Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 06 Tháng 8 2012 10:05
Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác
Tôi chưa kịp trở về thăm Viên Giác Mười hai năm bèo dạt bến sông đời Cây đa cũ chắc đã già hơn trước Biết có còn rụng lá xuống sân tôi
Ðời lưu lạc tôi đi hoài không nghỉ Ðể niềm đau chảy suốt những mùa thu Thời thơ ấu cây đa già tri kỷ Vẫn còn đây trong ký ức xa mù
Tôi khổ cực từ khi cha mất sớm Nên bà con, thân thuộc cũng xa dần Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân
Ða làm mẹ vỗ về tôi giấc ngủ Ða làm cha che mát những trưa hè Ða làm bạn quây quần khi rảnh rỗi Ða làm người chơn thật chẳng khen chê
Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn
Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm Cây đa già đứng lặng khóc chia ly
Ðường tôi qua đã không còn bóng mát Ngày nhọc nhằn mưa lũ xuống đêm khuya Ða ở lại âm thầm ru khúc hát Ngậm ngùi buông theo mỗi tiếng chuông chiều
Ða thân mến dẫu có vàng thương nhớ Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể Chuyện trầm luân của một kiếp con người
Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa Viên Giác Nhặt mảnh đời rơi rớt ở đâu đây Ôi thằng bé nghèo nàn xưa đã lớn Ði làm người du thực ở phương tây
Tôi viết nốt những bài thơ dang dở Vá tình người rách nát thuở hoa niên Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.
Trần Trung Đạo
Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 28 Tháng 1 2012 12:08
Tiểu Sử Hòa Thượng Tôn Sư thượng LONG hạ TRÍ
Hòa thượng lâm thế vào ngày 12 tháng 9 năm Mậu Thìn (1928) tại làng Minh Hương, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Lý Trạch Chương, pháp danh Tâm Viên và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mai, pháp danh Tâm Chơn. Hòa thượng được thân phụ đặt tên là Lý Truờng Châu.
Sinh ra trong một gia đình thâm trọng Phật học, Nho học và Tây học nên thuở ấu thơ Ngài đã sớm được un đúc trong một nếp sống kính tin Tam Bảo. Sự mộ đạo của hai đấng từ thân có tác động rất lớn đối với Hòa thượng nên Ngài đã tham gia sinh hoạt trong Đoàn Đồng Ấu Phật tử (tiền thân Gia đình Phật tử sau này).
Năm Ất Dậu (1945), thân phụ qua đời để lại biết bao thương tâm trong lòng một người thanh niên mới lớn như Ngài. Từ đó, Ngài thấy rõ lẽ thống khổ của kiếp nhân sinh nên phát nguyện xuất gia học đạo. Vào ngày 19 tháng 6 năm Bính Tuất (1946), Hòa thượng xuất gia tại chùa Phước Lâm-Hội An, lúc đó Ngài vừa tròn 19 tuổi. Từ đây, Ngài tu học dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Bổn sư thượng Ấn hạ Nghiêm hiệu Phổ Thoại (khai sơn chùa Long Tuyền-Hội An), được Hòa thượng ban cho pháp danh Chơn Ngọc.
Thừa di sản của dòng máu thông minh mẫn duệ, cộng với sự nhiệt tâm tinh cần tu học nên Ngài tỏ ra xuất sắc trong mọi phương diện và được Bổn sư cho thọ giới Sa Di vào ngày 19 tháng 9 năm Đinh Hợi (1947) với pháp tự Đạo Bảo. Với nếp sống hài hòa, cần mẫn được Thầy thương chúng mến, tu học tiến bộ nên Ngài đã đắc pháp với Đại lão Hòa thượng thượng Giác hạ Nhiên (Đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) tại giới đàn Vạn Hạnh chùa Từ Hiếu-Huế và được Bổn sư phú pháp hiệu là Long Trí. Như vậy, Ngài nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế và thuộc thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Tân Mão (1951), thân hào xã Cẩm Phô hiến cúng chùa Viên Giác cho Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng. Thuận duyên, Giáo Hội đã cử Hòa thượng về trụ trì tại đây. Từ đó, đời Ngài gắn liền với ngôi chùa Viên Giác cho đến ngày viên tịch.
Cũng trong năm này, Đại hội thống nhất Phật giáo ba miền Bắc-Trung-Nam được tiến hành. Cùng chung vơi phong trào cả nước, Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng được thành lập do Hòa thượng Thích Tôn Bảo làm Trị Sự trưởng và Ngài được mời giữ chức vụ Phó Thư Ký.
Năm Ất Mùi (1955), nhằm mục đích góp phần giáo dục tuổi trẻ, Hòa thượng xây cất ngôi trường đơn sơ trong khuôn viên chùa để dạy các lớp mầm non tiểu học với danh hiệu là Khai Trí.
Năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng được đề cử làm Trưởng ban tổ chức đại lễ Phật Đản-Phật lịch 2502 tại chùa Viên Giác-Hội An để biểu hiện sức vươn lên của Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng. Buổi lễ này đặt dưới sự chứng minh của ngài Tăng cang Thiện Quả, đánh dấu sự trưởng thành, góp mặt của Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng sánh vai với các Giáo Hội khác trên toàn quốc.
Năm Quý Mão (1963), tình hình đất nước, Phật giáo chuyển biến mạnh bởi chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Toàn quốc khởi lên một phong trào đấu tranh mãnh liệt. Tại quê hương Quảng Nam, một Ủy Ban Tranh Đấu được thành lập và Hòa thượng giữ chức vụ Tổng Thư Ký kiêm Đặc trách thanh niên. Trong mùa Pháp nạn này, Hòa thượng đã lăn xả vào cuộc tranh đấu, xem thân mạng nhẹ như lông hồng, và lãnh đạo toàn thể Phật tử kiên quyết đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng và xóa bỏ Đạo dụ số 10 xem Phật giáo như một hiệp hội. Bao nhiêu Phật tử bị đánh đập, tra tấn, bao nhiêu cuộc biểu tình đẫm máu đều được Hòa thượng an ủi, vỗ về bằng sự hy sinh chịu đựng tiên phong của chính bản thân mình.
Đêm 20 tháng 8, đêm kinh hoàng. Tất cả các chùa chiền trên toàn quốc đều bị tấn công một loạt. Toàn thể Tăng Ni, Phật tử đều bị bắt đánh đập, tù đày và giết chóc. Riêng Hòa thượng, Ngài được chính quyền chiếu cố hơn nên đã bắt giam riêng tại Đà Nẵng, đánh đập một cách dã man, ngất xỉu suýt tử vong. Nhờ cuộc cách mạng ngày 1 tháng 11 năm 1963 của quân đội nên nhà Ngô bị tiêu diệt và Hòa thượng được trả tự do.
Năm Giáp Thìn (1964), như bừng tỉnh sau cơn mơ, 9 hệ phái Phật giáo đã họp tại Ấn Quang-Sài Gòn thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tại Quảng Nam, GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam được thành lập, Hòa thượng được mời làm Phó Đại Diện đặc trách ngoại vụ kiêm Chánh Thư Ký và Đặc ủy thanh niên.
Năm Bính Ngọ (1966), Phật giáo cả nước lại đắm chìm trong cuộc đấu tranh chống Hiến chương Vũng Tàu, đòi Quốc hội lập hiến. Một lần nữa, Hòa thượng đã cống hiến đời mình một cách trọn vẹn, hướng dẫn cuộc đấu tranh vô cùng khốc liệt. Hòa thượng bị bắt giam tại Cục an ninh quân đội ở Sài Gòn cùng với các ngài Thắng Hoan, Chánh Lạc, Liễu Minh, Chơn Kim v.v…Sau 6 tháng giam giữ tại lao thất cực kỳ gian khổ, đến ngày 11 tháng 11 cùng năm, Hòa thượng được trả tự do.
Năm Đinh Mùi (1967), công trình xây cất giảng đường và trụ sở Gia đình Phật tử Quảng Nam đã hoàn tất. Đại lễ khánh thành được tiến hành trọng thể dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Đôn Hậu-Chánh đại diện miền Vạn Hạnh.
Năm Tân Hợi (1971), Phật học viện Quảng Nam được thành lập tại chùa Long Tuyền do Hòa thượng Thích Chơn Phát làm giám viện, Hòa thượng được mời phụ trách bộ môn hành chánh và nghi lễ.
Năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng được bầu làm Chủ tịch Mặt Trận Cứu Đói miền Trung nhằm xoa dịu những nổi đau thương mất mát của đồng bào Phật tử do chiến tranh gây ra.
Năm Quý Sửu (1973), Ủy Ban Tái Thiết Xã Hội được thành lập, văn phòng đặt tại chùa Viên Giác và Hòa thượng được Giáo hội đề cử làm Chủ tịch Ủy Ban.
Năm Ất Mão (1975), chiến tranh chấm dứt, hòa bình vãn hồi, đất nước thống nhất, những trăn trở, đau khổ đã qua, GHPGVNTN tiếp tục hoạt động, Ngài vẫn đảm nhiệm chức vụ Phó đại diện và Tổng thư ký.
Năm Tân Dậu (1981), Hòa thượng Thích Như Huệ rời chùa Tỉnh Hội (tức chùa Pháp Bảo) sang Úc giáo hóa, Hòa thượng phải tạm rời Viên Giác về trụ tại chùa Pháp Bảo để điều hành mọi Phật sự. Trong giai đoạn khó khăn, trắng đen lẫn lộn này, Hòa thượng thực hiện lời Phật dạy: “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên” nên đã mặc nhiên nhận lãnh chức vụ Phó ban trị sự tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam Đà Nẵng và tham gia Phó chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cho đến năm Kỷ Tỵ (1989).
Năm Nhâm Tuất (1982), trong giai đoạn khó khăn của thời cuộc, nhưng bằng sự khéo léo của mình, Hòa thượng đã xây dựng được nhà tổ tại chùa Pháp Bảo và khánh thành trong sự ngạc nhiên, hoan hỷ của Tăng Ni Phật tử trong và ngoài tỉnh. Cũng trong năm này, Ngài tổ chức đàn giới Sa Di và Thập Thiện tại chùa Pháp bảo để truyền giới cho chư Tăng và Phật tử tu học. Tại đàn giới này, Hòa thượng được chư Tăng cung thỉnh làm Chánh Chủ Đàn.
Năm Bính Dần (1986), Ngài tái sinh hoạt Gia Đình Phật Tử Quảng Nam, một tổ chức thanh thiếu niên Phật tử mà Ngài đã cưu mang qua nhiều giai đoạn cam go của lịch sử. Ngài đã đảm nhận chức Trưởng ban hướng dẫn Gia Đình Phật tử Quảng Nam cho đến cuối đời.
Năm Canh Ngọ (1990), Ngài từ nhiệm tất cả mọi chức vụ từ Giáo Hội cho đến Mặt Trận, về lại Viên Giác trùng tu ngôi chánh điện đã xuống cấp trầm trọng. Sau gần 1 năm thi công, lễ khánh thành đã được tổ chức vào ngày rằm tháng 8 cùng năm dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Trí Giác.
Năm Nhâm Thân (1992), Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu-Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN viên tịch. Hòa thượng Thích Huyền Quang được trao ấn tín với tư cách Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo. Khâm thừa di chúc thiêng liêng của cố Đại lão Hòa thượng Chánh Thư Ký, Hòa thượng Thích Huyền Quang đã phát động phong trào đòi phục hồi GHPGVNTN, Hòa thượng lại một lần nữa dấn thân tranh đấu và được Hòa thượng Thích Huyền Quang mời giữ chức vụ ChánhVăn Phòng Viện Hóa Đạo tại quốc nội.
Năm Giáp Tuất (1994), sau gần 2 năm cùng Hòa thượng Huyền Quang hoạt dụng cho Giáo Hội Truyền Thống thì bị chính quyền quản thúc tại chùa Viên Giác cho đến ngày viên tịch.
Tháng 5 năm Mậu Dần (1998), Hòa thượng nhuốm bệnh. Hàng đệ tử đưa Hòa thượng đi bệnh viện Đà Nẵng chữa trị. Không có kết quả, lại đưa về chùa chữa chạy thuốc Bắc, thuốc Nam nhưng vẫn không thuyên giảm và tiếp tục vào Sài Gòn chữa bệnh. Biết nhân duyên của mình đã mãn, Hòa thượng quyết định trở về an dưỡng tại chùa. Vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 13 tháng 9 năm Mậu Dần (1/11/1998), Hòa thượng đã lìa mộng trần, hưởng thọ 71 thế tuế.
Kết thúc 53 năm kể từ ngày phát nguyện quy y đầu Phật, suốt cuộc hành trình vì Đạo Pháp, vì Dân Tộc, vì truyền thống tông môn mà Hòa Thượng không có một thời gian ngơi nghĩ. Đã thế còn chịu trăm đắng ngàn cay, nhận chịu búa rìu dư luận không thiếu. Đúng như ca dao tục ngữ Việt Nam đã nói:
“ Khi làm thì chẳng thấy ai Làm xong thì bị chê bai đủ điều.”
Tuy nhiên, suốt cả cuộc đời dấn thân vì Đạo mặc cho ai khen, ai chê, ai thưởng, ai phạt, Hòa Thượng cũng đã góp phần công đức lớn lao cho Giáo Hội, phụng sự chúng sanh không hề mỏi mệt. Về mặt kiến tạo thì Ngài đã xây dựng chùa Viên Giác từ một ngôi chùa làng đơn sơ rách nát thành một ngôi tổ đình trang nghiêm, thành lập hoặc trùng tu các chùa Cẩm Giác ở Cẩm Nam; chùa Thanh Lương xã Duy Hải, Duy Xuyên; chùa Thọ Sơn ở Hà Tân, Đại L ộc v.v...
Tuy Phật sự đa đoan như vậy, Ngài cũng không thiếu sót việc tiếp dẫn hậu lai truyền trì mạng mạch chánh pháp. Trong số các đệ tử xuất gia của Ngài hiện còn Thượng tọa Thích Tâm Thanh-Viện chủ Vĩnh Minh Tự Viện tại Lâm Đồng; Thượng tọa Thích Như Điển trụ trì chùa Viên Giác tại Đức quốc; Đại đức Thích Như Giáo, Thích Như Thanh, Thích Viên Như, Ni sư Thích Nữ Như Viên… cả Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, sa di ni có hơn 20 vị. Đệ tử tại gia rải rác khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam nói chung và thị xã Hội An nói riêng có đến vài ngàn vị.
Đặc biệt, Hòa Thượng rất chú trọng đến vấn đề giáo dục thanh thiếu niên Phật Giáo-những mầm non tương lai của Giáo Hội. Vì thế, suốt cả cuộc đời Ngài luôn gắn bó với tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Ngài đã chịu trăm đắng ngàn cay để duy trì tổ chức Gia Đình Phật Tử Quảng Nam trong những giai đoạn cam go của những khúc quanh lịch sử thời đại. Và Ngài đã giữ trọng trách Trưởng Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Quảng Nam kể từ sau ngày đất nước độc lập cho đến khi về với cảnh giới của chư Phật.
Cuộc đời của Hòa thượng quả là gắn liền với hình ảnh một số tăng sĩ trong thời đại chiến loạn. Ngài không ngừng thấu triệt lời dạy của chư Phật, đem hết khả năng của mình dung hợp với tinh thần Từ, Bi, Hỷ, Xả cứu độ chúng sanh, phụng sự Đạo Pháp và Dân Tộc trong ý thức “Phật pháp bất ly thế gian pháp”.
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 17 Tháng 4 2013 07:54
Lược sử chùa Viên Giác - Hội An
Chùa Viên Giác tọa lạc tại khối phố 3, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam là một trong những ngôi cổ tự được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Chùa được xây dựng theo kiểu kiến trúc chùa xưa Quảng Nam do Hòa Thượng Thích Long Trí trùng tu lại vào năm 1990. Đồng hành cùng với lịch sử dân tộc, trong các lần pháp nạn, Viên Giác là “cái nôi” của các cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng Tôn giáo và độc lập chủ quyền đất nước. Và cũng là nơi an ủi vỗ về nhân dân trong thời quê hương ly loạn. Vì thế, tìm về lịch sử, niên đại thành lập…cùng những bước thăng trầm mà bậc tiền bối đã qua để truy niệm công đức đạo tâm của tiền nhân, ngõ hầu hậu lai học hỏi tiếp nối.
1. Sự thành lập và quá trình phát triển
Cho đến nay, chúng ta chưa xác định được cụ thể niên đại ra đời của chùa Viên Giác. Tuy nhiên, theo tìm hiểu và khảo sát của các nhà khảo cổ trên các phiến đá tại chùa có đường nét hoa văn họa tiết thời Lê thì có thể khẳng định rằng: chùa được thành lập vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
Chùa được dân làng Cẩm Phô kiến tạo, đặt tên là Cẩm Lý Tự và tọa lạc tại thôn Xuyên Trung, xã Cẩm Phô, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Lúc bấy giờ, vào thời các chúa Nguyễn và đầu triều Gia Long thì xã Cẩm Phô có 3 ấp và 3 thôn. 3 ấp là: Tu Lễ, Xuân Lâm, Xuân Mỹ nằm bên này sông Thu Bồn và 3 thôn là: Xuyên Trung, Hà Trung và Thanh Nam nằm bên kia sông. Thời Tây Sơn, Viên Giác là một trong những chùa dần suy tàn trong chiến tranh. Vào năm Gia Long thứ 13, Canh Tuất (1814) chùa mới được trùng tu lại. Điều này được khẳng định qua di chỉ quả chuông xưa của chùa được khắc với lạc khoảng như sau “Gia Long thập tam niên, tuế thứ Giáp Tuất mạnh hạ nguyệt kiết nhật kỉnh lập” và “Linh Miễu tộc Đông phái đồng tạo chung phụng cúng Cẩm Lý tự”.
Đến thời Thiệu Trị, khu vực thôn Xuyên Trung bị sạt lở, một phần lớn đất đai đã chìm vào dòng Thu Bồn. Vì thế, dân làng quyết định thiên di chùa, đình và văn chỉ từ thôn Xuyên Trung về tại ấp Tu Lễ (tức khối phố 3, phường Cẩm Phô như hiện nay). Trong lần thiên di tái thiết này, chùa được đổi tên từ Cẩm Lý Tự thành Viên Giác Tự, tính đến nay đã tròn 170 năm. Hiện nay trên cây xa cò (đòn đông) chùa còn ghi rõ “Thiệu trị nguyên niên, tuế thứ Tân Sửu trọng hạ nguyệt kiết nhật Cẩm Phô xã viên chức bổn xã tịnh Đông Tây nhị phái đồng trùng tạo”. Nghĩa là vào ngày tốt tháng 6 năm Thiệu Trị thứ nhất, Tân Sửu (1841) viên chức xã Cẩm Phô cùng với hai phái Đông Tây cùng trùng tu tái tạo.
Về sau, chùa được hương lý và dân làng Cẩm Phô trùng tu hai lần, lần thứ nhất vào năm Thành Thái nguyên niên, Kỷ Sửu (1889); lần thứ hai vào năm Bảo Đại thứ 11, Bính Tý (1936) nhưng cũng chỉ có chánh điện và cổng tam quan.
Sự sinh hoạt của chùa lúc bấy giờ cũng chỉ mở cửa theo lệ Tam Ngươn Tứ Quý, còn lại thì đóng cửa quanh năm. Đến năm Bính Tuất (1946), thân hào xã Cẩm Phô mới sắm lễ ra tổ đình Chúc Thánh thưa đức Tăng cang Thích Thiện Quả cho thỉnh một thầy về làm giám tự. Ban đầu là thầy Như Đương (tức thầy Mười), kế đến là thầy Như Hảo (tức thầy Chất) được cử về trông coi chùa Viên Giác. Nhưng do tuổi già sức yếu lại không có phương tiện cũng như còn lệ thuộc vào làng nên hai thầy không thể tham gia vào phong trào chấn hưng Phật giáo. Chính vì thế mà những hoạt động của chùa qua nhiều năm dường như không phát triển. Sau khi nhiều lần hội họp, bàn bạc thảo luận nghiên cứu, thân hào đi đến kết luận: sở dĩ ngôi chùa không phát triển được là do không nằm trong hệ thống Giáo Hội Phật Giáo. Do đó, thân hào và nhân dân của xã đồng tâm cúng chùa Viên Giác cho Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng. Vào tháng 6 năm Kỷ Sửu (1949), Giáo Hội làm lễ tiếp nhận và đề cử Đại Đức Thích Long trí về làm Tự trưởng và chính thức trụ trì vào năm 1951.
2. Chùa Viên Giác trong lòng Phật giáo Quảng Nam.
Từ khi chính thức trụ trì, Đại đức Thích Long Trí từng bước xây dựng lại ngôi chùa đang đi vào tình trạng xuống cấp. Đầu tiên, Đại Đức thống nhất khu vực đất của chùa. Bởi chùa lúc trước bị bỏ hoang nên những nhà lân cận đã chiếm dụng để canh tác trồng trọt. Hơn nữa, lại có một con đường băng ngang cắt rời chánh điện và cổng tam quan nên Đại đức đã từng bước vận động bà con trả đất lại cho chùa và rào lại khuôn viên bổn tự như ngày hôm nay. Thứ đến, Đại Đức bắt đầu tu bổ chánh điện cũng như bố trí lại sự thờ tự cho đúng nghĩa một ngôi chùa Phật giáo (Vì trước đây là chùa làng nên việc thờ tự có phần lẫn lộn giữa Nho-Lão-Thích). Mãi đến năm Nhâm Dần (1950) thì các công việc trên mới được hoàn thành.
Và từ đó, nơi đây đã trở thành trụ sở của Gia đình Phật tử Quảng Nam và cũng thăng trầm theo lịch sử dân tộc. Đặc biệt trong các lần pháp nạn 1963, 1966, chùa là trung tâm đấu tranh bảo vệ tự do tín ngưỡng cũng như độc lập chủ quyền đất nước. Các vị Thánh tử đạo: Lê Đình Linh, Nguyễn Cúc, Nguyễn Dần, Văn Bá Hoành, Phạm Hữu Diện, Phạm Hữu Nghiệp v.v...đã nằm xuống để đạo pháp được trường tồn. Không những thế, đây cũng chính là trung tâm từ thiện cho phong trào Mặt trận cứu đói Miền Trung khi chiến tranh Việt-Mỹ cao độ vào năm 1972. Ngoài ra, Ngài đã xây dựng một hệ thống các chùa sinh hoạt gắn bó với chùa Viên Giác qua những Phật sự tại các huyện thị. Từ chùa Viên Giác, Cố Hòa thượng đã đào tạo được một số vị đệ tử hữu danh như: Cố Hòa thượng Thích Tâm Thanh, khai sơn Vĩnh Minh Tự Viện, Lâm Đồng; Hòa thượng Thích Như Điển, khai sơn chùa Viên Giác tại Đức v.v...
Năm 1980, Thượng tọa Thích Như Huệ sang Úc hoằng pháp nên Thượng tọa Thích Long Trí về trụ trì tại Pháp Bảo để tiện việc điều hành Giáo hội. Do đó, mọi sinh hoạt của chùa Viên Giác gần như gián đoạn. Đến năm 1990, Hòa thượng Thích Long Trí về lại Viên Giác trùng tu bổn tự và lễ khánh thành được tổ chức vào rằm tháng 8 cùng năm. Từ đây, Hòa thượng trực tiếp điều hành Phật sự tại Viên Giác cho đến ngày viên tịch 13 tháng 9 năm Mậu Dần (1998). Qua đó cho thấy, gần 50 năm gắn bó với chùa Viên Giác, cố Hòa thượng Thích Long Trí đã đưa chùa Viên Giác vào trong lòng Phật giáo Quảng Nam. Ngài đã biến một ngôi chùa làng thành một ngôi Phạm vũ có tầm vóc và vị thế đặc biệt quan trọng trong lịch sử Phật giáo đất Quảng.
3. Các đời trụ trì.
Hơn 100 năm, kể từ khi thiên di tái thiết (1841 - 1949), chùa Viên Giác không có Tăng trụ trì. Tất cả đều do hương chức của làng Cẩm Phô quản lý. Nếu có thì cũng chỉ hương khói kinh kệ chứ thực chất không có thẩm quyền để điều hành Phật sự. Từ tháng 6 năm Kỷ Sửu (1949), Hòa thượng Thích Long Trí là vị trụ trì đầu tiên chính thức tại Viên Giác nên cũng được coi như Sơ tổ của chùa vậy. Bởi vì từ Hòa thượng, chùa Viên Giác mới có sự truyền thừa phát triển khắp các nơi trong nước cũng như hải ngoại. Năm 1998, Hòa thượng Thích Long Trí viên tịch, Ngài đã di chúc cho trưởng tử là Thượng tọa Thích Như Điển kế nghiệp trụ trì. Tuy nhiên, Thượng tọa Thích Như Điển đang hành đạo tại Đức nên không về được. Thượng tọa đã ủy nhiệm cho chư huynh đệ tại chùa chăm lo Phật sự. Đến năm 2003, Thượng tọa Thích Như Điển đã cử Đại Đức Thích Như Tịnh chính thức trụ trì chùa Viên Giác từ đó đến nay. Niên biểu trụ trì chùa Viên Giác như sau:
STT
Đạo hiệu
Năm sinh và tịch
Năm trụ trì
1
Hương hào xã Cẩm Phô
1841 - 1949
2
Chơn Ngọc Đạo Bảo Long Trí
1928 - 1998
1949 - 1998
3
Như Điển Giải Minh Trí Tâm
1949
1998 - 2003
4
Như Tịnh Giải Nghiêm Viên Bổn
1976
2003 đến na
4. Các công trình trùng tu và kiến tạo.
Từ khi dời về địa điểm tại thôn Tu Lễ, tính từ năm 1841 đến năm 1949, chùa Viên Giác đã được thân hào và nhân dân trong làng Cẩm Phô trùng tu hai lần vào năm Kỷ Sửu (1889) và năm Bính Tý (1936). Sau khi hiến cúng cho Phật giáo và kể từ khi Cố Hòa thượng Thích Long Trí trụ trì cho đến nay, chùa đã từng bước kiến tạo như sau:
Bảng hiệu chùa được lập năm Thiệu Trị nguyên niên, Tân Sửu (1841)
Chùa Viên Giác vào những thập niên 40 của thế kỷ XX
Chùa Viên Giác vào những thập niên 70 của thế kỷ XX
Hòa thượng Thích Long Trí và chùa vào năm 1972
Tượng Phật cổ tại chùa Viên Giác
Tượng tổ Đạt Ma với tư thế ngồi cầm cuốn kinh và chuổi hạt. Một hình tượng đặc thù của nghệ thuật tạc tượng thời Minh Mạng tại Quảng Nam
Quả chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 13, Canh Tuất (1814)
Cây Xa Cò ghi lại lần thiên di tái thiết năm Thiệu Trị nguyên niên, Tân Sửu (1841)
Văn bia trùng tu chùa Viên Giác năm Tân Sửu (1841)
Cổng chùa Viên Giác từ năm 1841 đến nay
Toàn cảnh chùa Viên Giác
Chánh điện chùa Viên Giác
Tổ đường chùa Viên Giác
Giảng đường chùa Viên Giác
Một trong những tượng Thập Bát La Hán được tạo năm 2003
Toàn cảnh bảo tháp Cố Hòa thượng Thích Long Trí
Tháp chuông chùa Viên Giác
Rêu phong cùng năm tháng
Năm Quý Tỵ (1953), nhận thấy con em chung quanh chùa không có điều kiện để theo học tại các trường công, Đại đức trụ trì xây dựng trường tiểu học Khai Trí ở phía Đông chùa để tạo điều kiện cho con em được học hành.(1) Năm Ất Mùi (1955), xây dựng nhà Tăng phía trái chánh điện. Năm Bính Thân (1956), tu sửa lại chánh điện và trang nghiêm nơi thờ tự. Năm Giáp Thìn (1964), xây dựng văn phòng Thanh Niên Phật tử Quảng Nam.(2) Năm Ất Tỵ (1965), xây 2 lầu chuông trống và tu bổ cổng tam quan. Năm Bính Ngọ (1966), xây dựng hội trường và nhà khách cùng các công trình phụ như nhà trù, nhà vệ sinh v.v… Năm Nhâm Tý (1972), san lấp hai ao nước trước chùa với mục đích xây dựng trường Bồ đề nhưng chưa thực hiện thì hòa bình lập lại. (3) Năm Canh Ngọ (1990), đại trùng tu chánh điện vì đã hư hoại qua cơn bão số 2 năm 1989. Năm Nhâm Thân (1992), xây dựng tầng trên của nhà giảng để có nơi cho khách Tăng lưu trú. Năm Mậu Dần (1998), kiến tạo bảo tháp Cố Hòa Thượng Bổn sư. Năm Quý Mùi (2003), tạo tượng Thập Bát La Hán. Năm Mậu Tý (2008), chú nguyện đại hồng chung Năm Kỷ Sửu (2009), kiến tạo tháp chuông và chỉnh trang lại tổ đường. Năm Canh Dần (2010), tạo tượng Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền.
Qua đó ta thấy, từ xưa đến nay, mái chùa luôn đồng hành cùng lịch sử dân tộc và cũng là chỗ dựa tinh thần của nhân dân dù thời bình hay loạn. Chính vì thế mà thi sĩ Huyền Không đã từng nói:
Mái chùa che chở hồn Dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông
Mỗi ngôi chùa ra đời trong một hoàn cảnh và tùy theo bối cảnh thực tiễn mà đóng góp vào công cuộc xây dựng xã hội ngày một hoàn thiện hơn. Chùa Viên Giác cũng thế, trải qua suốt chiều dài gần 200 năm có mặt và trên 50 năm sinh hoạt trong ngôi nhà Phật giáo đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển và sự trường tồn của Đạo pháp và Dân tộc. Chính vì lẽ đó, chùa Viên Giác đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1992. Hiện tại chùa Viên Giác còn lưu giữ một số tượng Phật xưa cũng như các văn bia, phiến đá v.v...rất có giá trị về mặt lịch sử. Và cũng mong rằng, trong xu hướng đổi mới của thời đại, chùa Viên Giác sẽ lấy lại cảnh quan như xưa và đóng góp nhiều hơn nữa trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh và sự bình an của Dân tộc.
Bị chú:
(1). Trường này sau được làm nhà Đông để Tăng chúng tu học. Đến năm 1990, trùng tu chánh điện thiếu ngói nên được tháo dỡ. (2). Nay là tháp chuông bên phải của chùa. (3). Khu đất này nay đã bị chiếm dụng làm nhà ở và chợ Cẩm Phô.
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 17 Tháng 4 2013 07:55
Lâm Tế Nghĩa Huyền tiếng hét vang động trong vô cùng
Lâm Tế (? 867) người được mệnh xưng hy hữu độc đáo trong Thiền Tông, có một tuyệt chiêu quái đản, xoáy thẳng vào trọng tâm Giác ngộ của người đối diện. Tiếng hét tựa như tiếng nổ long trời lở đất, kẻ nào nghe phải đinh tai nhức óc chấn động cả hệ thần kinh, đẩy thẳng kẻ ấy lên tận mây ngàn chơi vơi giữa khoảng không chẳng bám vào đâu được, âm ba của nó cuồn cuộn như hải triều quét sạch chướng ngại cuốn phăng vào lòng đại dương. Lâm Tế xử dụng với những xảo thuật tinh diệu mà không cần phải lý luận, người tiếp nhận vẫn đạt được giác ngộ trong sự gay cấn, khiếp đảm, cùng cực nhất.
Lâm Tế đã từng vung những cú đánh làm người thưởng ngoạn quên đi nỗi đau thân xác, lách mình tìm tới chặng đường trực giác. Mấy mươi thế kỷ đã đi qua những khởi động ngài tung ra vẫn còn tìm ẩn trên đỉnh non cao đổ xuống cuộc đời, tắm mát con người chìm lặng trong bể trầm luân, chơi vơi trong hố thẳm. Đâu đó âm vang như được dịp chọc thủng màng tai, ngự mãi trong dòng nhân sinh luân chuyển, còn lại khoảng không chứa đầy âm hưởng của tiếng hét huyền diệu năm xưa bỗng vọng về.
I. LÂM TẾ VÀ CON ĐƯỜNG TÌM ĐẾN GIÁC NGỘ
Thời gian lững lờ trôi nhanh, như chiếc lá vàng vừa mới rụng, đã ba năm trôi qua mà Lâm Tế chưa tìm thấy được bản lai diện mục của mình, dù hằng ngày sống trong không khí bao phủ của Thiền. Mãi đến khi vị thủ tọa hỏi:
- Ông ở đây bao lâu rồi ?
- Thưa ba năm.
- Ông đã gặp Thầy lần nào chưa ?
- Thưa chưa.
- Tại sao chưa?
- Tại vì tôi không có câu nào để hỏi Thầy.
Vị thủ tọa bảo: “Đi gặp Thầy và hỏi yếu chỉ đạo Phật là gì.” Lâm Tế vâng lời và đến gặp Hoàng Bá để hỏi: “Yếu chỉ đạo Phật là gì?” Câu hỏi vừa xong âm vang của nó chưa kịp tan loãng vào hư không Lâm Tế bị đánh ba mươi hèo. Đã ba lần như vậy và lần nào cũng đau thấu tâm can thân xác mỏi mệt vì thấm đòn. Ra về mà lòng vẫn còn hậm hực, thiểu não, Giác ngộ làm gì? Khi thân xác rã rời tâm tư khép chặt, nỗi đau nói không nên lời, nhưng Lâm Tế quyết không hề nãn lòng thối chí trước những hung bạo của Huỳnh Bá. Ba năm trường Lâm Tế đến Huỳnh Bá để tìm cầu sự chứng ngộ, lẽ nào không có một câu hỏi với sư phụ thì làm sao có thể giải đáp cho mình sự tha thiết cầu mong. Có lẽ sự yên lặng ấy là giai đoạn Lâm Tế đang tự mình truy cứu bằng những phương thức để thấy được bổn tâm, và có lẽ chính nhờ tự gõ vào tâm thức ấy mà Lâm Tế cảm thấy mù mờ mọi ngôn từ không có gì để hỏi Huỳnh Bá, từ đó quá trình tu tập thu ngắn lại, khi mà vị Thủ tọa biết thời cơ mới khuyên Lâm Tế tìm gặp Sư phụ. Sau đó ba lần hỏi đều bị ăn đòn, mà con đường giác ngộ vẫn chưa thấy. Lâm Tế quyết định đi tìm thầy khác. Huỳnh Bá chỉ ngài đến Đại Ngu, khi Lâm Tế đến, Đại Ngu hỏi:
- Ở đâu tới?
- Ở Hoàng Bá
- Hoàng Bá có dậy dỗ những gì ?
- Nghĩa Huyền nầy ba lần hỏi về yếu chỉ của đạo Phật thì cả ba lần đều lãnh đủ nhiều gậy mà chẳng được dạy gì cả, chẳng biết tôi có lỗi gì ?
Đại Ngu bảo:
- Chẳng ai có thể tốt bụng hơn gã Hòa Thượng hủ lậu đó, thế mà ngươi còn muốn biết mình có lỗi ở đâu.
Bị Đại Ngu la rầy quở mắng Lâm Tế mới chợt thấy được cái dụng của Hoàng Bá chứa đầy sự thương mến trong cung cách tàn bạo. Ngài bèn thốt lên:
- Thế ra Phật Pháp của Hoàng Bá chẳng có chi nhiều.
Đại Ngu nắm ngay lấy cổ áo của Lâm Tế và bảo:
- Phút trước nhà ngươi nói không hiểu nổi, bây giờ bảo chẳng có chi nhiều, thế nghĩa là gì ?
Lâm Tế không trả lời, lại đánh vào cạnh sườn Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu gỡ ra và bảo: “Thầy ngươi là Hoàng Bá, việc này chẳng can gì đến ta”.
Khi Lâm Tế trở lại, Hoàng Bá hỏi:
- Sao lại về nhanh thế ?
- Vì thầy quá tử tế như bà nội.
Hoàng Bá nói:
- Đợi khi nào gặp gã Đại Ngu ấy ta cho gã hai chục gậy.
Lâm Tế đáp: “Khỏi cần gặp, có ngay đây”.
Vừa nói, vừa vỗ cho lão hòa thượng một chưởng thật nặng. Lão hòa thượng cười ha hả !
Lâm Tế trải qua những trận đòn hối thúc đau điếng và cũng chính nhờ những lần đau ấy mà tâm thức trở nên tinh luyện, chặng đường đi đến tìm gặp Đại Ngu là cơ hội để Lâm Tế suy gẫm thật nhiều cung cách mà Hoàng Bá đã đối xử với Lâm Tế, và nhờ đó điểm cuối cùng có cơ may bùng dậy khi nghe những lời trách bảo của Đại Ngu. Lâm Tế dù không hỏi Hoàng Bá trước đó, bởi khoảng thời gian nầy đang có những cái bất an, bao phủ tâm tư một cách mù mờ, chưa tìm gặp vị thế hẳn hoi, nhưng không khí Thiền hàng ngày Lâm Tế cảm nhận vẫn là những trợ duyên vô cùng cần thiết và tác động mãnh liệt trong nội tâm của ngài, tự mình chìm lặng trong cái ẩn hiện mênh mang của Thiền. Nếu không gõ cửa thì cửa không bao giờ mở. Lâm Tế chỉ thấy một cách mang máng ở tâm tư mình nhưng, vẫn chưa xác định sự hiện diện của nó là cái gì, chỉ có dấu hỏi to tướng nhưng Lâm Tế chẳng biết phải hỏi như thế nào, có cái gì không được an ổn đang ngự trị, những rối rắm chưa biết đâu là đầu mối để phăng ra khỏi cái gút, mãi đến khi “Yếu chỉ Phật Pháp là gì ?” Lâm Tế mới bám chặt vào công án nầy, từ đó phăng ra con đường đi đến giác ngộ. Những mù mờ thấp thoáng trở nên những chất liệu cần thiết để Lâm Tế đủ năng lực bám thật chặt vào gút ấy, cái ẩn ngăn nầy là những diệu dụng mà Lâm Tế đã huân tập trong ba năm nhưng, không biết xử dụng nên nó trở thành bàng bạc không rõ. Nhờ cái ấn nhẹ tay của Đại Ngu, Lâm Tế mới choàng mình thấy được Phật Pháp nơi Hoàng Bá.
Con đường giác ngộ của Lâm Tế quả cam go, bù lại để được những lời giải thích thì có những cú đánh thay câu trả lời. Ngài đủ kiên nhẫn chịu đựng đến lần thứ ba quả cũng vĩ đại rồi. Để rồi sau đó cuộc đời Lâm Tế xử dụng tiếng hét, cú đánh như trước đó ngài tận hưởng. Chính nhờ thấu triệt tấm lòng từ của Sư Phụ nên Lâm Tế không ngần ngại áp dụng phương cách nầy và cũng để biểu lộ, khai thị kẻ đối diện sự thương mến đi kèm với tiếng hét cú đánh.
II. TIẾNG HÉT TUYỆT KỶ CỦA LÂM TẾ
Tiếng hét của Lâm Tế đã từng gây rung chuyển núi đồi chập chùng, làm rúng động thiền môn. Kẻ nào nghe phải khiếp đảm đầu óc như vỡ tung ngay. Lâm Tế xử dụng nó như một tuyệt tác phi thường, âm ba tựa muôn ngàn âm thanh quái đản, khủng khiếp trỗi lên cùng lúc đẩy lùi khoảng không đến tận cùng sự vật.
Lâm Tế chia ra làm 4 loại hét:
- Có tiếng hét như gươm báu vua Kim Cang
- Có tiếng hét như bốn vó sư tử vàng trụ bộ trên mặt đất
- Có tiếng hét như cần câu quơ bóng cỏ
- Có tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét.
Trước Lâm Tế có Mã Tổ (709-788) đã xử dụng tiếng hét khi Bách Trượng (724-814) đến hỏi Thiền. Nhưng đến thời Lâm Tế khai triển nó trở thành tuyệt chiêu, do cách xử dụng vi diệu và hiệu năng phi thường của nó, đẩy tung kẻ đối diện bay bổng lên tận trời cao, rơi vào khoảng không hụt hẫng. Hễ mở miệng ra là bị tiếng hét nầy chun vào đánh phá trong tận cùng tim phổi, và hễ chuẩn bị mở miệng là bị hét tới tấp, làm cho kẻ đối diện chùng bước trước những suy luận, không biết phải bám vào đâu, chỉ còn cách phải trực diện may ra có thể tránh né và tìm điểm tựa. Nhưng hình như Lâm Tế biết điều này, nên tiếng hét có công năng bao phủ tất cả những lối đi lại của tâm thức, và ngay lối vào Giác Ngộ nó cũng bao bọc, đầu óc căng ra như quả nổ đang châm ngòi, nếu được nổ tung lên thì những bao phủ nầy trở thành mây khói tan loãng ngay. Còn nếu không, những run sợ hoang mang ray rứt cứ thế mà đè nặng lên tâm tư, không còn kẽ hở để ấn xuống, nhưng vẫn phải chấp nhận đến độ quật ngược tung mình ra khỏi mọi tương quan. Mục đích những xảo dụng, nhằm đưa ta tìm tới sự giác ngộ, không cần phải đi qua những lối mòn mà kẻ khác để lại trong những lần dọ dẫm hụt chân. Tiếng hét giúp ta khơi dậy những gì yên ngủ bấy lâu nay, do Vô Minh phong tỏa lối về, những bất an lúc nào cũng chờ chực sẵn, xông tới đẩy chúng ta rơi vào thế đấu tranh trường tồn trên những lo sợ, khổ đau hệ lụy đang bao phủ suốt đời.
Thiền giúp chúng ta tìm đến sự an vui, không cần phải dùng đến những lý luận bàn cãi sôi động của ý thức chi phối, những điều này trước đó đã hơn một lần đưa ta rơi vào thế bí không lối thoát, sự dựng nên thành trì tri thức không bao lâu lại bị kẻ khác lôi xuống đập phá, thêm vào đó ý thức mới phù hợp với hiện tình, nhưng rồi sau đó cùng chung số phận như lần trước. Cuộc đời sao cứ diễn mãi những trò ảo mộng như thế ?
Tiếng hét của Lâm Tế dồn chứa công lực thâm hậu, khi được xử dụng mạnh như vũ bão, xoáy lốc những chướng ngại đang hiện diện, tạo thành cơn cuồn phong dữ dội, quét sạch mọi tăm tối đang ngự ẩn trong kẻ đối diện, hiệu năng này có tác dụng chuyển hóa những quan niệm sai biệt trở nên diệu dụng và đưa hành giả thoát ra ngoài những biên kiến. Nhiều khi lối xử dụng nầy nhẹ nhàng uyển chuyển như làn gió hạ hây hẩy thổi nhè nhẹ lùa qua khung cửa, làm kẻ thưởng ngoạn cảm thấy tâm tư nhẹ nhàng lâng lâng thoát tục. Lâm Tế xử dụng tiếng hét, thoạt đầu khi nghe nói đến hét con người sẽ hình dung ra những dữ dằn của hét và nét run sợ của kẻ bị nghe hét, tuy nhiên đây là phương thức diệu dụng nhằm đưa chúng ta choàng tỉnh sau những tháng năm yên mình trôi lăn trong phiền trược, đột nhiên một âm vang cao vút dội mạnh vào tâm tư, bao nhiêu ý nghĩ ngổn ngang hốt nhiên dừng lại, từ đó cho chúng ta thấy ngay sự hiện diện chính mình trước những đe dọa, để ta có thể tìm phương xô đẩy sự bao phủ nầy, thoát ra ngoài con đường dẫn đến hố thẳm điên loạn triền miên. Và xảo thuật này đánh mạnh vào ý lực, nếu chúng ta trước đó đã nhiều lần tra vấn, chiêm nghiệm bản lai của mình nhưng vẫn chưa tìm thấy mặt mũi của nó, thì may ra từ sự rung chuyển này đưa ta thoát khỏi cơn thèm khát giác ngộ. Tựa như một hòn đá khi cuốc đất đụng phải, bay bổng vào bụi tre, gặp phải cây tre phát ra tiếng vang mà người cuốc đất bỗng nhiên hoát ngộ. Cách xử dụng tiếng hét của Lâm Tế đạt đến mức chuyên nghiệp đúng thời điểm thì nó mới xuất hiện và chắc chắn kẻ nào diễm phúc được nghe, cởi bỏ thoát thân một lần. Lâm Tế không biện luận lôi thôi khi có kẻ tìm gặp, câu trả lời tuyệt diệu là tiếng hét đinh tai đưa đến trực ngộ.
Ngoài tuyệt kỷ hét này ra Lâm Tế còn xử dụng lối đánh một cách ngoạn mục nữa, nếu bị hét thì không đánh và ngược lại nếu đánh thì không hét, và cũng có lúc Lâm Tế xử dụng cả 2 phương cách, nếu dùng đến thì kẻ đối diện chớp nhoáng có thể tìm thấy bộ mặt thật của mình khi âm vang chưa tan loãng.
Lâm Tế chia ra làm 8 loại đánh (bát bổng)
- Thưởng bổng - Phạt bổng - Tung bổng - Đoạt bổng - Ngu si bổng - Hàng ma bổng - Tảo tích bổng - Vô tình bổng
Có một lần Định Thượng Tọa hỏi Lâm Tế: “Thế nào là đại ý của Pháp Phật”. Lâm Tế bước xuống Thiền sàng, nắm lấy thượng tọa, xáng cho một bạc tai, rồi xô ra. Định đứng khựng. Ông tăng đứng bên nhắc “Định thượng tọa sao không lạy Hòa thượng đi”. Định toan lạy thì ngay lúc ấy hốt nhiên đại ngộ.
III. DIỆU DỤNG CỦA TIẾNG HÉT TRONG THIỀN
Thiền nhắm đến phát huy và phục hồi nguyên ủy giác ngộ vốn sẵn có trong mỗi con người, hiệu năng thông đạt mọi dính mắc của tiếng hét, trở nên một trong những nét độc đáo trong Thiền. Chưa ai có thể cho chúng ta định nghĩa chắc chắn về Thiền, bởi lẽ Thiền vốn thoát ly ra khỏi ngôn từ, không lưu lại bóng dáng gì cả và thiền là sự linh năng, tri thức con người không thể kéo nó xuống để dán vào đó những định lý được. Nếu có điều này, thì không thể gọi là Thiền, nhưng trong tất cả và trên tất cả đều có nó hiện hữu. Chính vì không trói buộc trong ngôn từ nên hầu hết những vị Thiền sư rất ít khi phải biện luận dông dài, đáp lại điều này những tiếng hét, cú đánh, một vài lời không lúc nào ăn khớp với câu hỏi. Nhưng những điều này nhằm đặt lại vị trí cần thiết để giác ngộ vụt lên. Biện luận nhiều cũng không thay đổi được tâm thức kẻ đối diện, vì hầu hết con người hay nương theo và lầm tưởng ngôn ngữ là yếu tố quan trọng, chấp ngón tay là mặt trăng. Nếu đã rơi vào cửa ngõ chết cứng nầy, thì làm sao có thể băng mình tìm tới cửa ngõ của rỗng không? Tiếng hét trút ra tất cả những định lực vốn un đúc sẵn trong Thiền sư đánh mạnh vào tâm thức may ra tìm thấy được thức giác kẻ đối mặt. Âm vang của nó cao vút lên tận trời xanh, luồng kình lực nầy đẩy lùi những toan tính đang chận lối rơi vào hố thẳm của hư vô, phục hồi lại những giá trị mà thời gian không tàn phá vốn có sẵn trong mỗi con người.
Trong lịch sử Thiền Tông hai vị nổi danh nhất trong việc dùng tiếng hét để khai thị đó là: Vân Môn Văn Yển (?949) và Lâm Tế Nghĩa Huyền (?867) Vân Môn thì quát “Quan” còn Lâm Tế thì hét “Ha”. Hai thán từ nầy khác nhau, nhưng giống nhau nhằm mục đích quát tháo để giác ngộ bùng lên. Tuyết Đậu (980-1052) ca ngợi về thán từ nầy “Quan”: “Đã mất tiền toi còn mang tội vạ” Bạch Ẩn (1683-1768) bình rằng “Quả đấm dầu giận mấy, cũng không đánh vào mặt hoa” Nếu dùng ý niệm tri thức để truy cứu thì sẽ không tìm thấy được trả lời nào cho chúng ta, lạc lối như Lưu Nguyễn tìm lại động Thiên Thai.
Những Thiền sư khi vấn đáp với kẻ tìm đến không nằm trong khuôn phép luận lý nào, vì vậy hé mở cho chúng ta thấy đàng sau ngôn từ, sự cảm thông để nương theo đó tìm đến giác ngộ vẫn gần hơn, khi phải co mình trong những luận cứ, lập luận. Cách trả lời này chỉ là trá hình của tiếng hét hay cú đánh nhưng, bằng ngôn từ nửa thực nửa vô. Tiếng hét của Lâm Tế rất thịnh hành. Cho đến bây giờ trong thiền môn vẫn còn ngự trị tiềm ẩn, bước vào cổng tam quan chấn động ngay chữ “Quan” của Vân Môn dù chữ Quan nầy là cửa ải nhưng ở đây không có cửa nào hết, nếu có thì mở tung cửa để giác ngộ. Tiếng Ha từ trong tống thẳng ra làm bay bổng lên tận mây trời, nó len lõi vào thời không, ẩn mình trong tất cả những ngõ ngách, ngay khóm trúc cành hoa cũng có mặt tiếng Ha nầy ngự tìm, núp ẩn. Nếu không rũ sạch bụi trần thì không thể nào tìm thấy được sự có mặt vô cùng của nó.
Tiếp nhận sự vi diệu tuyệt vời của tiếng hét, đòi hỏi kẻ đối diện phải dứt trừ mọi nắm bắt đuổi theo phiền trược, đối diện với nó như nhìn với tất cả tâm thành tha thiết, bặt hết trần lao, nhưng yếu tố quan trọng là phải vận dụng xương tủy máu thịt mình, để những tác động của tiếng hét đánh thức màng vô minh bao trùm, phải tạo khoảng không để tiếng hét nầy tìm vào thì mới có cơ duyên để giác ngộ trỗi dậy, tìm được con đường đó không phải là một chuyện ai làm cũng được, hầu hết chúng ta ít chịu tạo cho mình cửa ngõ để đến tịch nhiên. Phải huân tập thật nhiều ý lực vượt thoát tử sinh và đánh phá liên tục vào tâm tư thì mới có thể dọn đường cho tiếng hét đến tác động thẳng trong ấy. Những đột biến do công năng của nó khơi dậy, may ra đó là đường dây để ta có thể phăng mình tới được đầu mối đích thực trực tiếp với chân lý, không còn run rẩy với cuộc sống không một chỗ dừng cho tương lai nầy nữa.
Dù rằng hiệu năng của tiếng hét Lâm Tế bắt tâm của mình phải tìm cách giải quyết một vấn đề không thể giải quyết được. Thực ra nếu không dồn chúng ta vào thế bí, thì làm sao từ đó có thể thoát ra khỏi bóng tối, nếu Lâm Tế không đẩy ta vào tận cùng những đe dọa khiếp đảm, thì ta không có đủ nghị lực để bình an trước những hãi sợ. Những vấn đề mà chúng ta cho là không giải quyết được, bởi lẽ chưa lần nào ta đem nó lên bàn mổ tâm linh để chiêm ngưỡng, nếu đã đem lên thì không còn quan trọng nữa, dầu sao cơ hội tìm lại một cách thật sự trong nội tâm, vẫn có khả năng lãnh hội được những diệu dụng khi có cơ duyên đối gặp Thiền Sư. Chỉ sợ khi nào chúng ta phó mặc thân phận mình cứ mặc cho con nước đưa đến đâu thì đến, muôn kiếp khó có thể thông đạt được mọi lý lẽ tử sinh của cuộc đời.
IV. GIÁ TRỊ ĐỘC ĐÁO NHỮNG BÀI PHÁP CỦA LÂM TẾ
Lâm Tế có lối nói pháp khiến tóc tai ta phải dựng đứng, trợn mắt, nhằm cách mạng đập tan hiển lộ nên sự thật, lắm lúc sự thật nầy phũ phàng như chính cái phũ phàng mà ta đang lặn hụp. Lâm Tế muốn lột trần cuối cùng tất cả, những giả dối con người đang trang sức phết tô để dệt nên một thần tượng phi lý, tôn thờ theo chủ nghĩa của lừa lọc. Lâm Tế còn đập vỡ tung những hình tướng con người qui phục. Vì hình tướng chỉ là lớp sơn bên ngoài tự nó phải tiêu hủy.
“Bậc đạo nhân chân chánh tuyệt không nắm Phật, không nắm Bồ Tát La Hán, cũng không nắm ba cõi thù thắng, quyết nhiên không câu chấp vào ngoại vật, thì trước mắt chánh pháp, vào lửa không phỏng, vào nước không chìm, vào ba đường địa ngục như dạo vườn cảnh, vào ngạ quỉ súc sanh mà chẳng thọ báo, vào sắc giới chẳng bị sắc mê hoặc, vào thanh giới chẳng bị thanh mê hoặc, vào vị giới chẳng bị vị mê hoặc, vào xúc giới chẳng bị xúc mê hoặc, vào pháp giới chẳng bị pháp mê hoặc".
Sáu căn của con người khi đối diện với trần cảnh thường khởi ra những tham đắm nên phải trôi lăn trong tử sinh, nếu xoay chuyển tất cả cửa ngõ bên ngoài để quán chiếu vào thể tánh thì mới có thể đi vào đâu nơi đó thành niềm an lạc, nếu điều này không được thực ngộ thì muôn kiếp làm kẻ sống trong phù vân nổi chìm, không chỗ dừng cho tương lai.
Tìm đến tư tưởng của Lâm Tế phải buông bỏ tất cả những ý niệm dù ngay hai chữ buông xả, bặt hết mọi ngôn từ, đừng tìm kiếm tra hỏi những thuật ngữ trong ấy, mà cần nhất thoát ra ngoài dính mắc thì mới có thể cảm nhận được sự thâm sâu và tấm lòng từ không bờ bến mà ngài để lại cho chúng ta. Ngài phá tung tất cả để đưa cho ta thấy đàng sau đó còn lại một cái gì mà trong ngôn từ, trong ý niệm không có.
“Cứ tự nhiên mà động dụng, mặc áo ăn cơm, cần đi cứ đi, cần ngồi cứ ngồi, đừng mảy may tâm niệm nào cầu Phật quả. Quí ông cho rằng đạo có tu có chứng, chớ nói nhảm. Đặt ra tu chứng là tạo nghiệp sanh tử. Ông nói sáu đạo muôn hạnh cùng tu, ta thấy toàn là nghiệp. Cầu Phật, cầu Pháp là tạo nghiệp địa ngục. Cầu Bồ Tát cũng là tạo nghiệp. Coi kinh coi giáo cũng là tạo nghiệp. Phật với Tổ Sư đều là người vô sự. Quí ông nói có đạo tu được, có pháp chứng được. Đạo nào mà tu? Pháp nào mà chứng? Chỗ thọ dụng của ông nay còn thiếu hụt vật gì chứ? Mà bồi đắp vào đâu chứ?”
Lối nói Pháp này của Lâm Tế làm chúng ta phải khiếp sợ trước những dụng ngữ không bị giới hạn ở định mức nào. Nhưng có ai dám bảo nó không tìm ẩn cả sự giải phóng con người ra khỏi triền phược trong ấy? Chúng ta vốn bị nhốt kín quá nhiều ngay trong quan niệm, trong mọi hệ lụy không phút nào độc lập tự do một cách toàn triệt, đâu đâu cũng ngăn cách, lôi kéo, làm sao tìm thấy được con đường thênh thang rộng mở không có mưa phùn nắng quái. Nếu không nhờ vào phương cách, san bằng tiêu hủy những ngăn ngại vi tế, dù đó là biểu tượng hình tướng, thì chặng đường nầy hãy còn đong đưa lẩn quẩn. Lâm Tế từng chặt tan dù đó là Phật là Tổ, với Lâm Tế ngôn từ từng gây khổ đau cho con người, tạo nên những xung đột phi lý trong nội tại và tạo ý thức chỉ biện luận so đo. Nếu không vượt ra ngoài những trì trệ ngăn cách này, sẽ phải lạc lối ngay, khó mà tìm lại được. “Nầy quí ông cầu chân lý ! muốn ngộ vào chánh tông (Thiền) chớ để thiên hạ phỉnh mình. Trong cũng như ngoài, gặp chướng ngại nào cứ đạp ngã ngay, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng thân thiết giết hết. Chớ ngần ngại, đó là con đường độc nhất để giải thoát. Đừng để bất cứ ngoại vật nào trói buộc mình, hãy vượt lên, hãy bước qua, hãy tự do. Tôi thấy suốt trong thiên hạ những vị gọi là cầu đạo, không ông nào đến với tôi tự do và độc lập hết. Hễ gặp việc tôi đạp nhào hết, không cần biết họ đến với tôi bằng cách nào. Họ ỷ mạnh tay, tôi chặt đứt tay, họ ỷ giỏi nói, tôi bóp câm miệng, họ ỷ tinh mắt, tôi đập đui mắt. Quả thật bao năm rồi chưa một ông nào đơn độc đối diện với tôi, hoàn toàn tự do, hoàn toàn độc lập. Ông nào cũng mắc phải như nhau những trò lừa dối không đâu của hàng cổ đức. Tôi không có gì để cho quí vị. Tất cả những gì tôi có thể làm được là tùy bịnh mà cho thuốc, là giải phóng cho quí vị tất cả triền phược.”
“Này chư vị cầu chân lý, hãy tỏ ra đôc lập tự cường. Tôi trân trọng đặt vấn đề ấy với quí vị. Suốt năm mười năm gần đây, tôi chỉ nhờ có vậy mà chưa được gì hết. Người ta đến với tôi toàn là người ma, những súc sanh cổ quái vất vưởng bờ tre, rừng bụi, đồng hoang cỏ dại, điên khùng gặp gì cắn nấy, dơ dáy thối tha. Quí vị loài ở hang, sao dám hoang phí của tín thí? Quí vị đáng gọi là sư sao khi còn vọng tưởng điên đảo như vậy? Tôi nói cho biết, không Phật, không Pháp, không tu, không chứng ! Quí vị tìm gì ở nhà láng giềng? Đó là trên đầu ghép thêm một cái đầu mượn ! Quí vị thiếu gì?”
“Quí vị cầu chân lý, những gì quí vị thọ dụng hiện giờ đây có khác gì với chư Phật chư Tổ đâu. Nhưng quí vị không tin tôi mãi đi tìm bên ngoài. Đừng mê tưởng như vậy. Không có gì ở ngoài, mà cả bên trong vẫn không có gì nắm giữ được. Quí vị chấp theo lời tôi nói, nhưng thà dứt tuyệt tất cả tham cầu, đừng làm gì hết.”
TỨ LIỆU GIẢN CỦA LÂM TẾ
Lâm tế được kể như một trong những tay cự phách trong Thiền Tông. Tứ liệu giản là một minh chứng cụ thể, hay và rõ rệt nhất, nhờ vào đó hành giả có thể cảm nhận được những đòn bí hiểm mà chặng đường công án đã vén mở, dù rằng công án không nằm trong một phạm trù, kích thước, chỉ nhằm quật tung những gì câm nín yên nghĩ bấy lâu. Lối xử dụng và hiệu năng vẫn còn nằm trong mức độ thể nghiệm chặng đường tra vấn ấy.
Tứ Liệu Giản Lâm Tế đưa ra như sau:
- Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh - Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân - Có khi nhân cảnh đều đoạt - Có khi nhân cảnh đều không đoạt
(Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân Hữu thời nhân cảnh câu đoạt Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt)
Lâm Tế hé mở cho chúng ta thấy rằng, có những lúc phải khước từ, bác bỏ, phản đối, hoặc chấp nhận. Biên giới của nó tựa như đường tơ kẻ tóc, nhích một cái là muôn trùng xa cách. Nó mênh mang và thâm sâu, không bám vào đâu được khi phải đối diện với Thiền Sư. Lắm lúc không chấp nhận người đến tham vấn các Thiền Sư, hoặc không phản đối lời của người ấy. Hoặc có những lúc cả hai đối tượng đều bắt gặp ở nhau một cái gì, hoặc chẳng bao giờ tương hợp được theo nghĩa không đoạt.
Lâm Tế giải thích trong ngữ lục của Sư:
- Có ông tăng hỏi: “Thế nào là đoạt nhân không đoạt cảnh?”
Sư đáp:
Mặt trời ấm hiện phô gấm vóc Trẻ thơ rũ tóc trắng như tơ
- “Thế nào là đoạt cảnh không đoạt nhân?”
Sư đáp:
Lệnh vua đã ban hành khắp thiên hạ Tướng quân ngoài ải dứt khói bụi
- “Thế nào là đoạt cả nhân lẫn cảnh?”
Sư đáp:
Tịnh Phần bặt tin tức Một mình ở một nơi.
“Thế nào là nhân cảnh đều không đoạt?”
Sư đáp:
Vua bước lên ngai Lão quê ca hát.
Lối giải thích của Lâm Tế cũng vẫn còn bí hiểm như cái bí hiểm độc đáo của tiếng hét. Dù ở đây Lâm Tế còn cho ta một ý niệm so với tiếng hét cũng là một ý niệm, nhưng tựu thành bằng ngữ ngôn. Đầu mối để giác ngộ không nằm trong những suy tư khắc khoải, mà phải nằm trong thường nghiệm trực tiếp với tâm năng. Mức độ cảm nhận ở nội tại là điều tiên quyết để đạt được nguyên ủy nầy, hay ngược lại bung xuống hố thẳm, hoàn toàn tùy vào cảm nhận đúng mức hay không. Lâm Tế xử dụng Tứ Liệu Giản là mở thêm một cánh cửa khác để hành giả có thể dễ dàng hơn trong việc quật khởi tâm linh.
Riêng ở Việt Nam, thiền Phái Lâm Tế đã được truyền vào lần đầu tiên do Thiền Sư Thiên Phong thế kỷ thứ 13. sau đó phái Lâm Tế truyền vào nước ta một lần nữa Đàng Ngoài do các Thiền Sư Chuyết Chuyết và Minh Hành, Đàng Trong thì do các Thiền Sư Nguyên Thiều và Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhứt Trí, Minh Hành Từ Toại và Minh Giác Kỳ Phương.
Ảnh hưởng của Lâm Tế rộng lớn mạnh như vũ bão, quét sạch và cuốn phăng đi những trì trệ như tiếng hét của Lâm Tế đã gây phản ứng khốc liệt trong nội tại. Sự phát triển bành trướng của Tông Lâm Tế là tạo dựng lại Tông phái một cách rõ rệt truyền đăng cả mấy thế kỷ nay, hầu hết trong chúng ta đều mang trong mình giòng máu tâm linh của tiếng hét huyền nhiệm năm xưa, Lâm Tế đã từng tung ra chấn động cả thời gian, để rồi mười mấy thế kỷ nay nó hãy còn đi vào cuộc đời, chuyển hóa những trạng huống để trở nên một con người đích thực đã thừa hưởng âm vang của tiếng hét.
Dù qua những biến thiên của trời đất, của những bão tố bao phủ cho mỗi thời đại, một cách sáng tạo hay đập phá những di sản tối hậu, cũng đều tùy thuộc vào mức độ chứng nhập được những tinh hoa đã huân tập, và có lẽ đôi khi chỉ còn lại nhãn hiệu gắn vào mỗi người, nhưng thực ra trong ấy trống không, theo nghĩa chẳng có gì, chứ không phải trống không theo nghĩa không dính mắc. Lắm lúc đem nhãn hiệu nầy vung vãi mà không cần kiểm chứng lại sự có mặt cần thiết hay không.
Làm sao khơi dậy tiếng hét Lâm Tế năm xưa, để điểm tô cho con người trong sự đe dọa của cuộc sống hôm nay ?
Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 25 Tháng 11 2010 09:51
Lịch Sử Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Hội An
Lịch Sử Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh Tại Hội An
Vào năm 1694, một sự kiện quan trọng đã diễn ra trong lịch sử Phật giáo Đàng Trong làm nền tảng cho sự phát triển của Phật Giáo Việt Nam sau này. Đó là phái đoàn hoằng pháp của Thiền sư Thạch Liêm - Đại Sán sang An Nam truyền giới theo lời thỉnh cầu của Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu. Hòa Thượng Thạch Liêm cùng Hội đồng thập sư sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm, Linh Mụ tại Huế và chùa Di Đà tại Hội An. Trong phái đoàn này gồm có các vị Thiền sư danh tiếng như: Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri, Minh Lượng Thành Đẳng v.v... Sau khi giới đàn hoàn mãn thì chư tổ đi giáo hóa khắp nơi và tổ Minh Hải Pháp Bảo vào Hội An khai sơn lập chùa Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa lập nên Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Tổ sư Minh Hải tục danh Lương Thế Ân, sinh ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1760) tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Ngài xuất gia tại Báo Tư Tân Tự, Giang Lăng, Trung Quốc với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo, nối pháp đời 34 dòng Lâm Tế theo bài kệ ngài Vạn Phong Thời Ủy. Sau khi lập chùa Chúc Thánh, để việc truyền thừa có thứ hệ, Ngài xuất kệ truyền pháp như sau:
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương Ấn Chơn Như Thị Đồng Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu Kỳ Quốc Tộ Địa Trường Đắc Chánh Luật Vi Tông Tổ Đạo Giải Hạnh Thông Giác Hoa Bồ Đề Thọ Sung Mãn Nhơn Thiên Trung.
Gần 50 năm giáo hóa tại An Nam, Tổ sư Minh Hải viên tịch vào ngày mồng 7 tháng 11 năm 1746, thọ 77 tuổi, tháp lập tại tổ đình Chúc Thánh.
Dưới sự giáo dưỡng của Ngài, có một số các vị đệ tử đã thành tựu đạo nghiệp và nổi danh đương thời như: 1. Thiệt Diệu Chánh Hiền: Kế thừa trụ trì chùa Chúc Thánh, Hội An. 2. Thiệt Dinh Chánh Hiển Ân Triêm: Khai sơn chùa Phước Lâm, Hội An. 3. Thiệt Úy Chánh Thành Khánh Vân: Trụ trì chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi. 4. Thiệt Uyên Chánh Thông Chí Bảo: Khai sơn chùa Bảo Lâm, Quảng Ngãi. 5. Thiệt Thuận Chánh Mạng Huệ Trương: Khai sơn chùa Linh Sơn, Bình Định. 6. Thiệt Đăng Chánh Trí Bảo Quang: Khai sơn chùa Long Sơn, Bình Định. 7. Thiệt Quảng Cảm Ứng: Khai sơn chùa Tập Phước, Gia Định.
Từ đây, tông môn Chúc Thánh ngày càng hưng thịnh, các thế hệ kế thừa đã phát huy tông môn ngày thêm hưng thạnh. Từ Quảng Nam, chư Tăng của Thiền phái Chúc Thánh đã tỏa đi giáo hóa khắp nơi từ Miền Trung cho đến Miền Nam và ngày hôm nay cũng đã có mặt tại hải ngoại. Mỗi tỉnh thành trong nước đều có những ngôi Tổ đình tiêu biểu của môn phái như tại: - Quảng Nam có các Tổ đình: Chúc Thánh, Phước Lâm, Vạn Đức, Cổ Lâm, Long Tuyền, Tam Thai, Linh Ứng. - Huế thì có Tổ đình Viên Thông. - Quảng Ngãi có Tổ đình Thiên Ấn, Quang Phước, Quang Lộc v.v... - Bình Định có Tổ đình Sơn Long, Linh Sơn, Thiên Hòa, Phổ Bảo, Khánh Lâm, Thiên Bình, Nhạn Sơn v.v... - Phú Yên có Tổ đình Từ Quang, Phước Sơn, Triều Tôn, Khánh Sơn v.v... - Nha Trang có Tổ đình Hội Phước, Linh Sơn v.v... - Ninh Thuận có Tổ đình Thiên Hưng, Thiền Lâm. - Bình Thuận có Tổ đình Pháp Hội, Giác Hoa. - Sài Gòn-Gia Định thì có Tổ đình Tập Phước, Hưng Long, Đông Hưng v.v... - Bình Dương có Tổ đình Hội Khánh, Thiên Tôn, Tây Tạng v.v... - Vĩnh Long thì có Tổ đình Phước Hậu.
Kể từ khi Tổ sư Minh Hải khai sáng thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tính đến nay đã trên 300 năm lịch sử. Trong suốt 3 thế kỷ gắn liền với ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, các thế hệ Tăng nhân trong tông môn đã đóng góp rất lớn trong sự phát triển của Phật giáo Việt Nam. Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử đều có những vị Cao Tăng là nơi quy ngưỡng của chư Tăng Ni và tín đồ.
Đời thứ hai gồm có 7 vị đệ tử đắc pháp của Tổ Minh Hải giáo hóa khắp các tỉnh từ miền Trung cho đến Gia Định. Tiêu biểu nhất là Hòa Thượng Thiệt Dinh Ân Triêm. Ngài thế danh Lê Hiển, sinh năm Bính Thìn (1712) tại xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam. Nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm lên 10 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Minh Hải tại chùa Chúc Thánh với pháp danh Thiệt Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm, Ngài khai sơn chùa Phước Lâm tại Hội An và đạo phong của Ngài ảnh hưởng khắp Đàng Trong. Vào ngày 24 tháng 4 năm Bính Thìn (1796), Ngài thị tịch, thọ 84 tuổi. Đệ tử nổi tiếng của Ngài có 2 vị Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác: Trụ trì chùa Phước Lâm và ngài Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm: Khai sơn chùa Từ Quang, Phú Yên.
Đời thứ 3 của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh có các Ngài như: Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác giáo hóa tại Quảng Nam; ngài Pháp Châu giáo hóa tại Quảng Ngải; ngài Pháp Mãn Luật Viên Truyền Thành, Pháp Tịnh Luật Phong Viên Quang giáo hóa tại Bình Định; Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm giáo hóa tại Phú Yên; Pháp Nhân Thiên Trường giáo hóa tại Gia Định. Tiêu biểu là ngài Pháp Kiêm Minh Giác và Pháp Chuyên Diệu Nghiêm. Hòa Thượng Minh Giác, thế danh Võ Đức Nghiêm, sinh vào giờ Tuất ngày 15 tháng 1 năm Đinh Mão (1747) tại thôn Ngọc Trì, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 12 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia, đến chùa Phước Lâm lạy Hòa Thượng Ân Triêm làm thầy, được bổn sư cho pháp danh Pháp Liêm, tự Luật Oai, hiệu Minh Giác. Sau 10 năm tu tập, Ngài về quê gặp lúc giặc mọi Đá Vách quấy phá nên Ngài tòng quân dẹp giặc, lập nhiều công trạng nên được phong đến chức chỉ huy. Sau đó, Ngài từ quan về phát nguyện quét chợ Hội An trong vòng 20 năm.
Về sau, Ngài kế thừa trụ trì chùa Phước Lâm. Ngài viên tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830) hưởng thọ 84 tuổi.
Đồng sư với ngài Minh Giác có Thiền sư Diệu Nghiêm, một trong những tác gia lớn của Phật giáo Đàng Trong ở thế kỷ 18. Thiền sư Diệu Nghiêm (1738-1810): tộc tánh họ Trần, sinh ngày 2 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) tại làng Cổ Tháp, phủ Thăng Hoa, nay là xã Duy Châu - Duy Xuyên - Quảng Nam. Ngài vốn thông minh đỉnh tuệ nên thi đậu Tú Tài khi 18 tuổi và ra làm quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sau khi xem tuồng “Tam Trinh Cố Sự” và “Long Hổ Sự Duyên”, Ngài ngộ lẽ vô thường ảo hóa của kiếp người nên quyết chí xuất gia. Ngài đến chùa Phước Lâm, Hội An lạy Tổ Ân Triêm làm thầy và được Tổ cho pháp danh Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm, nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài đến chùa Thập Tháp, Quy Nhơn theo học với Ngài Liễu Triệt, đồng thời đọc bộ Đại Tạng do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Cửu cúng. Từ đó, Ngài giáo hóa khắp các vùng từ Quảng Nam vào đến Phú Yên. Mãi đến năm Đinh Tỵ (1797), Ngài mới khai sơn chùa Từ Quang. Thiền sư Pháp Chuyên là người đa văn quảng bác, Ngài trước tác rất nhiều kinh luận, đặc biệt nhất là bộ Tam Bảo Hoặc Luận. Ngài viên tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (1810) thọ 73 tuổi. Giáo sư Lê Mạnh Thát đã đánh giá Ngài có vị trí ngang tầm với nhà bác học Lê Quý Đôn.
Đời thứ 4 có các ngài: Toàn Nhâm Vi Ý Quán Thông, Toàn Đăng Bảo Nguyên giáo hóa tại Quảng Nam. Ngài Toàn Đức Trí Minh Bảo Ấn giáo hóa tại chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi. Ngài Toàn Ý Vi Tri Phổ Huệ, Toàn Tín Vi Tâm Đức Thành giáo hóa tại Bình Định. Ngài Toàn Thể Vi Lương Linh Nguyên, Toàn Đức Vi Cần Thiệu Long, Toàn Nhật Vi Bảo Quang Đài giáo hóa tại Phú Yên; Toàn Tánh Chánh Đắc, Toàn Linh Gia Hiệu giáo hóa tại Gia Định. Trong đó tiêu biểu nhất là Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài.
Thiền sư Toàn Nhật là một trong những danh nhân văn học của thế kỷ 19. Ngài sinh năm 1757 và xuất gia với tổ Diệu Nghiêm vào năm khoảng 30 tuổi. Ngài nối pháp đời 37 dòng Lâm Tế Chúc Thánh với pháp danh Toàn Nhật, tự Vi Bảo, hiệu Quang Đài. Về sau, Ngài về trụ trì chùa Viên Quang. Ngài để lại nhiều tác phẩm văn học rất có giá trị bằng chữ Nôm. Đặc biệt là truyện thơ Tham Thiền Vãn đã đưa nhiều người đến với đạo và rất phổ biến trong dân gian. Ngài thị tịch năm 1834 tại chùa Viên Quang, Phú Yên.
Đời thứ 5 có các Ngài: Chương Tư Tuyên Văn Huệ Quang, Chương Quảng Tuyên Châu Mật Hạnh, Chương Lý Trí Quang giáo hóa tại Quảng Nam. Ngài Chương Khước Tông Tuyên Giác Tánh giáo hóa tại Quảng Ngãi, Chương Nghĩa Liễu Tạng giáo hóa tại Bình Định. Tiêu biểu là ngài Chương Nghĩa Liễu Tạng.
Thiền sư Liễu Tạng (1784-1866): Ngài sanh vào năm Giáp Thìn (1784), xuất gia với tổ Toàn Tín - Đức Thành tại chùa Khánh Lâm nên có pháp danh Chương Nghĩa, hiệu Liễu Tạng, thuộc đời 38 chi phái thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài là một danh tăng đa văn quảng bác đã soạn nên cuốn “Thiền môn chánh độ” để làm nghi lễ tế Tăng cang Tổ Ấn - Mật Hoằng thị tịch vào ngày mồng 10 tháng 10 năm Ất Tỵ (1825). Đây là cuốn khoa nghi đầu tiên được soạn để cung tiến giác linh các Thiền sư khi viên tịch nên có tầm quan trọng đối với giới Tăng lữ tại kinh đô cũng như các tỉnh thành. Với đạo cao đức trọng và sự uyên thâm giáo điển, Ngài được mời ra Phú Xuân giảng dạy hoằng pháp. Ngài thị tịch mồng 4 tháng 4 năm Bính Dần (1866), thọ 86 tuổi. Nhục thân được lưu giữ trong bảo tháp tại chùa Quốc Ân, Huế.
Đến đời thứ 6, tại Quảng Nam có Thiền sư Vĩnh Gia là một bậc thiền tăng lỗi lạc có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo miền Trung và miền Nam. Hòa Thượng Vĩnh Gia, thế danh Đoàn Nhược sinh vào năm Canh Tý (1840), tại làng Thế Dương, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 18 tuổi, Ngài xuất gia với Hòa Thượng Chương Tư Huệ Quang nên có pháp danh Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên, hiệu Vĩnh Gia, nối pháp đời 39 dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Năm 1884, Ngài được triều đình sắc phong Tăng cang quốc tự Linh Ứng - Ngũ Hành Sơn. Năm 1887 Ngài được sơn môn cung thỉnh trụ trì chùa Phước Lâm.
Là một cao tăng tinh thông Tam Tạng, nghiêm trì giới luật nên tầm ảnh hưởng của Ngài lan rộng khắp các tỉnh miền Trung. Vì thế Ngài thường được triều đình nhiều lần thỉnh về kinh đô Phú Xuân để thuyết pháp cho Vua và hoàng tộc, cũng như cung thỉnh trong các giới đàn tại các tỉnh Thuận Hóa, Quảng Nam, Bình Định ngài thường xuyên kiến đàn truyền trao giới pháp cho chư tăng tu học. Đặc biệt, giới đàn năm Canh Tuất (1910) tại Phước Lâm, các giới tử đắc giới đều là những bậc cao tăng rường cột cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Trong đó, nổi bậc nhất là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, đệ nhất và đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Ngài thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi Già Lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia. Có vậy nước Thiền định mới khai thông, đèn Tri giác thêm sáng tỏ”. Ngài tịch ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), thọ thế 79 tuổi.
Đời thứ 7 thì có các Ngài Chơn Giám Đạo Quang Trí Hải giáo hóa tại Bình Định, ngài Chơn Quý Đạo Trân Khánh Anh giáo hóa tại miền Nam.
Hòa Thượng Trí Hải (1876-1950): Hòa Thượng thế danh Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876) tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, Bình Định. Thuở nhỏ, Ngài theo đòi nghiên bút nơi cửa Khổng sân Trình và thi đậu Tú Tài vào năm 31 tuổi.
Năm 1919, khi vừa tròn 43 tuổi, Ngài xuất gia với tổ Hoằng Thạc tại chùa Thạch Sơn, Quảng Ngãi, được Tổ ban pháp danh Chơn Giám, tự Đạo Quang, hiệu Trí Hải, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Vốn có kiến thức Nho học cộng với sự mẫn duệ sẵn có nên Ngài sớm thâm nhập diệu lý của Phật đà.
Năm 1931, Ngài được Hòa Thượng Khánh Hòa mời làm Chủ bút Tạp chí Từ Bi Âm của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Năm 1934, Ngài khai sơn chùa Bích Liên tại quê nhà. Từ đó mọi người kính ngưỡng đều gọi Ngài là Hòa Thượng Bích Liên. Năm 1937, Hội Đà Thành Phật Học tại Quảng Nam Đà Nẵng mời Ngài làm Chủ bút Tạp chí Tam Bảo. Sau đó, Ngài về chùa nghiên cứu giảng dạy và đã đào tạo nhiều vị tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Ngài viên tịch vào ngày 3 tháng 6 năm Canh Dần (1950) thọ 74 tuổi. Hòa Thượng trước tác rất nhiều, đặc biệt hai bản văn “Quy Sơn Cảnh Sách” và “Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi” bằng chữ Nôm đã thể hiện được sự tài hoa của Ngài.
Hòa Thượng Khánh Anh, thế danh Võ Bổng (tức Hóa) sinh năm 1895 tại huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1917, Ngài xuất gia tại chùa Cảnh Tiên, Quảng Ngãi với Hòa Thượng Ấn Tịnh Hoằng Thanh. Năm 1920, Ngài thọ Tam Đàn cụ túc với Hòa Thượng Ấn Kim Tổ Tuân Hoằng Tịnh tại chùa Phước Quang, Quảng Ngãi với pháp danh Chơn Quý, tự Đạo Trân, hiệu Khánh Anh, nối pháp đời 40 dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.
Từ những năm 1927 đến 1945, Ngài là Giáo thọ sư của các trường Phật học các trường từ miền Trung vào đến miền Nam. Năm 1957, Ngài được bầu làm Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Năm 1959, Ngài được thỉnh làm Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc.
Hòa Thượng viên tịch vào năm 1961. Ngài phiên dịch trước tác rất nhiều kinh sách, trong đó nổi bật nhất là bộ Khánh Anh Văn Sao. Ngài đào tạo được nhiều đệ tử nổi danh tại miền Nam như HT: Thích Thiện Hoa, HT Thích Hoàn Tâm, HT Thích Hoàn Quan, HT Thích Hoàn Phú.
Đời thứ 8 thì có các vị như: HT Thích Tôn Nguyên, HT Thích Như Tuyến, HT Thích Thiện Hoa, tiêu biểu nhất là Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa: Hòa Thượng thế danh Trần Văn Nở sinh năm 1918 tại xã Phú Tân, Cầu Kè, Trà Vinh. Ngài xuất gia tại chùa Phước Hậu với Hòa Thượng Khánh Anh với pháp danh Như Quả, tự Giải Nhân, hiệu Hoàn Tuyên, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Còn pháp hiệu Thiện Hoa là do Hòa Thượng Thích Chí Thiền đặt khi Ngài còn tại gia ngũ giới.
Ngài từng ra Huế tham học với quốc sư Phước Huệ và thọ đại giới năm 1946. Ngài đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như: Pháp sư kiêm đốc giáo Phật học đường Phật Quang (1945-1952); Ủy viên Hoằng pháp Tổng Hội Phật giáo Việt Nam (1956); Phó chủ tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo (1963); Phó viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN (1964); Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN (1966-1973). Ngài trước tác rất nhiều kinh sách, nổi tiếng và thông dụng nhất là bộ Phật Học Phổ Thông. Ngài thị tịch năm 1973. Đệ tử của Ngài có Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Viện chủ Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt.
Đến đời thứ 8 có các vị cao Tăng tiêu biểu trong việc hoằng truyền giới luật theo tinh thần “Đắc chánh luật vi tông” của tổ như các HT: Thích Phúc Hộ, Thích Hành Trụ, Thích Đổng Minh. Đặc biệt nhất là Bồ tát Thích Quảng Đức, người đã thiêu thân để bảo vệ Đạo pháp vào mùa pháp nạn 1963.
- Hòa Thượng Quảng Đức (1897 - 1963): Ngài thế danh Lâm Văn Tuất, sinh năm Đinh Dậu (1897) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi với Hòa Thượng Hoằng Thâm nên có pháp danh Thị Thủy, tự Hành Pháp, hiệu Quảng Đức thuộc đời 42 dòng Lâm Tế và thế hệ thứ 9 dòng Chúc Thánh. Ngài có tâm nguyện vân du hoằng pháp, gặp nơi nào chùa tháp hư hoại thì Ngài dừng lại trùng tu, kiến tạo rồi lại lên đường. Đời Ngài đã trùng tu cả thảy 17 ngôi chùa và chùa Quan Thế Âm tại quận Phú Nhuận là nơi dừng chân cuối cùng của Ngài. Năm 1963, Phật giáo đồ miền Nam và Trung bị sự đàn áp của chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Trước sự đàn áp dã man đó, Ngài phát nguyện tự thiêu vào ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão (11.6.1963) để ngăn cản bạo quyền. Sự hy sinh cao cả của Ngài đã cứu nguy cho Phật giáo Việt Nam thoát khỏi pháp nạn tàn khốc này. Với tâm nguyện ấy, trái tim của Ngài không bị thiêu hủy dưới sức nóng 4.000 độ của lò thiêu. Ngài được Tăng Ni Phật tử cả nước tôn xưng là bậc Bồ Tát hiện thế.
Hiện nay trong nước còn có các vị tôn túc tiêu biểu của tông môn như: HT Thích Huyền Quang, HT Thích Bảo An, HT Thích Chơn Phát, HT Thích Tịch Chiếu v.v...
Sau năm 1975, tại Hải ngoại có các đạo tràng lớn truyền thừa theo Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh như: Tại Mỹ có HT Thích Chơn Điền, HT Thích Hành Đạo, HT Thích Thanh An, TT Thích Thái Siêu, Thích Minh Dung, Thích Hạnh Tuấn v.v... Tại Châu Âu có Giáo Hội Linh Sơn do HT Thích Huyền Vi thành lập, đạo tràng Viên Giác do TT Thích Như Điển kiến lập. Tại Úc châu có HT Thích Như Huệ, HT Thích Huyền Tôn, HT Thích Bảo Lạc v.v...
Kể từ khi Tổ sư Minh Hải Pháp Bảo sang Việt Nam hoằng pháp, khai tông lập giáo đến nay đã trải qua 300 năm. Xuyên suốt 3 thế kỷ ấy, chư tăng thuộc tông môn Chúc Thánh hành đạo theo tinh thần Phật dạy: Phục vụ chúng sanh cúng dường chư Phật và kế thừa tinh thần “Kỳ quốc tộ địa trường” của tổ khai tông. Trong tinh thần đó, các thế hệ Tăng nhân Chúc Thánh luôn luôn nhập thế tích cực trong tinh thần vô nhiễm của bậc đại sĩ. Như ngài Pháp Kiêm Minh Giác sau một thời gian tu học tại Phước Lâm, sau đó về quê đăng lính lập nhiều chiến công được thăng đến chức chỉ huy. Sau đó Ngài từ quan về Hội An phát nguyện quét chợ trong suốt 20 năm. Đến khi công viên quả mãn, Ngài được suy tôn lên ngôi vị Hòa Thượng. Ngài có công tu bổ chùa Phước Lâm và đúc nhiều quả chuông lưu lại tại Quảng Nam. Vì thế, khi Ngài viên tịch, triều đình nhà Nguyễn đi viếng Ngài với câu đối như sau:
- Bình Man, tảo thị, lưỡng độ gian lao, xuất gia kỳ, phát nguyện vưu kỳ, bát dật sanh thiên thành chánh giác. - Tạo tự, chú chung, nhị thung công đức, cách cựu hảo, đảnh tân cố hảo, thiên thu giác thế vĩnh truyền đăng.
Tạm dịch: - Dẹp giặc, quét chợ, mấy độ gian lao, xuất gia lạ, phát nguyện càng thêm lạ, tám mươi vãng sanh thành chánh giác. - Làm chùa, đúc chuông, biết bao công đức, sửa cũ đẹp, làm mới lại càng đẹp, ngàn năm sáng mãi ngọn đèn thiền.
Vào những năm Ất Dậu (1885), nhà chí sĩ Trần Cao Vân đã đến chùa Cổ Lâm, huyện Đại Lộc, Quảng Nam xuất gia với pháp danh Như Ý. Tại đây, Thiền sư Như Ý đã cùng với các Thiền sư thực hiện phong trào duy tân cứu quốc. Nam triều và thực dân Pháp biết được nên đã bố ráp chùa Cổ Lâm và giải tán Tăng chúng. Sau đó, Thiền sư Như Ý vào Phú Yên liên kết với Thiền sư Võ Trứ tại chùa Từ Quang Đá Trắng phát động cuộc khởi nghĩa năm 1898 mà sử nhà Nguyễn gọi là Giặc Thầy Chùa. Đây là phong trào đấu tranh yêu nước do các nhà sư dòng Chúc Thánh đứng ra vận động nhằm mang lại độc lập cho dân tộc.
Cận đại đây, có Bồ Tát Thích Quảng Đức đã vị pháp thiêu thân ngõ hầu cứu nguy đạo pháp trong mùa pháp nạn 1963. Có thể nói hình ảnh vị sư già trên 70 tuổi kiết ấn Cam Lồ an nhiên ngồi trong ánh lửa đã thể hiện tinh thần vô úy của người con Phật, là sự kết tinh của 300 năm hoằng truyền của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Đặc biệt, trái tim không bị hủy hoại dưới sức nóng của 4.000 độ C đã minh chứng một điều: Mạng mạch chánh pháp từ chư Phật, chư Tổ vẫn được kế thừa bởi Bồ Tát Thích Quảng Đức, một trong những Thiền sư tiêu biểu của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh trong thế kỷ 20.
Vừa rồi, chúng tôi đã cố gắng trình bày cùng quý vị quá trình truyền thừa và phát triển của Môn Phái Lâm Tế Chúc Thánh thông qua hình ảnh của Chư vị danh Tăng, Cao Tăng tiêu biểu qua các thế hệ truyền thừa của mỗi giai đoạn lịch sử đất nước. Điều này đã khẳng định cho chúng ta một điều rằng: Thiền phái Chúc Thánh đóng một vai trò quan trọng trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại. Tuy nhiên khi nói đến chùa Chúc Thánh, chiếc nôi xuất phát của dòng thiền Chúc Thánh thì phần lớn không ai biết cả. Đây chính là sự thật, mà nguyên nhân từ đâu?
Bởi vì từ xưa đến nay, chư Tổ trong tông môn luôn sống hòa mình nơi thôn dã nên việc dựng chùa cũng ở mức độ đơn sơ chỉ đủ có nơi cho chư tăng tu tập. Lần trùng tu cuối cùng của Tổ đình Chúc Thánh vào năm 1932 do Hòa Thượng Thích Thiện Quả chủ trì cũng ở mức độ hạn hẹp của điều kiện kinh tế lúc bấy giờ cho phép. Cho đến nay, đứng trước sự phát triển của thời đại, trước sự tàn phá của thời gian, đứng trước nhu cầu tu học của Tăng Ni Phật tử nên Tổ đình Chúc Thánh cần phải trùng tu lại toàn bộ, để xứng đáng với tầm vóc của một ngôi Chùa khai sáng một dòng Thiền, một Môn phái lớn của Phật Giáo Việt Nam, lần trùng tu này phải thật sự hoành tráng và trang nghiêm về quy mô và kiến trúc và điều đó tất nhiên đòi hỏi một nguồn kinh phí rất lớn. Và đó cũng là lý do chúng tôi được hội ngộ cùng quý vị tại nơi đây.
Xin trân trọng cám ơn và kính chào quý liệt vị! Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 13 Tháng 11 2011 09:02
Biểu Đồ Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh do ĐĐ Thích Như Tịnh biên soạn. (Xem Biểu Đồ)
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 17 Tháng 4 2013 07:49
Tưởng nhớ HT Thích Long Trí
Hòa thượng lâm thế vào ngày 12 tháng 9 năm Mậu Thìn (1928) tại làng Minh Hương, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Lý Trạch Chương, tự Thoại Nam, hiệu Xuân Sanh, pháp danh Tâm Viên và cụ bà Nguyễn Thị Mai, pháp danh Tâm Chơn. Hòa thượng đuợc thân phụ đặt tên là Lý Truờng Châu. Sinh ra trong một gia đình thâm trọng Phật học, Nho học và Tây học nên thuở ấu thơ Ngài đã sớm được un đúc trong một nếp sống kính tin Tam Bảo. Sự mộ đạo của hai đấng từ thân có tác động rất lớn đối với Hòa thượng nên Ngài đã tham gia sinh hoạt trong Đoàn Đồng Ấu Phật tử (tiền thân Gia đình Phật tử sau này). Năm Ất Dậu (1945), thân phụ qua đời để lại biết bao thương tâm trong lòng một người thanh niên mới lớn như Ngài. Từ đó, Ngài thấy rõ lẽ thống khổ của kiếp nhân sinh nên phát nguyện xuất gia học đạo. Vào ngày 16 tháng 6 năm Bính Tuất (1946), Hòa thượng xuất gia tại chùa Phước Lâm-Hội An, lúc đó Ngài vừa tròn 19 tuổi. Từ đây, Ngài tu học dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Bổn sư thượng Ấn hạ Nghiêm hiệu Phổ Thoại (khai sơn chùa Long Tuyền-Hội An), được Hòa thượng ban cho pháp danh Chơn Ngọc. Thừa di sản của dòng máu thông minh mẫn duệ, cộng với sự nhiệt tâm tinh cần tu học nên Ngài tỏ ra xuất sắc trong mọi phương diện và được Bổn sư cho thọ giới Sa Di vào ngày 19 tháng 9 năm Đinh Hợi (1947) với pháp tự Đạo Bảo. Với nếp sống hài hòa, cần mẫn được Thầy thương chúng mến, tu học tiến bộ nên Ngài đã đắc pháp với Đại lão Hòa thượng thượng Giác hạ Nhiên (Đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) tại giới đàn Vạn Hạnh chùa Từ Hiếu-Huế và được Bổn sư phú pháp hiệu là Long Trí. Như vậy, Ngài nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế và thuộc thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Năm Tân Mão (1951), thân hào xã Cẩm Phô hiến cúng chùa Viên Giác cho Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng, thuận duyên, Giáo Hội đã cử Hòa thượng về trụ trì tại đây. Từ đó, đời Ngài gắn liền với ngôi chùa Viên Giác cho đến ngày viên tịch. Cũng trong năm này, Đại hội thống nhất Phật giáo ba miền Bắc-Trung-Nam được tiến hành. Cùng chung vơi phong trào cả nước, Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng được thành lập do Hòa thượng Thích Tôn Bảo làm Trị Sự trưởng và Ngài được mời giữ chức vụ Phó Thư Ký. Năm Ất Mùi (1955), nhằm mục đích góp phần giáo dục tuổi trẻ, Hòa thượng xây cất ngôi trường đơn sơ trong khuôn viên chùa để dạy các lớp mầm non tiểu học với danh hiệu là Khai Trí. Năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng được đề cử làm Trưởng ban tổ chức đại lễ Phật Đản-Phật lịch 2502 tại chùa Viên Giác-Hội An để biểu hiện sức vươn lên của Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng. Buổi lễ này được đánh dấu sự trưởng thành, góp mặt của Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng sánh vai với các Giáo Hội khác trên toàn quốc. Năm Quý Mão (1963), tình hình đất nước, Phật giáo chuyển biến mạnh bởi chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Toàn quốc khời lên một phong trào đấu tranh mãnh liệt. Tại quê hương Quảng Nam, một Ủy Ban Tranh Đấu được thành lập và Hòa thượng giữ chức vụ Tổng Thư Ký kiêm Đặc trách thanh niên. Trong mùa Pháp nạn này, Hòa thượng đã lăn xả vào cuộc tranh đấu, xem thân mạng nhẹ như lông hồng, hướng dẫn toàn thể Phật tử tiến lên dưới ngọn cờ 5 màu, quyết đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng và xóa bỏ Đạo dụ số 10 xem Phật giáo như một hiệp hội. Bao nhiêu Phật tử bị đánh đập, tra tấn, bao nhiêu cuộc biểu tình đẫm máu đều được Hòa thượng an ủi, vỗ về bằng sự hy sinh chịu đựng tiên phong của chính bản thân mình. Đêm 20 tháng 8, đêm kinh hoàng. Tất cả các chùa chiền trên toàn quốc đều bị tấn công một loạt. Toàn thể Tăng Ni, Phật tử đều bị bắt đánh đập, tù đày và giết chóc. Riêng Hòa thượng, Ngài được chính quyền chiếu cố hơn nên đã bắt giam riêng tại Đà Nẵng, đánh đập một cách dã man, ngất xỉu suýt tử vong. Nhờ cuộc cách mạng ngày 1 tháng 11 năm 1963 của quân đội nên nhà Ngô bị tiêu diệt và Hòa thượng được trả tự do. Năm Giáp Thìn (1964), như bừng tỉnh sau cơn mơ, 9 hệ phái Phật giáo đã họp tại Ấn Quang-Sài Gòn thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tại Quảng Nam, GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam được thành lập, Hòa thượng được mời làm Phó Đại Diện đặc trách ngoại vụ kiêm Chánh Thư Ký và Đặc Uỷ thanh niên. Năm Bính Ngọ (1966), Phật giáo cả nước lại đắm chìm trong cuộc đấu tranh chống Hiến chương Vũng Tàu, đòi Quốc hội lập hiến. Một lần nữa, Hòa thượng đã cống hiến đời mình một cách trọn vẹn, hướng dẫn cuộc đấu tranh vô cùng khốc liệt. Hòa thượng bị bắt giam tại Cục an ninh quân đội ở Sài Gòn cùng với các ngài Thắng Hoan, Chánh Lạc, Liễu Minh, Chơn Kim v.v…Sau 6 tháng giam giữ tại lao thất cực kỳ gian khổ, đến ngày 11 tháng 11 cùng năm, Hòa thượng được trả tự do. Năm Đinh Mùi (1967), công trình xây cất giảng đường và trụ sở Gia đình Phật tử Quảng Nam đã hoàn tất. Đại lễ khánh thành được tiến hành trọng thể dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Đôn Hậu-Chánh đại diện miền Vạn Hạnh. Năm Tân Hợi (1971), Phật học viện Quảng Nam được thành lập tại chùa Long Tuyền do Hòa thượng Thích Chơn Phát làm giám viện. Hòa thượng được mời phụ trách bộ môn hành chánh và nghi lễ. Năm Nhâm Tý (1972), Hòa thượng được bầu làm Chủ tịch Mặt Trận Cứu Đói miền Trung nhằm xoa dịu những nổi đau thương mất mát của đồng bào Phật tử do chiến tranh gây ra. Năm Quý Sửu (1973), Ủy Ban Tái Thiết Xã Hội được thành lập, văn phòng đặt tại chùa Viên Giác và Hòa thượng được Giáo hội đề cử làm Chủ tịch Ủy Ban. Năm Ất Mão (1975), chiến tranh chấm dứt, hòa bình vãn hồi, đất nước thống nhất, những trăn trở, đau khổ đã qua, GHPGVNTN tiếp tục hoạt động, Ngài vẫn đảm nhiệm chức vụ Phó đại diện và Tổng thư ký. Năm Tân Dậu (1981), Hòa thượng Thích Như Huệ rời chùa Tỉnh Hội (tức chùa Pháp Bảo sang Uùc giáo hóa, Hòa thượng phải tạm rời Viên Giác về trụ tại chùa Pháp Bảo để điều hành mọi Phật sự. Trong giai đoạn khó khăn, trắng đen lẫn lộn này, Hòa thượng thực hiện lời Phật dạy: “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên” nên đã mặc nhiên nhận lãnh chức vụ Phó ban trị sự tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam Đà Nẵng và tham gia Phó chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cho đến năm Kỷ Tỵ (1989). Năm Nhâm Tuất (1982), trong giai đoạn khó khăn của thời cuộc, nhưng bằng sự khéo léo của mình, Hòa thượng đã xây dựng được nhà tổ tại chùa Pháp Bảo và khánh thành trong sự ngạc nhiên , hoan hỷ của Tăng Ni Phật tử trong và ngoài tỉnh. Cũng trong năm này, Ngài tổ chức đàn giới Sa Di và Thập Thiện tại chùa Pháp bảo để truyền giới cho chư Tăng và Phật tử tu học. Tại đàn giới này, Hòa thượng được chư Tăng cung thỉnh làm Chánh Chủ Đàn. Năm Canh Ngọ (1990), Ngài từ nhiệm tất cả mọi chức vụ từ Giáo Hội cho đến Mặt Trận, về lại Viên Giác trùng tu ngôi chánh điện đã xuống cấp trầm trọng. Sau gần 1 năm thi công, lễ khánh thành đã được tổ chức vào ngày rằm tháng 8 cùng năm. Năm Nhâm Thân (1992), Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu-Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN viên tịch. Hòa thượng Thích Huyền Quang được trao ấn tín với tư cách Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo. Khâm thừa di chúc thiêng liêng của cố Đại lão Hòa thượng Chánh Thư Ký, Hòa thượng Thích Huyền Quang đã phát động phong trào đòi phục hồi GHPGVNTN, Hòa thượng lại một lần nữa dấn thân tranh đấu và được Hòa thượng Thích Huyền Quang mời giữ chức vụ ChánhVăn Phòng Viện Hóa Đạo tại quốc nội. Năm Giáp Tuất (1994), sau gần 2 năm cùng Hòa thượng Huyền Quang hoạt dụng cho Giáo Hội Truyền Thống thì bị chính quyền quản thúc tại chùa Viên Giác cho đến ngày viên tịch. Tháng 5 năm Mậu Dần (1998), Hòa thượng nhuốm bệnh. Hàng đệ tử đưa Hòa thượng đi bệnh viện Đà Nẵng chữa trị. Không có kết quả, lại đưa về chùa chữa chạy thuốc Bắc, thuốc Nam nhưng vẫn không thuyên giảm và tiếp tục vào Sài Gòn chữa bệnh. Biết nhân duyên của mình đã mãn, Hòa thượng quyết định trở về an dưỡng tại chùa. Vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 13 tháng 9 năm Mậu Dần (1/11/1998), Hòa thượng đã lìa mộng trần, hưởng thọ 71 thế tuế. Cuộc đời của Hòa thượng quả là gắn liền với hình ảnh một số tăng sĩ trong thời đại chiến loạn. Ngài không ngừng thấu triệt lời dạy của chư Phật, đem hết khả năng của mình dung hợp với tinh thần Từ, Bi, Hỷ, Xả cứu độ chúng sanh, phụng sự Đạo Pháp và Dân Tộc trong ý thức “Phật pháp bất ly thế gian pháp”.
Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 13 Tháng 11 2011 09:01
Các chùa thuộc môn phái Chúc Thánh tại Hải ngoại
Tại Hoa Kỳ
Phúc Viên tự Chùa Quan Âm 8016 Barkley St Houston TX 77017 USA Tel. (713) 643-1832, Viện chủ Trưởng lão Thích Chơn Điền
Chùa Phổ Đà 5110- W. Hazard Ave Santa Ana. CA 92703. USA Tel. (714) 554 9785 Viện chủ Hòa thượng Thích Hành Đạo
An TườngTự viện 68228th Street Oakland, CA 94609 . USA Tel. (510) 444-5218 Viện chủ Hòa thượng Thích Thanh An
Chùa Quảng Nghiêm 2294 N Fremon St Stockton, CA 95205 . USA Tel. (209) 941-4991. Fax(209) 462-3391 Viện chủ Hòa thượng Thích Minh Đạt
Chùa Quang Thiện 704 East ,,E,, Street Ontario, CA 91764. USA Tel. (909) 986 2433 Viện chủ Thượng tọa Thích Minh Dung
Chùa Bảo Tịnh 2406 Marine Ave Gardena, CA 90249 . USA Tel. (213) 516 1522 Viện chủ Thượng tọa Thích Thái Siêu
Chùa Long Vân 6021 Cornelia Ave\ Portland, or 97266 CA . USA Tel. (407) 273 4429 Viện chủ Sư Bà Thích Nữ Thanh Hà
Chùa Từ Quang 243 Duboce Ave. San. Francisco, CA 94103 USA Tel. (415) 431-1322 Trụ Trì TT Thích Hạnh Tuấn
Tu Viện Đông Hưng 541 Downey Dr Virginia Beach. VA 23462 USA Viện chủ TT Thích Thông Kinh
Tại Âu Châu Tại Pháp :
Chùa Linh Sơn- 9 AveJean Jaurès 94340 Joinville Le Pont. France Tel: 01 48 83 75 47 Viện chủ Hoà thượng Thích Tịnh Hạnh
Chùa Khánh Anh 14 Ave Herri Barbusse 92220 Bagneux. France Tel: 01 46 55 84 44. Fax: 01 47 35 59 08 Viện chủ Hòa Thượng Thích Minh Tâm
Tại Na Uy
Chùa Khuông Việt Blystadvn 2 2006 Lovenstad . Nauy Tel: 06 797 3033. Fax: 06 797 1905 Viện chủ Hòa thượng Thích Trí Minh
Tại Canada
Chùa Phổ Đà 1002 W Somereet St Ottawa. ONT . CANADA Tel: (613) 231 25 16 Viện chủ Thượng tọa Thích Bổn Đạt
Chùa Bát Nhã 1720 36th St . SE Calgary, Alberta T2A 1CB. CNADA Tel: (403) 235 3060 Viện chủ Thượng tọa Thích Thiện Quang
Tại Đức
Chùa Viên Giác Kartsruhertr 6 30519 Hannover . Germany Tel: 051 187 9630. Fax: 051 187 90963 Phương trượng Hòa Thượng Thích Như Điển Trụ trì Đại Đức Thích Hạnh Giới
Tại Úc Đại Lợi
Chùa Pháp Hoa 20 Butler Avenue Pennington SA 5013 AUSTRALIA Phone (08) 84478477 Fax (08) 82401758 Phương trượng HT Thích Như Huệ, Trụ trì ĐĐ Thích Viên Trí
Chùa Pháp Bảo 148-154 Edensor Rd, St Johns Park NSW. 2176 Tel: (02) 9610 5452. Fax: (02) 9823 8748 Email:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Viện chủ: HT Thích Bảo Lạc
Tu viện Phổ Quang Lot 91, Evandale Rd, Marrangaroo - WA. 6064 Tel: (08) 9343 3230 Fax: (08) 9343 1446 Viện chủ :TT Thích Phước Nhơn
Chùa Thiên Ấn 71 Delamere St, Canley Vale NSW. 2160 Tel: (02) 9726 6964 Viện chủ : TT Thích Như Định
"Nay nói phát Bồ Đề Tâm tức chính là tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện làm Phật tức là tâm độ chúng sinh. Tâm độ chúng sinh tức là tâm nhiếp thủ chúng sinh sinh vào quốc độ có Phật"
"Người đời tuy làm điều thiện, nhưng chẳng phá được ác nghiệp đời trước. Nếu hay thọ Tam quy giới thì phá hoại được ác nghiệp đời trước"
"Cũng có những người hiền thiện, vì khởi lên ba cách nghĩ mà chẳng cầu vãng sanh, càng đáng tiếc thay! Một là nghĩ rằng mình sẽ hơn Phật, vượt Tổ, nên cõi Tịnh độ chẳng đáng sanh về. Hai là nghĩ rằng nơi nơi đều là Tịnh độ, chẳng cần phải sanh qua phương Tây. Ba là nghĩ rằng Cực Lạc là cõi thánh, mình là phàm phu không thể sanh về đó."
Hành giả tu Tịnh Độ rất chân thật! Con người ta vốn dĩ gốc là tham, sân, si, kiêu mạn v.v... lại muốn tu những pháp khiến cho kẻ khác quỳ lạy, thì thử nghĩ xem nguy hiểm chừng nào! Thứ nhất là tu không nổi; thứ hai là thành giả dối! Sự tu hành mục tiêu là thoát ly sanh tử mà căn bản là phải chân thật với chính mình. Những người không chân thật với chính mình không bao giờ có thể nói là tốt được hết!