từ ngữ có chữ Long trong Giáo lý Phật Ðà (2):
.Long cung: Cung Vua, cũng là cung điện của Long Vương ở dưới đáy biển, do thần lực của Long Vương biến hóa ra.
-Long Hà, là tên gọi khác của sông Ni Liên Thiền, nơi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thả cái chén trôi ngược dòng và Ngài phát đại nguyện, thiền định tại đây cho đến khi thành chánh quả.
-Long Hoa:: khi Ðức Di Lặc thành Phật, Ngài ngồi dưới gốc cây có  hoa như đầu Rồng, nên gọi là Long Hoa; cũng có sách cho rằng giống cây nầy mọc ở dưới Long cung nên gọi là Long Hoa.
-Long Hoa Hội: Ðức Di Lặc Bồ Tát hiện  đang ở trong nội cung cõi trời Ðẩu xuất; Khi đủ nhân duyên và kiếp số, Ngài sẽ hạ sanh vào cõi Ta Bà và ngồi dưới gốc cây Long Hoa mà thuyết Pháp nên gọi là Long Hoa Hội hay là Pháp Hội Long Hoa.
-Long Hoa Sám Pháp, là quyển sách do Ngài Như Tịnh biên tập, nói về cách thức cầu niệm Ðức Di Lặc để sám hối các tội chướng.
-Long Hoa Tam Hội:: Khi Ðức Di Lặc thành đạo, sẽ ngồi  dưới gốc cây Long Hoa, trong vườn Hoa Lâm, mở ra ba Pháp Hội để độ cho hết thảy ba hạng chúng sanh, thượng căn, trung căn và hạ căn, nên gọi là Long Hoa Tam Hội.
-Long Nữ thành Phật: Con gái của Long Vương, năm lên 8 tuổi đã đến tu tại  núi Linh Thứu và thành Phật (Kinh Pháp Hoa - Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða)
-Long Phấn Tấn Tam Muội: Năng lực của Tam muội mau lẹ, dũng mãnh như sức mạnh của loài Rồng…

Ðặc biệt, chúng ta cũng được nghe, nhiều vị Phật, Bồ Tát, Tổ Sư, cao Tăng thạc Ðức trong Phật Giáo có  tên  với chữ đầu là Long :  
-Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật: Bản địa của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
-Long Phong: Tổ Tuệ Nam Thiền Sư, trụ trì ở núi Hoàng Long, nên Pháp mạch gọi là Hoàng Long phái và gọi Ðại Sư là Long Phong.
-Long Quang Vương Phật: Vua Ba Tư Nặc, nước Xá Vệ, ở chỗ của Long Quang Vương Phật, được Ngài thọ ký là một vị Bồ Tát thâm địa.
-Long Quân: Bố Tát Na Tiên Tỳ Kheo, ra đời sau khi Ðức Phật diệt độ, lập ra thuyết Phật không thuyết Pháp.
-Long Thắng: Tên khác của Bồ Tát Long Thọ.
-Long Thần: Một trong 8 bộ chúng. Các Vị Long Thần ở khắp nơi quan sát các bậc nhân giả (Kinh Pháp Hoa, Phẩm Tựa)
-Long Thần Bát Bộ: Trong 8 bộ chúng, đứng đầu là Trời và Rồng nên gọi là Thiên Long bát bộ.
-Long Thọ: Tên một vị Bồ Tát,. Do Ngài được sanh ra dưới gốc cây A Chu Ðà Na nên đặt tên là A Chu Ðà Na. Ngài lại nhờ loài Rồng mà thành đạo, nên gọi tên là Long; còn có tên là Long Mãnh. Ngài ra đời ở vùng Nam Thiên Trúc, sau khi Phật diệt độ chừng 700 năm.
-Long Thọ nhập Long cung đem về Hoa Nghiêm Kinh: Theo truyền thuyết, Ngài  Long Thọ xuất gia vào tu trong núi Linh Sơn, được một vị Tỳ Kheo trao cho Kinh điễn Ðại thừa, nhưng còn nhiều điều chưa thông suốt nên Ngài chu du các nước tìm cầu kinh điễn, mong giúp cho người sau giác ngộ. Bồ Tát Ðại Long thấy vậy thương tình, bèn mời Ngài xuống biển, trao cho vô lượng diệu Pháp và những bộ Kinh Phương đẳng rất thâm sâu. Ngài trì tụng liên tiếp trong 90 ngày, thông hiểu rất nhiều.  Sau đó, Ðại Long đưa Ngài Long Thọ trở về cõi Nam Thiên Trúc để đại hoằng Phật pháp, hàng phục ngoại đạo.
-Long Tôn: Tên gọi đầy đủ là Long Chủng Tôn (Thuộc loài Rồng) là tên bản địa của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
-Long Trí: Ðệ Tử của Ngài Long Mãnh. Là vị Tổ thứ 4 của Mật Tông, thọ hơn 700 tuổi, mà dung mạo vẫn như thời trai trẻ. Ngài Huyền Trang đã thân hành đến chỗ Ngài Long Trí để học Trung Quán Luận và Bách Luận trong 3 năm.
-Long Tu: Ðiễn tích, lấy dây bằng râu Rồng để buộc vào mình mà nhảy xuống nước, càng bơi càng bị sợi dây thắc lại càng đau, khác nào lấy da trâu làm áo mặc vào người và đứng quay về hướng mặt trời. Hình ảnh nầy để ví với  việc tham lợi dưỡng, chỉ có hại thân mà thôi !
-Long Tử: Rồng con ở nơi biển lớn, thuờng bị loài Kim xí điểu ăn thịt. Long Vương bèn thỉnh ý Ðức Phật, được Phật trao cho một tấm áo cà sa; nhờ đó mà tránh được nạn khổ. (Cũng có điễn tích: Ngày xưa, loài Kim xí điểu thường bắt con của các loài vật khác để ăn. Phật dạy rằng, đó là một việc ác, khuyên chừa bỏ và hứa sẽ cấp thức ăn đầy đủ cho loài chim nầy. Vì vậy, chúng ta thấy, trong nghi thức ăn quá đường khi tu Bát Quan Trai Giới có phần Thị giả bưng chén cơm ra trước sân tống thực, đọc bài:``Ðại Bàng Kim xí điểu, Khoáng dã Quỉ thần chúng, La sát Quỉ Từ Mẫu, Cam lồ tất sung mãn`` và niệm 7 lần câu chú: ``Án Mục Ðế Tá Ha``)
-Long Tượng: Các vị A La Hán tu hành dũng mãnh, có đại lực được Ðức Phật gọi là Long Tượng.  Voi là loài  khỏe nhứt ở trên khô và Rồng thì có năng lực siêu đẳng ở dưới nước, nên gọi là Long Tượng. Cũng vậy, con ngựa khỏe đẹp được gọi là Long Mã.
-Long Vương: Là Vua của loài Rồng. Theo Kinh Pháp Hoa, Phẩm Tựa, có Bát (Tám) Long Vương; Theo  Kinh Ðại Tạp, phẩm Tu Di Tạng, có Ngũ (Năm)  Long Vương; Theo Kinh Tối Thắng thì có Thất (Bảy) Long Vương

Văn chương Việt Nam cũng có câu: ``Rồng bay Phượng múa``, để ngợi khen những người viết chữ đẹp hay là những người khéo tay, làm nên những tác phẩm, những hoa văn thanh nhã.. Trong võ thuật thì bên cạnh ``Xà quyền``, ``Hồ quyền``... còn có bài ``Long quyền``, dũng mãnh, biến hóa, uốn mình như một con Rồng đang khi bay lượn.

Qua những phương danh, phương ngôn nói trên, chúng ta thấy năng lực, tướng tốt cũng như vẻ đẹp của loài Rồng. Chào mừng năm mới con Rồng và nhân dịp, xin nhắc lại cội nguồn Dân tộc Rồng Tiên. Trong niềm tự hào, hoan hỷ, chúng ta thành tâm tưởng niệm Tiền nhân, tưởng niệm những vị Anh hùng, Anh Thư Liệt Nữ và cũng không quên những Kẻ Sĩ đã dâng hiến đời mình, góp phần bảo vệ, tô điểm Giang Sơn.  Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ đã nói lên vị thế, tâm tư, hoài bão cũng như chí nguyện của Sĩ Phu qua bài thơ ``Kẻ Sĩ``tuyệt tác. Chúng tôi xin được trích vài câu sau đây, với hình ảnh con Rồng, để cống hiến đến bạn bè, thân hữu cũng như quý độc giả thân thương:

…``Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
Ðem quách cả sở tồn làm sở dụng
Trong Lăng Miếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can thương
Làm sao cho bách thế lưu phương
Trước là Sĩ sau là khanh tướng``…


Khi có đủ nhân duyên, khi cơ hội tròn đầy, khi bảng hổ đề danh chính là lúc``Rồng mây gặp hội``, Kẻ Sĩ quyết đem tất cả năng lực, trí tuệ của mình ra để nơi chốn quan trường làm rạng danh người tôi trung hậu; ngoài biên thùy cũng xứng đáng là một dũng tướng kiêu hùng (Văn võ song toàn)… Và trong quá trình giữ nước, bảo vệ di sản của Tổ Tiên, đã có không biết bao nhiêu Kẻ Sĩ  vị quốc vong thân, nêu gương tiết liệt, thể hiện tấm lòng trung quân, ái quốc:

...``Phan Thanh Giản nuốt hờn qua thuốc độc
Bởi xâm lăng bóp nghẹt nước non nầy
Và Hà Nội máu hòa ba lớp đất
Thất kinh thành, Hoàng Diệu ngã trên thây!``…

(Trích bài thơ: Tiễn người lính Pháp về lại quê hương)

Trong  văn chương, thi họa, Dân Việt cũng có rất nhiều mẫu chuyện vô cùng thâm thúy, đặc biệt là những khi đối diện trước kẻ thù:
-Trong khi Trạng Trình Nguyễn BÌnh Khiêm đi Sứ sang Tàu. Một hôm,  đi ngang qua tấm tranh do một họa sĩ tài danh vẽ con chim sẻ đậu trên cành trúc. Trông như thật!  Ông đã đưa tay lên bắt con chim. Các quan Tàu cười to, chế nhạo! Nhưng với tài ứng đối thật uyên bác, Ông đã nhanh chóng xé nát tấm tranh và nói rằng:`` Trúc là cây quân tử, sẻ là kẻ tiểu nhân, sao  các ông lại vẽ chim sẻ đậu trên cành trúc`` Lật ngược thế cờ, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn dạy cho người Tàu một bài học để đời. (Cũng có thể, Ông Nguyễn BỈnh Khiêm không lầm tưởng là con chim thật, nhưng Ông đã cố ý làm như vậy để có cơ hội nói lên những lời  trên đây!)

-Ngày xưa, mỗi khi quan quân ta đón tiếp Sứ Tàu là một lần bị hạch sách, phải đáp ứng hết điều kiện nầy đến đòi hỏi khác chớ không phải trên nền tảng bang giao quốc tế bình đẳng như ngày nay! Một hôm, vua đã cho Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm (ĐTĐ) giả dạng làm một cô gái đưa đò trên một tuyến đường mà Sứ Tàu sẽ đi qua.. Trước cảnh hoàng hôn bảng lảng, trước một cô gái trẻ đẹp, Sứ Tàu đã thốt lên lời thơ để  trêu chọc:

``An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh``

Đại ý: ``Một miếng đất nhỏ của xứ An Nam mà không biết bao nhiêu người cày``. Không những tên Sứ Tàu chê rằng, nước An Nam đất hẹp người đông mà còn xem phụ nữ Việt như là những cô gái giang hồ! Nữ sĩ ĐTĐ đã ứng khẩu đối đáp lại ngay:

``Bắc quốc chư Trượng phu, giai do thử đổ xuất``!

Có nghĩa là: ``Trượng phu của đất nước các Ông đều từ chỗ đó mà ra``!  Sứ Tàu phải kinh sợ, vì một cô gái đưa đò của nước VIệt mà còn có bàn lãnh như vậy, huống hồ các vị quan chức trong triều.  

Nhân dịp, nhắc về Bà ĐTĐ, người viết xin được kể hầu qúy Vi mẫu chuyện sau đây để góp vui trong lúc Xuân về:  Bà ĐTĐ là một Nữ sĩ có biệt  tài xướng họa và có người Anh ruột tên là Đoàn Kinh Luân, cũng nổi danh trên Văn đàn. Một hôm, nhìn em gái của mình đang ngồi trang điểm, Đoàn KInh Luân đã tức cảnh thành thơ:

``Đối kính họa mi, nhứt Điểm phiên thành lưỡng Điểm``
Có nghĩa là:``Trước kính vẽ mi, một cô ĐIểm thành ra hai cô ĐIểm``

Bà Đoàn Thị ĐIểm đã ứng khẩu đáp lại ngay:  

``Lâm trì ngoạn nguyệt, nhất Luân chuyển tác song Luân``.
Có nghĩa là:``Ra ao ngắm trăng, một anh Luân soi bóng thành hai anh Luân``

Hai câu xướng họa đã được vang tiếng một thời và còn lưu mãi đến ngày nay. Đặc biệt, chúng ta thấy: ``Đối kính họa mi``, đã được đối lại là ``Lâm trì ngoạn nguyệt`` khít khao từng lời từng chữ. Và Ông Đoàn Kinh Luân đã dùng tên của em mình để ``xướng`` (Điểm cũng có nghĩa là một điểm); thì Bà Đoàn Thị Điểm cũng dùng tên của anh mình để ``họa`` lại (Luân cũng là trăng). Từ niêm vận đến từ, ý thật vô cùng chuẩn xác, vô cùng thâm thúy.

Về võ tướng, nhắc đến Tiền nhân đã dầy công dựng nước và giữ nước, đã tạo nên một dãy Giang Sơn gấm vóc như ngày nay, làm rạng danh dòng giống Lạc Hồng, chúng ta hồi tưởng đến  một vài  tấm gương  trung liệt:

-Ðinh Bộ Lĩnh, xuất thân từ một đứa trẻ chăn trâu, nhưng với tài trí thao lược, ông đã thống nhất được Thập nhị Sứ Quân, được tôn là Vạn Thắng Vương, lên ngôi vua, hiệu là Ðinh Tiên Hoàng Ðế, lập nên Triều Ðinh, đóng đô ở Hoa Lư, tên nước là Ðại Cồ Việt.

-Lý Thường Kiệt, Một vị danh tướng, một nhà chiến lược, một nhà tư tưởng dưới triều Vua Lý Thái Tổ. Ông đã đánh tan quân nhà Tống xâm lược và để lại cho đời bài thơ ``Nam Quốc Sơn Hà`` đấy hùng khí cũng như một niềm tin tất thắng:
``Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư``

-Lê Lai, đã hiên ngang liều mình cứu chúa, bảo trọng cho Bình Ðịnh Vương Lê Lợi để chiến thắng quân Minh, dựng nên Triều hậu Lê hùng mạnh. Ghi nhớ ân nghĩa đó, Vua Lê Lợi đã có di huấn, phải cúng giổ Lê Lai một ngày trước giổ của Vua. Vì vậy mới có câu:``Hai mươi ngày tốt, hai mốt Lê Lai, hai mươi hai Lê Lợi.``
-Trần Quốc Toản, tuổi trẻ dư can đảm. Dốc bụng báo Hoàng ân. Cả gan binh quốc nạn. Cờ bay giặt hãi hùng. Giáo tỏa quân tan rã! -Từ khi còn là một thiếu niên, vì không được vào dự Hội nghị Diên Hồng, Nhiệt huyết dâng cao, Ông đã bóp nát trái cam đương cầm trên tay lúc nào mà không hay biết!
-Phạm Ngũ Lão, đang ngồi đan rổ, mà lòng miên man suy tư đến quốc sự; thậm chí khi quân của Hưng Ðạo Vương dọn đường cho Vua di hành ngang qua, đã gọi mà Ông không nghe, nên bị binh lính dùng  giáo nhọn đâm vào đùi !  
-Trần Bình Trọng, Anh hùng ngàn thu trước. Ðem tấm thân bảy thước chống (chống đỡ) Sơn Hà …Nhưng tài trai dù oanh liệt , hùm thiêng kia không địch lại bầy hồ! Khi sa cơ vào tay giặc, trước những lời chiêu dụ đường mật của Quân Tàu xâm lược, Ông đã khẳng khái thốt lên rằng:

..``Bắt được ta thôi chớ nói gì lâu
Cứ đem chém ta không hề than tiếc
Hể còn sống ta là dân nước Việt
Chết ta thề làm quỉ nước Nam ta!`  
(Ôi! Anh hùng tử, khí hùng nào tử
Nêu gương trong sách sử để muôn đời`)
(Trích bài thơ ca ngợi Trần Bình Trọng.
Xin cáo lỗI vì không nhớ tên tác giả)


Năm con Rồng lại trở về cùng với đất trời, cùng với quê hương, dân tôc Rồng Tiên. Nhân đây, chúng ta hảy cùng nhau hồi tưởng lại những lời tiên tri trong Sấm Trạng Trình:

``Long vỹ xà đầu khởi  chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao bình
Mã đề Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.``


Chu kỳ năm tháng ấy đã bao lần quay về rồi lại ra đi, chiến tranh vẫn xảy ra, gieo tang thương, khổ hãi khắp nơi trên thế giới. Con gà, đã bao lần cất cao tiếng gáy báo bình minh, nhưng một nền hòa bình chân chánh chưa hiện hữu trên thế gian nầy, hầu đem lại an vui, hạnh phúc cho loài người!
Vì sao vậy?! Chúng tôi xin mạo muội nhắc lại về Kinh Luận A Tì Ðàm và những lời giảng dạy của Thầy Tổ cũng như quý Chư Tôn Ðức Tăng, Ni:``Chính là vì con người chưa có Từ Tâm!`` (chưa có đủ Tâm lượng từ bi)
Năm Nhâm Thìn 2012 đang đến bên thềm…Theo lời tiên tri của các Chiêm tinh gia, theo thông báo của các nhà Khoa học, của Cơ Quan Không Gian NASA, Hoa Kỳ, cũng như theo sự hiển nhiên trong thực tế: Thiên tai, bão lụt, bịnh khổ, nạn tai, sóng thần, chiến tranh, khủng bố từng giờ từng phút đang xảy ra và ngày càng mãnh liệt hơn trên trái đất nầy! Mầm móng một cuộc Ðại chiến thứ ba có thể xảy ra bất cứ lúc nào! Và chúng ta, ai cũng hiểu, không như đệ nhứt và đệ nhị thế chiến, với những vũ khí và phương tiện còn thô sơ (nhưng đã gây ra những thiệt hại thảm khốc kinh hoàng như vậy!); Còn Thế giới đại chiến thứ 3 sẽ là một cuộc chiến tranh nguyên tử, cộng với những vũ khí, những phương tiện chiến tranh vô cùng tinh vi, vô cùng độc hại, sẽ gây nên những hậu quả khôn lường!

Tôi xin dừng nơi đây và rất mong quý Vị cho phép chúng tôi được lập lại những lời ``sáo ngữ`` mà năm nào, trong phần cuối bài viết chúng tôi cũng muốn ghi lại; vì đây chính là nguyện ước thiết tha của những người con Phật: Xin chí tâm nguyện cầu cho thế giới hòa bình, nhân sinh an lạc. Nguyện cho những cuôc đao binh, chinh chiến tan đi, nhường chỗ cho một nền hòa bình an lạc chan hòa trên khắp năm châu bốn biển. Nguyện cho mọi người đều có thêm tâm lượng từ bi và nòi giống Rồng Tiên luôn được rạng danh trên thế giới./-

Nam Mô Ðương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật
Tài liệu tham khảo:
(1) Từ Ðiển Phật Học của Chân Nguyên & Nuyễn Tường Bách
(2) Từ Ðiển Phật Học Hán Việt / Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội.  
Nhựt Trọng

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 01 Tháng 1 2012 09:52
 

Add comment


Security code
Refresh

Số lần xem bài viết : 1576388
Hiện có 22 khách Trực tuyến
COPYRIGHT © 2012 VIENGIAC.DE
Karlsruher Strasse 6, 30519 Hannover, Germany.
Email: info@viengiac.de - Tel: 0511 879630 - Fax: 0511 8790963.