TỔ ĐÌNH
MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT
HỌC TỪ ĐIỂN
BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
THIỆN PHÚC
D
Da Bà: Yava (skt)—Một
đơn vị đo lường tương đương với một phần 2.688.000—Barley—Barleycorn,
a unit of measurement which is equivalent to the 2,688,000th part
of a yojana.
Da Bà Lô Cát Đế:
Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm in Vietnamese-English Section,
and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Da Bọc Xương:
Nothing but skin and bones.
Da Du Đà La:
See Yasodhara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Da Thịt: Skin
and flesh—Có da có thịt: To gain weigh.
Da Xá: Yasas
(skt)—Có hai Tỳ Kheo mang cùng tên nầy—There were three persons of
this same name:
1)
Người thứ nhất là đệ tử thứ sáu của Đức Phật: The first person
was the sixth disciple of the Buddha—See Yasas in English-Vietnamese
Section.
2)
Người thứ nhì là đệ tử của Ngài A Nan: The second person was
a disciple of Ananda.
3)
Người thứ ba, sanh sau khi Đức Phật Thích nhập diệt chừng 100
năm, người đã khuyến khích vua A Dục xây 8 vạn bốn ngàn tháp Phật
ở miền Bắc Ấn Độ, triệu tập 700 vị Thánh Tăng, và liên hệ đến việc
kết tập kinh điển lần thứ hai: The third person, who was born about
100 years after the Buddha’s nirvana, is said to encourage king Asoka
to build 84,000 Buddha stupas in northern India, convene (summon)
700 arhat saints (monks), and play an important part in connection
with the second synod.
Da Xá Đà: Yasoja
(skt)—See Da Xá.
Dã: Hoang dã—The
country—Wilderness—Wild—Rustic—Uncultivated—Rude.
Dã Bàn Tăng:
Một vị du Tăng rày đây mai đó, không có nơi trụ xứ nhất định—A roaming
monk without fixed abode.
Dã Bố Thí: Cúng
các âm hồn ngạ quỷ tại nhà mồ—To scatter offerings at the grave to
satisfy hungry ghosts.
Dã Can: Srgala
(skt)—Một loài thú giống như chồn, hay kêu la về đêm—Jackal, or an
animal ressembling a fox which cries at night.
Dã Dượi: Tired—Worn
out.
Dã Độc: To neutralize
(counteract) a poison.
Dã Hồ: Một loại
chồn hoang—A wild fox, a fos sprite.
Dã Hồ Thiền:
Thiền gia coi thiền ngoại đạo là “Dã Hồ Thiền” (theo Tứ Gia Huyền
Lục, có một cụ già đến nghe Bách Trượng Đại Trí thuyết pháp. Cụ già
nói: xưa tôi là Tăng trụ trì ở núi nầy, có người đến hỏi, là một nhà
đại tu hành nhân gian thì có còn rơi vào vòng nhân quả nữa không?
Tôi nói: Không rơi vào vòng nhân quả nữa. Thế là tôi phải đọa làm
thân dã hồ. Xin Hòa Thượng cho một lời chuyển ngữ. Bách Trượng nói:
Cụ cứ hỏi tiếp đi. Cụ già lại hỏi thêm. Cuối cùng sư nói: Cụ già đã
hiểu được lẽ nhân quả rồi đấy. Cụ già chợt tỉnh ngộ nói: nay thoát
kiếp dã hồ. Xin nhờ đại sư chiều lại ghé qua sau núi cho hỏa táng
theo lệ vong Tăng. Chiều lại Bách Trượng đi vòng sau núi, quả nhiên
thấy trong hang có một xác dã hồ, ngài bèn cho mang về chùa hỏa táng
theo lệ vong Tăng cho nó thoát kiếp)—Wild-fox meditators, i.e. non-Buddhist
ascetics, heterodoxy in general—See Bách Trượng Hoài Hải.
Dã Man: Barbarous—Savage—Barbaric.
Dã Nhân: Gorilla.
Dã Sử: Unofficial
history.
Dã Táng: See
Lâm Táng.
Dã Tâm: Bad ambition.
Dã Thọ Bì Đà:
Một trong bốn bộ Kinh Vệ Đà—One of the four Vedas.
Dã Thố Hình Thần:
Sasi—The spirit with marks or form like a hare.
Dã Thú: Wild
beast.
Dạ: Ban đêm—Night.
Dạ Hành: Night
trip (journey).
Dạ Ma: See Yama
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dạ Ma Giới: See
Yamaloka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dạ Ma Lô Ca:
Yamaloka (skt)—Dạ Ma Lư Ca—Cõi thế giới của Diêm Ma Vương—The realm
of Yama, the third devaloka.
Dạ Ma Lư Ca:
See Dạ Ma Lô Ca.
Dạ Ma Sứ: Sứ
giả của Diêm Vương—The messengers of Yama King.
Dạ Ma Thiên:
Tu Dạ Ma—Tô Dạ Ma—Thời Phân—Thiện Thời Phân—Dạ Ma Thiên là cõi trời
dục giới thứ ba, được giải thích như là nơi luôn có thời gian và mùa
màng lương hảo—Yama deva; the third devaloka, interpreted as the place
where the times, or seasons, are always good.
Dạ Ma Vương Sảnh:
Sảnh đường của Diêm Vương, nơi phán quyết tội nhân—Yama’s judgment
hall.
Dạ Mẫu Na: Yamuna
(skt)—Sông Dạ Mẫu Na ở vùng bắc Ấn Độ—The River Jumna in northern
India.
Dạ Minh Châu:
Precious stone shining brightly at night.
Dạ Tha Bạt: Yathavat
(skt).
1)
Thích hợp: Suitably.
2)
Chính xác: Exactly.
3)
Rắn chắc: Solid.
4)
Thực sự: Really.
Dạ Thù: Yajurveda
(skt)—Nghi thức tế lễ Vệ Đà của Bà La Môn giáo—The sacrificial veda
of the Brahmans; the liturgy associated with Brahmanical sacrificial
services.
Dạ Tọa: Thời
tọa thiền ban đêm sau 9 giờ, là giờ ngủ trong các thiền viện—Meditation
done after 9:00 PM, the usual bedtime hour in the Zen monastery.
Dạ Xoa: See Yaksa
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dai Dẳng: Long
lasting—To last a long time.
Dài Dòng Văn Tự:
Wordy—Lengthy.
Dại Dột: Stupid—Foolish.
Dám: To dare—To
venture to do something.
Dạm: To offer.
Dạm Hỏi: To offer
marriage.
Dạm Mua: Offer
of purchase.
Dan: To extend.
Dan Díu: To be
in love with someone.
Dàn: See Chùa
Dàn.
Dạn Dĩ: Fearless.
Dạn Mặt: Shameless.
Dang Dở: Unfinished—Uncompleted.
Dáng Cao Thượng:
A noble figure.
Dáng Điệu: Appearance—Look.
Danh:
·
Tên gọi: Nama (skt)—Name—Noun—Term—Famous.
·
Danh sắc: Naman (skt)—Rupa-form.
Danh Biệt Nghĩa Thông:
Different in name but of the same meaning.
Danh Bút: Famous
writer.
Danh Dự: Honor—Honorary.
Danh Đức: A notable
virtue.
Danh Gia: Famous
family.
Danh Giá: Honour—Reputation.
Danh Giả: Một
trong tam giả, tên tự nó không có thật—Name unreal, one of the three
unrealities—See Tam Giả.
Danh Hiền: Famous
sage.
Danh Hiệu: Samabhidha
(skt).
·
Tên: Name.
·
Tước hiệu: An appelation—A title or a name.
Danh Lam: Famous
temple.
Danh Lam Cổ Tự Việt
Nam: Theo Việt Nam Danh Lam Cổ Tự của Võ Văn Tường, trên toàn
quốc Việt Nam từ Bắc chí Nam có 247 ngôi danh lam cổ tự. Hòa Thượng
Tiến Sĩ Thích Minh Châu đã viết trong lời giới thiệu: “Một đặc trưng
nổi bật của kiến trúc Phật Giáo Việt Nam là không có những công trình
lớn lao đồ sộ, trái lại, các chùa tháp đều có tầm cở trung bình, nhưng
xinh xắn, nhẹ nhàng, thậm chí có khi nhỏ bằng như những am cốc của
các vị ẩn sĩ độc cư. Chùa không lớn nhưng chùa rất nhiều, điều nầy
tưởng cũng có thể nói lên một khía cạnh tích cực của tâm lý người
Việt, và chính vì thế mà khắp giang sơn hầu như được tô điểm bằng
cái tinh thần thanh tịnh, hiền hòa của đạo lý Đức Thích Ca.”—According
to Vo Van Tuong in Vietnam’s Famous Ancient Pagodas, there are two
hundred forty-seven ancient pagodas in Viet Nam from North to South.
Most Venerable Doctor Thich Minh Chau wrote in the Preface: “A remarkable
characteristic of Vietnamese Buddhist architecture is that there are
not any gigantic, magnificient construction. Instead, there are pagodas
and stupas, moderate in shape, pretty and refined in style, and even
little in structure like the huts of the recluses secluding from the
world. Vietnam’s pagodas are diminutive but abundant. This probably
relates to an active aspect of Vietnamese psychology. Therefore, the
whole country is decorated with the pure, gentle spirit of sakyamuni
Budha’s Teaching”
I.
Tỉnh Hà Bắc—Hà Bắc Province:
1)
Chùa Dâu: Dâu Pagoda.
2)
Chùa Dàn: Dàn Pagoda.
3)
Chùa Bút Tháp: Bút Tháp Pagoda.
4)
Chùa Đức La: Đức La Pagoda.
5)
Chùa Đại Lâm: Đại Lâm Pagoda.
6)
Chùa Đồng Ky: Đồng Ky Pagoda.
7)
Chùa Hàm Long: Hàm Long Pagoda.
8)
Chùa Cổ Mễ: Cổ Mễ Pagoda.
9)
Chùa Đại Lâm: Đại Lâm Pagoda.
10) Chùa
Quang Phục: Quang Phục Pagoda.
11) Chùa
Vân Cốc: Vân Cốc Pagoda.
12) Chùa
Phả Lại: Phả Lại Pagoda.
13) Chùa
Thôn Xuân: Thôn Xuân Pagoda.
14) Chùa
Lái: Lái Pagoda.
15) Chùa
Phật Tích: Phật Tích Pagoda.
16) Chùa
Linh Ứng: Linh Ứng Pagoda.
17) Chùa
Phấn Động: Phấn Động Pagoda.
18) Chùa
Ngô Xá: Ngô Xá Pagoda.
19) Chùa
Diên Phúc: Diên Phúc Pagoda.
II.
Hà Nội—Hanoi City:
20) Chùa
Một Cột: Một Cột Pagoda.
21) Chùa
Láng: Láng Pagoda.
22) Chùa
Trấn Quốc: Trấn Quốc Pagoda.
23) Chùa
Liên Phái: Liên Phái Pagoda.
24) Chùa
Kim Liên: Kim Liên Pagoda.
25) Chùa
Bộc: Bộc Pagoda.
26) Chùa
Kim Sơn: Kim Sơn Pagoda.
27) Chùa
Vũ Thạch: Vũ Thạch Pagoda.
28) Chùa
Hòa Mã: Hòa Mã Pagoda.
29) Chùa
Yên Phú: Yên Phú Pagoda.
30) Chùa
Tự Khoát: Tự Khoát Pagoda.
31) Chùa
Sở: Sở Pagoda.
32) Chùa
Phụng Thánh: Phụng Thánh Pagoda.
33) Chùa
Thiên Phúc: Thiên Phúc Pagoda.
34) Chùa
Thanh Nhàn: Thanh Nhàn Pagoda.
35) Chùa
Nành: Nành Pagoda.
36) Chùa
Phú Thị: Phú Thị Pagoda.
37) Chùa
Bắc Biên: Bắc Biên Pagoda.
38) Chùa
Đại Lan: Đại Lan Pagoda.
39) Chùa
Thanh Ninh: Thanh Ninh Pagoda.
40) Chùa
Vân Hồ: Vân Hồ Pagoda.
41) Chùa
Mật Dụng: Mật Dụng Pagoda.
42) Chùa
Kim Giang: Kim Giang Pagoda.
43) Chùa
Thanh Lâm: Thanh Lâm Pagoda.
44) Chúa
Thánh Chúa: Thánh Chúa Pagoda.
45) Chùa
Hòe Nhai: Hòe Nhai Pagoda.
46) Chùa
Huỳnh Cung: Huỳnh Cung Pagoda.
47) Chùa
Bát Tháp: Bát Tháp Pagoda.
48) Chùa
Duệ: Duệ Pagoda.
49) Chùa
Lại Đà: Lại Đà Pagoda.
50) Chùa
Cầu Đông: Cầu Đông Pagoda.
51) Chùa
Quỳnh Đô: Quỳnh Đô Pagoda.
52) Chùa
Thiền Quang: Thiền Quang Pagoda.
53) Chùa
Bà Nành: Bà Nành Pagoda.
54) Chùa
Kiến Sơ: Kiến Sơ Pagoda.
III.
Tỉnh Hải Hưng—Hải Hưng Province:
55) Chùa
Côn Sơn: Côn Sơn Pagoda.
56) Chùa
Thái Lạc: Thái Lạc Pagoda.
57) Chùa
Đông Cạo: Đông Cạo Pagoda.
58) Chùa
Cập Nhất: Cập Nhất Pagoda.
59) Chùa
Hương Lãng: Hương Lãng Pagoda.
60) Chùa
Giám: Giám Pagoda.
61) Chùa
Mễ Sở: Mễ Sở Pagoda.
62) Chùa
Lạc Thủy: Lạc Thủy Pagoda.
63) Chùa
Phú Thị: Phú Thị Pagoda.
IV. Tỉnh
Hà Tây—Hà Tây Province:
64) Chùa
Hương Trai: Hương Trai Pagoda.
65) Chùa
Tây Phương: Tây Phương Pagoda.
66) Chùa
Trầm: Trầm Pagoda.
67) Chùa
Trăm Gian: Trăm Gian Pagoda.
68) Chùa
Mía: Mía pagoda.
69) Chùa
Hữu Bằng: Hữu Bằng Pagoda.
70) Chùa
Thiệu Long: Thiệu Long Pagoda.
71) Chùa
Ngãi Cầu: Ngãi Cầu Pagoda.
72) Chùa
Kim Hoa: Kim Hoa Pagoda.
73) Chùa
Thầy: Thầy Pagoda.
74) Chùa
Hương Tích: Hương Tích Pagoda.
75) Chùa
Đậu: Đậu Pagoda.
76) Chùa
Xâm Động: Xâm Động Pagoda.
77) Chùa
Sở: Sở Pagoda.
78) Chùa
Từ Châu: Từ Châu Pagoda.
79) Chùa
Quảng Nguyên: Quảng Nguyên Pagoda.
80) Chùa
Văn Phú: Văn Phú Pagoda.
81) Chùa
Đại Bi: Đại Bi Pagoda.
82) Chùa
Lâm Dương: Lâm Dương Pagoda.
83) Chùa
Thanh Lãm: Thanh Lãm Pagoda.
84) Chùa
Trường Xuân: Trường Xuân Pagoda.
85) Chùa
Ngọc Đình: Ngọc Đình Pagoda.
86) Chùa
La Phù: La Phù Pagoda.
87) Chùa
Diên Khánh: Diên Khánh Pagoda.
88) Chùa
Phúc Khê: Phúc Khê Pagoda.
89) Chùa
Bối Khê: Bối Khê Pagoda.
90) Chùa
Phương Trung: Phương Trung Pagoda.
91) Chùa
Khê Tang: Khê Tang Pagoda.
92) Chùa
Thiên Trù: Thiên Trù Pagoda.
V.
Thành Phố Hải Phòng—Hải Phòng City:
93) Chùa
Dư Hàng: Dư Hàng Pagoda.
VI. Tỉnh
Nam Hà—Nam Hà Province:
94) Chùa
Keo: Keo Pagoda.
95) Chùa
Đại Bi: Đại Bi Pagoda.
96) Chùa
Cổ Lễ: Cổ Lễ Pagoda.
97) Chùa
Phổ Minh: Phổ Minh Pagoda.
98) Chùa
Đệ Tứ: Đệ Tứ Pagoda.
99) Chùa
Vọng Cung: Vọng Cung Pagoda.
VII.
Tỉnh Ninh Bình—Ninh Bình Province:
100)
Chùa Non Nước: Non Nước Pagoda.
101)
Chùa Bích Động: Bích Động Pagoda.
VIII.Tỉnh
Quảng Ninh—Quang Ninh Province:
102)
Chùa Yên Tử: Yên Tử Pagoda.
VIII.Tỉnh
Thái Bình—Thái Bình Province:
103)
Chùa Keo: Keo Pagoda.
104)
Chùa Hội: Hội Pagoda.
105)
Chùa La Vân: La Vân Pagoda.
106)
Chùa Cổng: Cổng Pagoda.
VIII.
Tỉnh Vĩnh Phú—Vĩnh Phú Province:
107)
Chùa Xuân Lũng: Xuân Lũng Pagoda.
IX.
Tỉnh Thanh Hóa—Thanh Hóa Province:
108)
Chùa Mật Đa: Mật Đa Pagoda.
X.
Tỉnh Hà Tĩnh—Hà Tĩnh Province:
109)
Chùa Hợp Tự: Hợp Tự Pagoda.
XI.
Tỉnh Quảng Trị—Quảng trị Province:
110)
Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang: Sắc Tứ Tịnh Quang Pagoda.
XII.
Cố Đô Huế—Huế Citadel:
111)
Chùa Thiên Mụ: Thiên Mụ Pagoda.
112)
Chùa Thánh Duyên: Thánh Duyên Pagoda.
113)
Chùa Diệu Đế: Diệu Đế Pagoda.
114)
Chùa Sắc Tứ Quốc Ân: Sắc Tứ Quốc Ân Pagoda.
115)
Chùa Báo Quốc: Báo Quốc Pagoda.
116)
Chùa Từ Đàm: Từ Đàm Pagoda.
117)
Chùa Thuyền Tôn: Thuyền Tôn Pagoda.
118)
Chùa Đông Thuyền: Đông Thuyền Pagoda.
119)
Chùa Từ Hiếu: Từ Hiếu Pagoda.
120)
Chùa Tường Vân: Tường Vân Pagoda.
121)
Chùa Vạn Phước: Vạn Phước Pagoda.
122)
Chùa Ba La Mật: Ba La Mật Pagoda.
123)
Chùa Tây Thiên Di Đà: Tây Thiên Di Đà Pagoda.
124)
Chùa Trúc Lâm: Trúc Lâm Pagoda.
125)
Chùa Trà Am: Trà Am Pagoda.
126)
Chùa Diệu Đức: Diệu Đức Pagoda.
XIII.
Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẳng—Quảng Nam Đà Nẳng Province:
127)
Chùa Linh Ứng: Linh Ứng Pagoda.
128)
Chùa Tam Thai: Tam Thai Pagoda.
129)
Chùa Chúc Thánh: Chúc Thánh Pagoda.
130)
Chùa Phước Lâm: Phước Lâm Pagoda.
131)
Chùa Phổ Đà: Phổ Đà Pagoda.
132)
Chùa Pháp Lâm: Pháp Lâm Pagoda.
XIV.
Tỉnh Quảng Ngãi—Quảng Ngãi Province:
133)
Chùa Thiên Ấn: Thiên Ấn Pagoda.
134)
Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda.
135)
Chùa Phật Giáo: Phật Giáo Pagoda.
XV.
Tỉnh Bình Định—Bình Định Province:
136)
Chùa Thập Tháp Di Đà: Thập Tháp Di Đà Pagoda.
137)
Chùa Long Khánh: Long Khánh Pagoda.
XVI.
Tỉnh Phú Yên—Phú Yên Province:
138)
Chùa Bảo Tịnh: Bảo Tịnh Pagoda.
XVII.
Tỉnh Khánh Hòa—Khánh Hòa Province:
139)
Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda.
140)
Chùa Kim Sơn: Kim Sơn Pagoda.
141)
Chùa Hải Đức: Hải Đức Pagoda.
142)
Chùa Long Sơn: Long Sơn Pagoda.
XVIII.
Tỉnh Ninh Thuận—Ninh Thuận Province:
143)
Chùa Phật Giáo Phan Rang: Phật Giáo Phan Rang Pagoda.
144)
Chùa Phật Quang: Phật Quang Pagoda.
XIX.
Tỉnh Lâm Đồng—Lâm Đồng Province:
145)
Chùa Linh Quang: Linh Quang Pagoda.
146)
Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda.
147)
Chùa Linh Phong: Linh Phong Pagoda.
148)
Chùa Thiên Vương Cổ Sát: Thiên Vương Cổ Sát Pagoda.
XX.
Tỉnh Đắc Lắc—Đắc Lắc Province:
149)
Chùa Khải Đoan: Khải Đoan Pagoda.
150)
Tịnh Xá Ngọc Ban: Ngọc Ban Monastery.
XXI.
Thành Phố Sài Gòn—Sai Gòn City:
151)
Chùa Giác Lâm: Giác Lâm Pagoda.
152)
Chùa Từ Ân: Từ Ân Pagoda.
153)
Chùa Hội Sơn: Hội Sơn Pagoda.
154)
Chùa Phước Tường: Phước Tường Pagoda.
155)
Chùa Long Nhiễu: Long Nhiễu Pagoda.
156)
Chùa Huê Nghiêm: Huê Nghiêm Pagoda.
157)
Chùa Vạn Đức: Vạn Đức Pagoda.
158)
Chùa Tập Phước: Tập Phước Pagoda.
159)
Chùa Trường Thọ: Trường Thọ Pagoda.
160)
Chùa Long Huê: Long Huê Pagoda.
161)
Chùa Long Thạnh: Long Thạnh Pagoda.
162)
Chùa Giác Viên: Giác Viên Pagoda.
163)
Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda.
164)
Chùa Phụng Sơn: Phụng Sơn Pagoda.
165)
Chùa Giác Hải: Giác Hải Pagoda.
166)
Chùa Phước Hải: Phước Hải Pagoda.
167)
Chùa Quán Thế Âm: Quán Thế Âm Pagoda.
168)
Chùa Pháp Hoa: Pháp Hoa Pagoda.
169)
Chùa Phước Hòa: Phước Hòa Pagoda.
170)
Chùa Minh Tự: Minh Tự Pagoda.
171)
Chùa Tân Hưng Long: Tân Hưng Long Pagoda.
172)
Chùa Bửu Quang: Bửu Quang Pagoda.
173)
Chùa Pháp Hội: Pháp Hội Pagoda.
174)
Chùa Ấn Quang: Ấn Quang Pagoda.
175)
Chùa Từ Nghiêm: Từ Nghiêm Pagoda.
176)
Chùa Kỳ Viên: Kỳ Viên Pagoda.
177)
Chùa Nam Phổ Đà: Nam Phổ Đà Pagoda.
178)
Chùa Vạn Đức: Vạn Đức Pagoda.
179)
Chùa Huê Nghiêm: Huê Nghiêm Pagoda.
180)
Chùa Xá Lợi: Xá Lợi Pagoda.
181)
Từ Ân Thiền Tự: Từ Ân Thiền Tự Pagoda.
182)
Tu viện Quảng Hương: Quảng Hương Già Lam Pagoda.
183)
Tịnh Xá Ngọc Phương: Ngọc Phương Monastery.
184)
Bát Bửu Phật Đài: Bát Bửu Phật Đài Pagoda.
185)
Chùa Vạn Phật: Vạn Phật Pagoda.
186)
Nam Thiên Nhất Trụ: Nam Thiên Nhất Trụ Pagoda.
187)
Chùa Huệ Nghiêm: Huệ Nghiêm Pagoda.
188)
Chùa Vĩnh Nghiêm: Vĩnh Nghiêm Pagoda.
189)
Tịnh Xá Trung Tâm: Headquarters (Central) Monastery.
190)
Chùa Phật Bảo: Phật Bảo Pagoda.
191)
Thiền Viện Vạn Hạnh: Vạn Hạnh Meditation Center (Zen Institute).
XXII.
Tỉnh Đồng Nai—Đồng Nai Province:
192)
Chùa Bửu Phong: Bửu Phong Pagoda.
193)
Chùa Long Thiền: Long Thiền Pagoda.
194)
Chùa Đại Giác: Đại Giác Pagoda.
195)
Phật Tích Tòng Lâm: Phật Tích Pagoda.
196)
Thiền Viện Thường Chiếu: Thường Chiếu Meditation Center (Zen
Institute).
XXIII.
Thị Xã Vũng Tàu—Vũng Tàu City:
197)
Chùa Đại Tòng Lâm: Đại Tòng Lâm Pagoda.
198)
Chùa Huê Lâm: Huê Lâm Pagoda.
199)
Chùa Long Hòa: Long Hòa Pagoda.
200)
Chùa Thiên Thai: Thiên Thai Pagoda.
201)
Chùa Phước Lâm: Phước Lâm Pagoda.
202)
Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda.
203)
Thích Ca Phật Đài: Sakyamuni Buddha Monument.
204)
Tịnh Xá Niết Bàn: Nirvana Monastery.
XXIV.
Tỉnh Sông Bé—Sông Bé Province:
205)
Chùa Hội Khánh: Hội Khánh Pagoda.
206)
Chùa Núi Châu Thới: Núi Châu Thới Pagoda.
207)
Chùa Long Hưng: Long Hưng Pagoda.
XXV.
Tỉnh Tây Ninh—Tây Ninh Province:
208)
Linh Sơn Tiên Thạch: Linh Sơn Tiên Thạch Pagoda.
209)
Chùa Phước Lưu: Phước Lưu Pagoda.
XXVI.
Tỉnh Long An—Long An Province:
210)
Chùa Tôn Thạnh: Tôn Thạnh Pagoda.
211)
Chùa Kim cang: Kim Cang Pagoda.
XXVII. Tỉnh
Mỹ Tho—Mỹ Tho Province:
212)
Chùa Linh Thứu: Linh Thứu Pagoda.
213)
Chùa Hội Thọ: Hội Thọ Pagoda.
214)
Chùa Bửu Lâm: Bửu Lâm Pagoda.
215)
Chùa Thanh Trước: Thanh Trước Pagoda.
216)
Chùa Vĩnh Tràng: Vĩnh Tràng Pagoda.
XXVIII.
Tỉnh Bến Tre—Bến Tre Province:
217)
Chùa Hội Tôn: Hội Tôn Pagoda.
218)
Chùa Huệ Quang: Huệ Quang Pagoda.
219)
Chùa Tuyên Linh: Tuyên Linh Pagoda.
220)
Chùa Viên Minh: Viên Minh Pagoda.
XXIX.
Tỉnh Cao Lãnh & Mộc Hóa & Sa Đéc—Cao Lãnh & Mộc
Hóa & Sa Đéc Provinces:
221)
Chùa Bửu Hưng: Bửu Hưng Pagoda.
222)
Chùa Phước Hưng: Phước Hưng Pagoda.
223)
Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda.
224)
Chùa Hoa Lâm: Hoa Lâm Pagoda.
225)
Chùa Bửu Quang: Bửu Quang Pagoda.
XXX.
Tỉnh Vĩnh Long—Vĩnh Long Province:
226)
Chùa Tiên Châu: Tiên Châu Pagoda.
227)
Chùa Giác Thiên: Giác Thiên Pagoda.
228)
Tịnh Xá Ngọc Viên: Ngọc Viên Monastery.
XXXI.
Tỉnh Trà Vinh—Trà Vinh Province:
229)
Chùa Vũng Liêm: Vũng Liêm Pagoda.
230)
Chùa Ông Mẹk: Ông Mẹk Pagoda.
231)
Chùa Sam Rông Ek: Sam Rông Ek Pagoda.
232)
Chùa Quy Nông: Quy Nông Pagoda.
XXXII. Tỉnh
Cần Thơ—Cần Thơ Province:
233)
Chùa Hội Linh: Hội Linh Pagoda.
234)
Chùa Khánh Quang: Khánh Quang Pagoda.
XXXIII.
Tỉnh Sóc Trăng—Sóc Trăng Province:
235)
Chùa Kleang: Kleang Pagoda.
XXXIV.
Tỉnh An Giang—An Giang Province:
236)
Chùa Xà Tón: Xà Tón Pagoda.
237)
Chùa Tây An: Tây An Pagoda.
238)
Chùa Phước Điền (Chùa Hang): Phước Điền Pagoda.
239)
Chùa Giồng Thành: Giồng Thành Pagoda.
240)
Chùa Phi Lai: Phi Lai Pagoda.
XXXV.Tỉnh Kiên Giang—Kiên Giang Province:
241)
Chùa Sùng Hưng: Sùng Hưng Pagoda.
242)
Chùa Thập Phương: Thập Phương Pagoda.
243)
Chùa Phổ Minh: Phổ Minh Pagoda.
244)
Chùa Tam Bảo: Tam Bảo Pagoda.
XXXVI.
Tỉnh Bạc Liêu & Cà Mau—Bạc Liêu & Cà Mau Provinces:
245)
Chùa Quan Âm: Quan Âm Pagoda.
246)
Hưng Quảng Tự: Hưng Quảng Pagoda.
247)
Chùa Vĩnh Hòa: Vĩnh Hòa Pagoda.
Danh Lam Thắng Cảnh:
Beautiful landscapes.
Danh Lợi: Fame
and wealth—Fame and gain.
Danh Môn: Danh
gia—Famous family.
Danh Mục: A name
or descriptive title.
Danh Nghĩa: Name
and meaning.
Danh Nghĩa Bất Ly:
Name and meaning are not apart or differing.
Danh Ngôn: Famous
words.
Danh Nhân: Celebrity—Famous
man—Great name.
Danh Nho: Famous
scholar.
Danh Phẩm: Famous
literary work.
Danh Phận: Honor
and position.
Danh Sắc: Namarupa
(skt). Name and form.
1)
Danh (gồm thọ, tưởng, hành, thức) và sắc đều không thật, nhưng
lại có khả năng khởi lên phiền não—Name (feeling, perception, volition,
and consciousness) and form (both are unreal and give rise to delusion).
2)
Tên của ông Tu Bồ Đề khi thành Phật—Name under which Subhuti
will be reborn as Buddha.
3)
Một trong mười hai nhân duyên—One of the twelve nidanas—See
Thập Nhị Nhân Duyên.
Danh Sĩ: Famous
scholar.
Danh Sư: Famous
teacher.
Danh Tài: A person
with famous talent.
Danh Thể: Cái
dùng để gọi cái thể—Name and embodiment (The identity of name and
substance).
Danh Thiếp: Visiting
card.
Danh Thơm: Good
reputation.
Danh Tiếng: Foremost—Renowned—Famous.
Danh Tiết: Good
reputation on moral integrity.
Danh Tự: Name
and description.
Danh Tự Bồ Tát:
A nominal bodhisattva.
Danh Tự Sa Di:
Sa Di ở tuổi 20 hay lớn hơn (tuổi có thể trở thành Tỳ Kheo)—A novice
with the age of 20 or over (one of an age to be a monk).
Danh Tự Tỳ Khưu:
A monk in name but not in reality.
Danh Tướng: Một
trong ngũ pháp, mọi sự vật đều có danh có tướng—Name and appearance.
One of the five laws or categories, everything has a name and an appearance—Visible.
Danh Văn: Renown.
Danh Vi: Tên
là—Its name is.
Danh Vọng: Celebrity—Reputation—Fame
and glory.
Danh Y: Famous
physician.
Dành Dụm: To
economize—To save.
Dao: Hòn ngọc
lóng lánh—Jasper green crystal.
Dao Động: To
swing—To oscillate.
Dạo: To take
a walk—To go for a walk.
Dạo Ấy: At that
time.
Dày Công: Many
efforts—With great efforts.
Dãy Núi: A chain
of mountains.
Dạy: To teach—To
instruct—To train.
Dạy Bảo: To rear—To
bring up.
Dằn Lòng: To
hold oneself—To control one’s temper.
Dặn Bảo: To advise—To
recommend—To counsel.
Dặn Đi Dặn Lại:
To recommend over and over again.
Dắt: To guide—To
conduct—To lead—To bring someone by the hand.
Dâm: Giới thứ
ba trong ngũ giới cho hàng tại gia, cấm ham muốn nhiều về sắc dục
hay tà hạnh với người không phải là vợ chồng của mình. Giới thứ ba
trong mười giới trọng cho hàng xuất gia trong Kinh Phạm Võng, cắt
đứt mọi ham muốn về sắc dục. Người xuất gia phạm giới dâm dục tức
là phạm một trong tứ đọa, phải bị trục xuất khỏi giáo đoàn vĩnh viễn—Lewd—Sexual
misconduct— Licentious—Fornication—Adultery—Lascivious—The third commandment
of the five basic commandments for lay people, and the third precept
of the ten major precepts for monks and nuns in the Brahma Net Sutra.
Monks or nuns who commit this offence will be expelled from the Order
forever—See Ngũ Giới, and Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh
Phạm Võng.
Dâm Bôn: To commit
adultery.
Dâm Dục: Ham
muốn sắc dục—Desire for sex—Lustful—Debauched—Sexual desire—Sexual
passion.
Dâm Dục Bệnh:
Bệnh (tâm thần) gây ra bởi sự ham muốn sắc dục—The (spiritual) disease
caused by sexual passion.
Dâm Dục Hỏa:
Lửa của sự ham muốn về sắc dục—The fire or the burning of sexual desire.
Dâm Đãng: Lascivious—Lustful.
Dâm Giới: Giới
cấm dâm dục, một trong mười trọng giới của Hiển Giáo trong Kinh Phạm
Võng—The commandments against adultery, one of the ten major commandments
or precepts in the Brahma Net Sutra.
** For more information,
please Mười Giới
Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm
Võng.
Dâm Hỏa: Lửa
của sự ham muốn sắc dục—The fire of sexual passion—See Dâm Dục Hỏa.
Dâm La Võng:
Lưới ham muốn sắc dục—The net of sexual desire.
Dâm Loạn: Incest.
Dâm Nộ Si: See
Nhiễm Khuể Si.
Dâm Ô: Obscene—Lewd.
Dâm Phụ: Adulteress.
Dâm Thang: Mễ
Thang—Cháo nấu bằng gạo—A kind of rice soup, or gruel.
Dầm Mưa Dãi Nắng:
Expose to the rain and the sun.
Dầm Sương: To
expose to the dew
Dầm Sương Dãy Nắng:
Đi sớm về muộn—Arises early and retires late.
Dân Chủ: Democratically.
Dân Lành: Peaceful
inhabitant.
Dân Quê: Country
people.
Dân Tâm: The
mind of the people.
Dân Tình: Situation
of the people.
Dân Trí: Intellectual
standard of the people.
Dân Vọng: Aspiration
of the people.
Dân Ý: Will of
the people.
Dần Dần: Gradually—Little
by little.
Dẫn: To lead—To
bring in or on—To conduct—To stretch—To draw.
Dẫn Chứng: To
cite with proof.
Dẫn Đạo:
1)
Đưa người vào chân lý—To lead people into Buddha-truth.
2)
Dẫn dắt linh hồn người chết về thế giới khác—A phrase used
at funerals implying the leading of the dead soul to the other world,
possibly arising from setting alight the funeral pyre.
Dẫn Đầu: To precede.
Dẫn Đường: To
guide.
Dẫn Giải: To
explain and comment.
Dẫn Hóa: To initiate
and instruct.
Dẫn Nghiệp: Dẫn
nhân—Tổng báo nghiệp, hay nghiệp chủ yếu dẫn đến quả báo phải tái
sanh vào cõi nào, trời, người, hay súc sanh, vân vân—The principle
or integral direction of karma, which determines types of reincarnation,
i.e. deva, man, or animal, etc.
Dẫn Nhập: To
introduce—To initiate.
Dẫn Nhiếp: Tiếp
dẫn—Trong lời nguyện thứ 19 của Phật A Di Đà, Ngài nguyện sẽ tiếp
dẫn những ai gọi đến hồng danh Ngài—To accept—To receive—To welcome
(as a Buddha does on who call on him as stated in the nineteenth vow
of Amitabha).
Dẫn Quả: Giai
đoạn quả báo thưởng phạt tổng báo, ngược lại với biệt báo—The general
stage of fruition, such as reward or punishment in the genus, as contrasted
with the differentiated species or stages, such as for each organ
or variety of condition.
Dẫn Tọa: Từ ngữ
dùng để chỉ người dẫn ai lên tòa để thuyết pháp trong thiền lâm—A
phrase used by one who ushers a preacher into a “pulpit” to
expound the law.
Dẫn Tới Khổ Đau Không
Tránh Được: To lead to inevitable sufferings.
Dẫn Xuất Phật Tính:
The Buddha-nature in all the living to be developed by proper processes.
One of the three kinds of Buddha-nature—See Tam Phật Tánh.
Dâng Hoa: To
offer incense.
Dâng Hương: To
offer flowers.
Dập Dìu: To come
in great number.
Dập Tắt: Extinction
Dập Vùi: To maltreat—To
ill-treat.
Dật:
1)
Dâm dật: Lustful.
2)
Dễ chịu: To be at ease.
3)
Phóng dật: To get away from—Indulgence.
Dật Dục: Sensual.
Dật Đa: See Ajita
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dâu: Tên của
một ngôi chùa, còn gọi là Thiền Định, Duyên Ứng và Pháp Vân. Chùa
tọa lạc tại ấp Dâu, xã Thanh Khương, quận Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc,
Bắc Việt Nam. Chùa cách Hà Nội 17 dậm. Xưa đã từng là trung tâm của
cố đô Luy Lâu. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên của Việt
Nam được xây dựng vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch. Từ những thế kỷ
đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa, vùng Dâu đã là một trung tâm Phật Giáo
nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước. Vào đời nhà Tùy, những thế kỷ thứ
sáu và thứ bảy, chùa Dâu là nơi tu trì và đạo tràng thuyết pháp, là
nơi truyền bá Phật Giáo quan trọng của các danh Tăng như Tỳ Ni Đa
Lưu Chi, Pháp Hiền, và Quan Duyên, vân vân. Vào thời nầy Sư Lưu Khương,
theo lệnh vua Tùy Văn Đế, đã xây tháp Hòa Phong chín tầng ở ngay trước
sân chùa để thờ xá lợi Phật, nhưng về sau đã bị đổ nát. Tháp được
xây lại vào năm 1738 nhưng chỉ còn ba tầng. Vào các năm 1073, 1169,
1434, và 1448, các vua Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông, Lê Thái Tông, và
Lê Nhân Tông đã từng tổ chức lễ cầu đảo tại chùa Dâu. Các vị vua khác
thì cho đến chùa rước tôn tượng Đức Phật về Hà Nội để làm lễ.
Vào thế kỷ 14, Mạc Đỉnh Chi được chiếu chỉ nhà vua cho đứng ra hưng
công xây dựng lại chùa Dâu. Từ đó về sau nầy chùa đã được trùng tu
nhiều lần—Name of a temple, also called Thiền Định, Duyên Ứng and
Pháp Vân, located in Dâu hamlet, Thanh Khương village, Thuận Thành
district, Hà Bắc province, North Vietnam. It is about 17 miles from
Hanoi. It used to be Luy Lâu ancient citadel. This is one of Vietnam’s
earliest temples built in the third century A.D. Since the beginning
of the Christian era. The Dâu area has been a famous Buddhist center
for both home and abroad. In the Sui dynasty, around the sixth and
seventh centuries A.D., Dâu Temple functioned as the Buddhist monks’
monastery, the place of Buddhist preaching and the famous center where
Buddha’s Dharma was propagated by the well-known monks as Vinitaruci,
Pháp Hiền, Quan Duyên, etc. At that time, king Sui-Wen-Ti ordered
Liou-K’ang to build a stupa for Buddha’s relics. Placed in the yard
of the temple. Hoa Phong stupa which used to have nine storeys was
in ruin. A new three-storeyed stupa was rebuilt in 1738. In the years
of 1073, 1169, 1434, and 1448, successive Kings Lý Nhân Tông, Lý Anh
Tông, Lê Thái Tổ, and Lê Nhân Tông organized a prayer at the temple.
Other kings had Dâu Temple’s Buddha statue brought to Báo Thiên Temple
in Hanoi for their worship prayer. It was Madarin Mạc Đỉnh Chi who
was in charge of rebuilding Dâu Temple in the fourteenth century.
Since that time, the temple has been rebuilt many other times.
Dấu Chân: Hoof—Footprint—footmark—Footstep—Imprint
of the foot.
Dấu Hiệu Vãng Sanh
Về Đâu: Signs of places of rebirth—See Những Điểm Nóng Tối Hậu,
and Sanh Về Cõi Nào?
Dấu Tích: Trace—Vestige.
Dầu: Oil.
Dầu Bát: Một
bát dầu—A boil of oil—Trì Dầu Bát (cẩn thận như đang mang bát dầu
đầy trên tay)—As careful as carrying a bowl of oil.
Dầu Vậy: In spite
of.
Dẫu: Althought—Though—In
spite of—Even if—Even though.
Dẫu Xây Chín Bậc
Phù Đồ, Không Bằng Làm Phước Cứu Cho Một Người: Saving one life
earns more credit than building a temple of nine stupas (stories).
Dây Dưa: To drag
on.
Dè Xẻn: To save
little by little.
Dễ Bảo: Obedient—Docile.
Dễ Cảm: Nhạy
cảm—Emotional.
Dễ Chịu: Comfortable.
Dễ Dãi: Easy-going.
Dễ Dạy: Easily
taught.
Dễ Hiểu: Easy
to understand.
Dễ Ngươi: To
disregard.
Dễ Như Chơi:
Easy as ABC.
Dễ Nói: Easy
to say—Đạo Phật dễ nói nhưng không dễ làm: Buddha teaching is eay
to say, but not easy to do or to practice.
Dễ Ợt: Very easy.
Dễ Thối Chuyển:
Easily prone to retrogression.
Dễ Thương: Pleasant—Lovely—Lovable.
Dễ Tinh Tấn:
Capable of great vigor.
Dẹp Bỏ: To dispel.
Di:
1)
Dời đi: To remove—To convey.
2)
Đi khắp nơi: To reach everywhere.
3)
Một loại khỉ mặt đỏ: Markata (skt)—A red-faced monkey.
4)
Rơi xót lại: To leave behind.
Di Ca: Meka (skt)—Người
ta nói đây là tên của người con gái đã đến dâng sữa trâu lên Đức Phật
khi Ngài vừa mới thành đạo—Said to be the name of the girl who gave
milk congee to Sakyamuni immediately after his enlightenment; seemingly
the same as Sujata, Sena, or Nanda.
Di Ca La: Mekhala
(skt).
1)
Vòng đai: A girdle.
2)
Tên của một vị trưởng lão: Name of an elder.
Di Chuyển: Movement.
Di Đà: Amitabha
(skt)—See A Di Đà in Vietnamese-English Section, and Amitabha in Sanskrit-Pali-Vietnamese
Section.
Di Đà Bổn Tánh Tịnh
Độ Duy Tâm:
1)
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc
Vấn Luận, sự nhiếp cơ của Tịnh Độ quả là rộng lớn, không thể nghĩ
bàn, nhưng chúng ta thường nghe nói “Di Đà Bổn Tánh Tịnh Độ Duy Tâm.”
Nghĩa lý của câu nầy thế nào? Tịnh Độ là miền Cực Lạc ngoài mười muôn
ức cõi Phật, Di Đà là vị giáo chủ của Tây Phương Cực Lạc. Ý nói chân
tâm của chúng sanh rộng rãi và sáng suốt vô cùng—According to Most
Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism, the gathering
power of the Pure Land method is trully all-embracing and unconceivable.
However, we always hear such expression as “Self-Nature Amitabha,
Mind-Only Pure Land.” What is the meaning of this expression? The
Pure Land is the land of Ultimate Bliss, ten billion Buddha lands
from here, and Amitabha Buddha is the teacher of that land. It means
that the True Mind of sentient beings is all-extensive and all-illuminating.
2)
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Những non sông, đất liền cho đến hư
không ở ngoài sắc thân ta, đều là cảnh vật trong chân tâm mầu sáng.
Các pháp sanh hóa, đều là hiện cảnh của duy tâm.” Như thế thì đâu
có cõi Phật nào ngoài tâm ta. Cho nên ý nghĩa của Tịnh Độ duy tâm
là nói cõi Tịnh Độ ở trong chân tâm của ta, như biển cả nổi lên vô
lượng bóng bọt, mà không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại như
những hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào chẳng phải là đất;
cũng như không có cõi Phật nào chẳng phải là tâm. Thế nên cổ đức có
nói: “Chỉ một tâm nầy có đủ bốn cõi: Phàm Thánh đồng cư, Phương tiện
hữu dư, Thật báo vô chướng ngại, và Thường tịch quang—The Surangama
Sutra states: “The various mountains, rivers and continents, even
the empty space outside our physical body, are all realms and phenomena
within the wonderful, bright True Mind. Phenomena which are born,
they are all manifestations of Mind-Only.” Therefore, where
can you find a Buddha land outside the Mind? Thus, the concept of
Mind-Only Pure Land refers to the Pure Land within our True Mind.
This is no different from the ocean, from which springs an untold
number of bubbles, none of which is outside the wide ocean. It is
also like the specks of dust in the soil, none of which is not soil.
Likewise, there is no Buddha land which is not Mind. Therefore, ancient
sages and saints have said: “This single mind encompasses the four
kinds of lands in their totality: the Land of Common Residence of
beings and saints, the Land of Expediency, the Land of True Reward,
and the Land of Eternally Tranquil Light.
**
See Bốn Cõi Tịnh Độ and Bốn Cõi Duy
Tâm.
Di Đà Sơn: Mitrasanta
(skt)—Tên của một vị sư vùng Tukhara—Name of a monk from Tukhara.
Di Đà Tam Tôn:
Di Đà Tam Thánh—See Tam Tôn (B).
Di Để: Miti (skt).
1)
Đo lường: Measure.
2)
Sự hiểu biết chính xác: Accurate knowledge.
Di Đệ: Đệ tử
của một vị thầy đã quá vãng—The disciples left behind by a deceased
master.
Di Động: Mobile.
Di Già: Megha
(skt).
1)
Vân: Mây.
2)
Tên của Bồ Tát Di Già, nổi tiếng là một lương y hay người kiểm
soát mây để làm mưa: Name of one of the bodhisattva as a healer, or
as a cloud-controller for producing rain.
Di Già Ca: Miccaka
or Mikkaka (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (6).
Di Giáo: See
Di Huấn.
Di Hài: Remains
of the dead body.
Di Hầu: Markata
(skt).
1)
Loài khỉ lớn tánh tình nóng nảy, lật đật không yên, giống như
dục vọng của chúng sanh luôn trổi dậy: The larger monkey, mischievous,
restless, like the passions.
2)
Tâm Viên: Tâm phiền não muốn bốc trăng ra khỏi nước—A monkey,
typical of the mind of illusion, pictured as trying to pluck the moon
out of the water.
3)
Tâm mê mờ: The mind of foolishness.
4)
Tâm phóng dật: The mind of restlessness.
Di Hầu Giang:
Một nơi trong thành Tỳ Xá Lê nơi Đức Phật giảng kinh—A place in Vaisali
where Buddha preached.
Di Hình: Xá lợi
của Đức Phật—Relics of the Buddha.
Di Hóa: See Di
Huấn.
Di Họa: To bring
about disastrous consequences.
Di Huấn: Giáo
pháp cuối cùng truyền lại khi Phật sắp nhập diệt—Doctrine or transforming
teaching , handed down or bequeathed by a Buddha.
Di Kham: Lễ “di
kham” là lễ dời quan tài người chết ra chánh điện để làm lễ ba ngày
sau lễ tẩn liệm—To remove the coffin to the hall for the masses for
the dead on the third day after encoffinment.
Di Lan: Vua Di
Lan—King Milinda—See Milindapanha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section,
and Di Lan Đà in Vietnamese-English Section.
Di Lan Đà: Milinda
or Menander (skt)—Di Lan Đà là vị vua Ấn Độ gốc Hy Lạp. Những vùng
đất do ông chiếm cứ và cai trị bao gồm Peshawar, Kabul, Punjab, Sindh,
Kathiawar, và miền tây Uttar-Pradesh. Di Lan Đà là một học giả uyên
bác và là một nhà lý luận sắc bén. Ông tinh thông nhiều ngành học
thuật và có biệt tài tranh luận. Lúc đầu ông mang nặng những băn khoăn
thắc mắc về giáo lý của Đức Phật. Ông rất buồn lòng vì không ai giải
tỏa được cho ông, ông than thở: “Chao ôi, cả nước Ấn Độ là một sự
trống không! Tất cả chỉ được tài khoác lác mà thôi. Chẳng một tu sĩ
khổ hạnh hay một Bà La Môn nào có thể tranh luận với ta và giải tỏa
những mối nghi ngờ của ta.” Một ngày kia, do một duyên may, ông gặp
được một tu sĩ Phật giáo tên là Na Tiên đang trên đường đi khất thực,
dáng vẻ trầm tĩnh và thanh thản của vị hiền nhân đã có một ảnh hưởng
thầm lặng nhưng mạnh mẽ trong lòng nhà vua. Ngày hôm sau, vua cùng
một đoàn năm trăm người Yonaka đi đến tu viện Sankheya tại Sagal,
là nơi cư ngụ của Na Tiên. Họ có một cuộc trò chuyện mà theo yêu cầu
của nhà vua, sau đó sẽ được tiếp tục trong hoàng cung. Vị tu sĩ vốn
chẳng phải tầm thường, đã nói với nhà vua rằng ông muốn cuộc thảo
luận diễn ra theo kiểu tìm học chứ không phải theo kiểu vương giả.
Nhà vua đồng ý và lần lượt nêu lên những khó khăn của mình ra
với đạo sư, ông nầy giải đáp thỏa mãn tất cả. Nhưng về sau nầy khi
những mối hoài nghi băn khoăn nầy được Hòa Thượng Nagasena giải tỏa,
Milinda trở thành một đại thí chủ, một nhà bảo trợ lớn của đạo Phật,
một ông vua Phật tử hết lòng truyền bá đạo Phật. Trong hai thế kỷ
theo sau sự suy yếu của triều đại Mauryas , những kẻ xâm lăng ngươiø
Hy Lạp đã nắm quyền bá chủ trên vùng tây bắc Ấn Độ và A Phú
Hãn. Trong thời gian nầy có đến ba mươi vị vua nối tiếp nhau, trong
đó chỉ có hoàng đế Di Lan Đà là người đã để lại một ấn tượng lâu dài
trong lòng người dân Ấn Độ. Điều nầy rõ ràng là do ông đã gắn bó chặt
chẽ với đạo Phật. Vua Di Lan Đà là một trong những nhân vật quan trọng
trong cuốn Milindapanha với Những câu hỏi của Vua Di Lan Đà (Milanda).
Đây là tác phẩm chính ngoài giáo điển của trường phái Theravada nói
về những đối thoại của thầy Nagasena và vua Di Lan Đà (vua Hy lạp
xâm lăng và chiếm cứ vùng Bắc Ấn vào thế kỷ thứ I trước Tây lịch).
Những câu hỏi của vua Di Lan Đà liên quan trực tiếp với những ý niệm
căn bản trong Phật giáo về luân hồi, vô ngã, và luật nhân quả. Trong
quyển Milindapanha, vua Di Lan Đà được mô tả là vị vua thuộc dòng
dõi Yonakas tại vùng đất Yona. Các vùng đất Yona và Kamboja được người
Ấn Độ biết đến vào thế kỷ thứ sáu trước Tây Lịch, như được xác nhận
trong bài kinh Assalayana của Kinh Trung Bộ, nói rằng dân ở các vùng
nầy chỉ có hai giai cấp xã hội là Arya và Dasa, thay vì bốn như ở
Ấn Độ (see Tứ Giai Cấp Ấn Độ). Một điều mà ai cũng biết là sau cuộc
kết tập kinh điển lần thứ ba tại thành Hoa Thị, thì vua A Dục đã gửi
nhiều phái đoàn truyền giáo đến các vùng đất xa xôi như Yona, Syria,
và Macedonia. Cũng dưới vua A Dục, một vị Tỳ Kheo người Hy Lạp tên
là Dhammarakkhita-Yona Dhammarakhita đã được cử đến xứ Aparantaka
để thuyết giảng Chánh Pháp. Như vậy rõ ràng giáo lý của Đức Phật đã
gợi mở tâm trí người Hy Lạp trước thời vua Di Lan Đà. Theo sách Na
Tiên-Di Lan Đà Vấn Đáp, vua Di Lan Đà đã trao vương quyền lại cho
con mình, từ bỏ mọi chuyện thế sự và từ trần như một tu sĩ. Theo Phật
giáo Nguyên Thủy thì vua Di Lan Đà đã chứng quả A La Hán. Theo Plutarch,
một sử gia Hy Lạp, vua Di Lan Đà qua đời trong một lều nhỏ. Đã có
nhiều thành phố tranh chấp về việc giữ tro cốt của ông. Tuy nhiên,
phần tro sau nầy được chia đều và mỗi thành phố đều dựng tượng đài
kỷ niệm dành cho ông. Điều đáng nói là các đồng tiền của vua Di Lan
Đà đều có in hình bánh xe Chánh Pháp (Dharmacakra). Đây là một dấu
hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy nhà vua là một Phật tử sùng đạo.
Chữ khắc Shinkot cho thấy rõ ràng rằng nhà vua đã có nhiều công
lao trong việc truyền bá đạo Phật trong vùng giữa Hindukush và Sindh.
Plutarch nói rằng trong khi trị vì, vua Di Lan Đà đã có ý thức công
lý rất phân minh, nên được thần dân vô cùng yêu mến. Dù rằng quyền
lực của ông tại Ấn Độ không còn nữa, những ký ức về vị vua công bằng
sáng suốt nầy vẫn mãi mãi còn trong các trang sách của quyển Milnda-panha
cũng như những đồng tiền mang dấu Pháp Luân của ông—Milinda, the Indo-Greek
king. He dominated and ruled over the following areas: Peshawar, the
upper Kabul valley, Punjab, Sindh, Kathiawar, and western Uttar-Pradesh.
Milinda was a well-informed scholar and a keen debater. He was well
versed in various branches of learning and expert in argument. He
was first obsessed with doubts and dilemmas about the teachings of
the Buddha, but was so disappointed because no one could be able to
eliminate his doubts. He exclaimed: “Empty, alas, is all India. All
Indiais but vain gossip. There is no ascetic or Brahmin who is capable
of disputing with me and solving my doubts.” It was by a fortunate
chance that one day he saw a Buddhist monk named Nagasena going on
his begging round. The calm and serene personality of the sage had
a silent but powerful influence on the king’s mind. Next day, in the
company of five hundred Yonakas , he went to the Sankheya monastery
at Segal where the monk was staying at that time. They had a conversation
which, at the request of the king, was later resumed at the palace.
The monk who was no ordinary teacher told the king that he was agreeable
to a discussion only if it was held in the scholastic way and not
in the royal way. The king paid homage to the teacher in a fitting
manner and put his difficulties one by one before the sage who ably
solved them all to the king’s entire satisfaction. But later when
his doubts and misgivings had been removed by Most Venerable Nagasena,
he became a great patron and supporter, a devout Buddhist ruler propagating
the teachings of the Buddhist religion. During the two centuries that
followed the decline of the power of the imperial Mauryas, the Greek
invaders invaded over north western India and Afghanistan. Some thirty
rulers flourished during this period, of whom only King Milinda has
left a permanent impression on the Indian mind. This is evidently
due to his association with Buddhism. King Milinda was one of the
most important characters in the Pali book named Milindapanda, which
includes questions of King Milanda. This is one of the
most important noncanonical works of the Theravada school, dialogues
between the Monk Nagasena and King Milinda (a Greek king who invaded
and conquered northern India in the 1st century B.C.). King Milinda’s
questions concern the basic teachings of Buddhism, especially the
doctrines of rebirth, non-egoism, and the law of karma. King Milinda.
In the Milindapanha, Milinda has been described as the king of the
Yonakas from Yonas. The lands of the Yonas and Kambojas were known
to Indians in the sixth century B.C. as is evidenced by the Assalayana
suttanta of the Majjhima-nikaya which states that the people of these
regions had only two social classes of Arya and Dasa instead of the
four classes of Indian society. It is a well-known fact that after
the third Buddhist Council held Pataliputra, Buddhist missionaries
were sent by King Asoka to distant areas including Yona, Syria, and
Macedonia. Also under the reign of king Asoka, a Greek Bhikshu named
Dhammarakkhita-Yona Dhammarakkhita was sent to Aparantaka to preach
the Dharma there. It is thus clear that the blessed teachings of the
Buddha had begun to appeal to the Greek even before the time of king
Milinda. According to the Milinda-panha, king Milinda died as a Buddhist
monk, having retired from the world after handing over his kingdom
to his son. King Milanda is also said to have attained to Arhatship
which is the last stage of sanctification according to Theravada Buddhism.
Plutarch, the Greek historian, says that Milinda’s death occurred
in a camp and there was a dispute among several cities for the possession
of his ashes, but later his ashes were divided and each city has its
own memorial monument to worship him. It is also significant
that the coins of Milinda bear the Buddhist wheel (Dharmacakra). This
is an unmistakable sign that he was a devout Buddhist. The Shinkot
inscription proves beyond a doubt that the Greek king helped in the
propagation of Buddhism in the region between the Hindukush and Sindh.
Plutarch says that as a ruler , Milinda had a keen sense of justice
and was dearly loved by his people. Though the power he had established
in India disappeared with his death, the memory of this just and wise
Buddhist ruler will forever remain enshrined in the pages of the Milinda-panha
as in his own coins bearing the Dharmacakra.
Di Lan Đà Vấn Đạo:
Milinda-panha (skt)—Những câu hỏi đạo của vua Di Lan Đà—Questions
of King Milinda—Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật
Giáo, theo tài liệu Pali còn lưu lại thì cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo (Milinda-panha)
có lẽ do đại trưởng lão Na Tiên biên soạn, được xem là cuốn sách đáng
tin cậy nhất. Quyển sách nầy hoặc được viết trong thời vua Di Lan
Đà hay sau thời của ông, nhưng phải trước ngài Phật Âm, vì thường
thấy ông nầy trích dẫn cuốn sách nầy, xem như một tư liệu đáng tin
cậy. Có nghĩa là cuốn sách nầy được viết vào khoảng từ năm 150 trước
Tây Lịch đến năm 400 sau Tây Lịch. Nhiều người cho rằng quyển Di Lan
Đà Vấn Đạo không phải là một cuốn sách đồng nhất. Các chương được
viết theo nhiều phong cách khác nhau. Do đó, có thể rằng một số chương
đã được thêm vào sau nầy. Tuy nhiên, bằng chứng cụ thể nhất
là cuốn sách nầy đã được dịch ra chữ Hán vào khoảng từ năm 317 đến
420 sau Tây Lịch với tên là Kinh Na Tiên, chỉ có ba chương đầu của
cuốn Milinda-panha mà thôi. Từ đó người ta cho rằng bốn chương còn
lại là phần thêm vào sau nầy. Một sự kiện nữa hậu thuẫn cho quan điểm
trên là cuối chương ba, sách đã nói rằng các câu hỏi của vua Di Lan
Đà đã hết, còn chương bốn trông giống như một sự khởi đầu mới.
Dù sao đi nữa, chúng ta cũng không thể gạt bỏ ra ngoài giả thuyết
cho rằng chính Na Tiên hay một tác giả nào đó đã viết nên toàn bộ
cuốn sách như chúng ta thấy ngày nay. Rất có thể dịch giả Trung Hoa
chỉ giới hạn bản dịch của mình trong ba chương mà thôi. Cuốn Di Lan
Đà Vấn Đạo như hiện nay gồm có bảy chương. Trong bảy chương nầy thì
chương đầu ghi lại con người và lịch sử, còn các chương kia toàn là
giáo lý. Điều lạ lùng là trong khi Tỳ Kheo Na Tiên tốn nhiều công
phu kể với chúng ta về cuộc đời quá khứ của ông và của vua Di
Lan Đà, ông lại chẳng nói gì về cuộc đời hiện tại của ông. Khiêm tốn
đến mức xóa mờ mình là đặc điểm thường gặp của các tác giả thời xưa.
Vào thời ấy vua Di Lan Đà đã không thỏa mãn với các luận sư tôn giáo
đương thời, nỗi khoắc khoải của ông được bộc lộ trong câu nói sau
đây: “Chao ôi, cả cõi Diêm Phù Đề chỉ là một sự trống không! Diêm
Phủ Đề chỉ là cái lỗ trống. Tất cả chỉ được tài khoác lác mà thôi.
Chẳng một tu sĩ khổ hạnh hay một Bà La Môn nào có thể tranh luận với
ta và giải tỏa những mối nghi ngờ của ta.” Thế nhưng với trưởng lão
Na Tiên, nhà vua đã hoàn toàn bị chinh phục, không những bằng những
kiến thức cao siêu, mà cả cách ăn nói đầy ấn tượng và có sức thuyết
phục. Người ta kể lại rằng sau lời chào hỏi thông thường, nhà vua
nói: “Thưa tôn ông, xin tôn ông cho biết phương danh quí tánh. Người
ta gọi tôn ông như thế nào?” Na Tiên đáp: “Tâu bệ hạ, các đạo hữu
của tôi gọi tôi là Na Tiên, cha mẹ thì đặt tên cho tôi là Na Tiên,
nhưng gọi thế cho tiện thôi. Sự thực thì không có một người như thế
đâu.” Chính câu nói nầy của trưởng lão dã khai thông mọi chuyện,
tiếp theo là hàng loạt các câu hỏi và những câu trả lời, trong đó
có sự minh họa nổi tiếng về chiếc xe ngựa, theo đó, cũng giống như
các bộ phận của chiếc xe khi được lắp ghép chúng lại thì sẽ tạo thành
chiếc xe, ngoài các thứ ấy ra chẳng có chiếc xe nào cả. Tương tự,
các bộ phận khác nhau của một người tạo nên con người, ngoài các bộ
phận ấy ra thì chẳng có con người ấy. Thật vậy, ngoại trừ Thánh điển
ra, không thể tìm được một câu nói nào về thuyết vô ngã lại sâu sắc
hơn và hay hơn những lời nói trên của Tỳ Kheo Na Tiên. Do đó, Di Lan
Đà Vấn Đạo là một cuốn sách được trình bày dễ hiểu, không chỉ về các
lý thuyết cao siêu của Đức Phật, mà cả những nguyên tắc đạo đức và
tâm lý của Phật giáo. Như thế, đây chính là một cuốn sách không thể
thiếu đối với các Tăng sinh Phật giáo. Ngoài tầm quan trọng của một
văn bản Phật giáo, Di Lan Đà Vấn Đạo còn có giá trị của một tư liệu
lịch sử và là một công trình văn học xuất sắc. Cuốn sách cung cấp
cho chúng ta một chứng liệu nổi bậc về văn xuôi Ấn Độ trong thế kỷ
thứ nhất. Di Lan Đà Vấn Đạo có một vị trí đặc biệt trong văn học Ấn
Độ, dù xét về mặt lý luận, văn chương, lịch sử, hay địa lý. Về thời
kỳ hậu giáo điển, không có một luận thư Phật giáo nào sánh ngang được
với quyển Di Lan Đà Vấn Đạo—According to Prof. Bapat in The Twenty-Five
Hundred Years Of Buddhism, after the Pali scriptures, the Questions
of King Milinda (Milinda-panha) supposed to have been compiled by
Mahathera Nagasena, is considered almost as authoritative a text.
It is certain that the Milinda-panha must have been written either
at the time of king Milinda or after him, but surely before the time
of Buddhsghosa, who has so often quoted Nagasena’s Milinda-panha as
an authority. That is to say, the book must have been written between
150 B.C. and 400 A.D. It has been suggested that the Milinda-panha
is not a unitary text for different chapters are written in more than
one style. Hence it is probable that some chapters are later additions.
A strong proof of the above theory, however, is the fact that the
book was translated into Chinese between 317 and 420 A.D. and that
its Chinese version, known as the Nagasena Sutra, contains only the
first three chapters of the Milinda-panha. From this it has been concluded
that the remaining four chapters of the Milinda-panha are later additions.
Still another fact that supports the above view is that, at the end
of the third chapter, it is stated that the questions of King Milinda
have come to an end, and the fourth chapter looks like a new beginning.
No matter what has happened, we are probably not altogether justified
in setting aside the assumption that Nagasena, or whoever he author
may have been, wrote the whle of the book as it has come down to us
today. For it is not impossible that the Chinese translator himself
preferred to limit his translation only to the first three chapters.
The Milinda-panha, as it stands at present, contains seven chapters.
Out of these seven, the first one is largely personal and historical
while the others are all doctrinal. It is strange that while Nagasena
took so much time to tell us about his past life and that of
king Milinda, he does not give us much information about his present
life. Humility bordering on self-effacement has been a general
characteristic of all our ancient writers. At that time, king Milinda
was not satisfied with the contemporary religious teachers, and his
arrogance found expression in the following statements: “Jambudvipa
is empty, Jambudvipa is hollow. Jambudvipa is devoid of any Sramanah
or Brahmin who could argue with me to help me solve all my doubts.”
In the elder Nagasena, however, king Milinda met one who completely
subdued him not only with his superior intellect, but also with his
impressive and persuasive diction. It is said that as soon as they
had exchanged formal greetings, the King said: “Sir, what is your
name? How are you known?” Nagasena replied: “Maharaja, I am known
as Nagasena. My brother bhikshus address me thus. My parents call
their son Nagasena, but all this is just usage. In reality, there
does not exist any individual as such.” This statement of the Elder
Nagasena set the ball rolling and there followed a series of questions
and answers, including the famous chariot illustration which maintained
that just as the parts of a chariot put together make a chariot, and
there is no chariot apart from them, similarly the different
components of an individual make an individual and that the individual
does not exist aprt from them. No more profound or appealing statement
of the doctrine of Anatmavada can be found than the above enunciation
of the Elder Nagasena in the whole Buddhist literature, with the exception
of the scriptures. Thus Milinda-panha is a comprehensive exposition
not only of Buddhist metaphysics, but also of Buddhist ethics and
psychology. As such, it is indispensable for the student of
Buddhism. Apart from its importance as a Buddhist text, the
Milinda-panha is also to be valued as a historical document and a
literary achievement of great eminence. The Milinda-panha provides
an unsurpassed testimony to Indian prose literature of the first century.
In short, the Milinda-panha occupies a unique position in Indian letters,
whether looked at from the point of view of metaphysics, or literature,
or history, or knowledge of geography. It is an indisputable fact
hat in post-canonical literature, no other treatise on Buddhism equals
the Milinda-panha.
Di Lặc: See Maitreya
in the Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Di Lặc Bồ Tát:
Từ Thị—Di Lặc Bồ Tát hay vị Phật tương lai của cõi Ta Bà (vị Bồ Tát
sẽ thành Phật vị lai hướng dẫn chúng sanh giải thoát khỏi phiền trược)—Great
Loving One—Maitreya Bodhisattva—The future Buddha of this saha world
(the Bodhisattva who will become a full Buddha in the next world cycle
to lead men to liberation from self-bondage).
** For more information,
please see Maitreya
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Di Lâu: Meru
(skt)—Cao Sơn—Quang Sơn.
1)
Cao ngất: Lofty.
2)
Núi Tu Di: Ở đây chỉ núi Hy Mã Lạp Sơn—Meru also refers to
the mountains represented by the Himalayas, in this not differing
from Sumeru.
Di Lệ Xa: Mleccha
(skt).
1)
Người man rợ, hung dữ: Barbarian, foreigner, wicked.
2)
Vẻ mặt hung hăng: Defined as ill-looking.
3)
Một từ dùng để chỉ những bộ tộc hay giống người ngoại đạo:
A term for non-Buddhist tribe or people.
Di Mẫu: Mother’s
sister.
Di Ngôn: Di giáo—The
last words—Wishes.
Di Pháp: See
Di Huấn.
Di Quan: Di chuyển
quan tài từ giữa nhà ra để làm lễ di quan trong ngày thứ ba—To remove
the coffin to the hall for the masses for the dead on the third day
after the encoffinment.
Di Sa Tắc: Mahisasaka
(skt)—Di sa tắc Luật, một trong năm bộ luật của Đại Chúng Bộ (sau
khi Đức Phật nhập diệt chừng 100 năm, tổ thứ tư là Ưu Ba Cúc Đa có
năm vị đệ tử, diễn giảng Luật Tạng thành năm bộ phái khác nhau, gọi
là Ngũ Bộ Luật, Di sa Tắc là một trong năm bộ luật nầy)—The Mahasasaka
Vinaya, one of the five divisions of the Sarvastivadah school
Di Sản: Hertage—Inherited
property.
Di Sơn: Dời non
lấp biển—To remove mountains.
Di Tích: Tracks—Evidences—Vestiges—Remains—Trace—Examples
left behind.
Di Truyền: Heredity.
Dì Phước: Sister
of mercy.
Dĩ:
1)
Đã rồi: Already.
2)
Quá khứ: Past.
3)
Cuối cùng: End.
4)
Chấm dứt: Cease.
Dĩ Ân Báo Oán:
To return good for evil.
Dĩ Đạt Đại Đức:
1)
Bậc cao Tăng đạo cao đức trọng: A monk far advanced in religion.
2)
Vị A La Hán: An Arhat.
Dĩ Hoàn: Đã trở
lại—Bắt đầu một chu kỳ—Already returned—The recommencement of a cycle.
Dĩ Huyết Tẩy Huyết:
Lấy máu rửa máu, máu càng lan rộng (lấy máu rửa máu hay lấy oán báo
oán, chúng ta sẽ rơi hết từ tội lỗi nầy sang tội lỗi khác)—To wash
out blood with blood, from one sin to fall into another.
Dĩ Kim Đương:
Tam thế—Three times.
1)
Quá Khứ: Past.
2)
Hiện Tại: Present.
3)
Vị Lai: Future.
Dĩ Kim Đương Vãng
Sanh: Những vị vãng sanh về Tịnh Độ, trong quá khứ, trong hiện
tại, và vị lai—Those born into the future life of the Pure Land, in
the past, in the prsent, and to be born in the future.
Dĩ Ly Dục Giả:
Người đã từ bỏ dục giới, có hai loại—Those who have abandoned the
desire-realm, divided into two classes:
1)
Dị Sanh: Phàm phu đã lìa dục vọng, nhưng vẫn còn luân hồi trong
lục đạo—Ordinary people who have left desire, but will be born into
the six gati.
2)
Thánh Giả: Những vị Thánh không còn luân hồi trong dục giới,
cho cả Phật tử và không Phật tử—The saints, who will not be reborn
into the desire-realm, for both Non-Buddhists and Buddhists.
Dĩ Nhiên: Of
course—Naturally.
Dĩ Oán Báo Oán:
To return evil for evil.
Dĩ Sa Thí Phật:
Theo truyền thuyết thì tiền kiếp vua A Dục khi là một đứa nhỏ lúc
còn thơ ấu đã lấy nắm cát trong tay mà cúng dường cho Phật, nên về
sau nầy được tái sanh làm vua—The legend of Asoka when a child giving
a handful of gravel as alms to the Buddha in a previous incarnation,
hence his rebirth as a king.
Dĩ Sanh: Bhuta
(skt)—Dĩ Sanh—Lúc hiện hữu hay ngay trong hiện tại—Become—The
moment just come into existence, the present moment.
Dĩ Tâm Học Tâm:
With the mind learning the mind.
Dĩ Tâm Truyền Tâm:
Truyền thẳng từ tâm qua tâm bằng trực giác, đối lại với lấy văn tự
mà truyền pháp—Direct transmission from mind to mind (the intuitive
principle of the Zen or Intuitive school)—With the mind transmitting
the mind, as contrasted with the written word.
Dĩ Tri Căn: Ajnendriya
(skt)—Một trong ba căn vô lậu—Người đã biết rõ căn cội thiện lành
đều phát khởi từ những chân lý (ý, lạc, hỷ, xả, tín, tấn, niệm, định,
huệ) mà ra—The second of the three passionless roots—One who already
knows the Indriya or roots that arise from the practical stage associated
with the four dogmas (purpose, joy, pleasure, renunciation, faith,
zeal, memory, abstract meditation, wisdom).
Dĩ Vãõng: The
former time—The past.
Dĩ Vi: Coi như—To
take to be—To consider as.
Dị:
1)
Dị thường: Extraordinary.
2)
Dung Dị: Dễ dàng—Easy.
3)
Sự khác biệt: Prthak (skt)—Different—Unlike—Separate—Diverse—Diversity—Not
the same—Diversity—Change—Strange—Heterodox.
Dị Bẩm: Extraordinary
nature.
Dị Biến: Thay
đổi—To change.
Dị Bộ: Different
class, or sect; heterodox schools, etc.
Dị Chấp: Cố chấp
với cái lý khác với chánh lý—A different tenet—To hold to heterodoxy.
Dị Chủng: Foreign
race.
Dị Dạng: Strange
form.
Dị Duyên: Alambana-pratyaya
(skt)—Những yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng đến sự chăm chú, hay tập
trung tư tưởng—Things distracting the attention, distracting thoughts;
the action of external objects conditioning consciousness.
Dị Đoan: Superstition—Heterodoxy.
Dị Đồng: Different.
Dị Giải: Lối
giải thích theo dị giáo—A different, or heterodox, interpretation.
Dị Giáo: Heresy.
Dị Hành: Dễ làm—Easy
to do—Easy progress.
Dị Hình: Strange
shape.
Dị Học:
1)
Những nghiên cứu khác: Different studies.
2)
Học thuyết của tà giáo: Heterodoxy.
Dị Huệ: Trí tuệ
của kẻ theo tà giáo—Heterodox wisdom.
Dị Khẩu Đồng Âm:
Nhiều ý kiến khác nhau, nhưng lại đồng tâm nhứt trí—Different or many
mouths, but the same response—Unanimous.
Dị Kiến: Different
view, heterodoxy.
Dị Nhân:
1)
Người dị thường: An Extraordinary man—A different person.
2)
Nhân khác: A different cause.
Dị Phẩm: Phẩm
loại tương phản hay khác nhau—Of different order, or class.
Dị Phương Tiện:
Phương tiện đặc thù mà Phật dùng để xiển dương Nhất Nghĩa Đế—Extraordinary,
or unusual adaptations, devices, or means.
Dị Sinh: Prthagjana,
Balaprthagjana (skt)—Tên gọi khác của phàm phu. Phàm phu được dịch
là “dị sinh” vì do vô minh mà theo tà nghiệp chịu quả báo, không được
tự tại, rơi vào các đường dữ—An ordinary person unenlightened by Buddhism,
an unbeliever, sinner; childish, ignorant, foolish; the lower orders.
Dị Sinh Đê Dương
Tâm: Cái ngu của phàm phu được ví như con dê đực (Đê Dương) chỉ
nghĩ tới ăn uống và dâm dục—Common “butting goat,” or animal, propensities
for food and lust.
Dị Sinh Tánh Chướng:
The common illusions of the unenlightened—Taking seeming for real.
Dị Sự: Extraordinary
fact.
Dị Tài: Extraordinary
talent.
Dị Tâm:
1)
Tâm khác: Different mind.
2)
Tâm chứa chấp tà thuyết: Heterodox mind.
Dị Thục: Vipaka
(skt)—Quả báo nương theo thiện ác của quá khứ mà có được, cái quả
khác với tính chất của cái nhân, như thiện nghiệp thì cảm lạc quả,
ác nghiệp thì cảm khổ quả, cả hai lạc quả và khổ quả không còn mang
tính chất thiện ác nữa, mà là vô ký (neutral), nên gọi là dị thục
tức là cái nhân khi chín lại khác—Differing from the cause, different
when cooked, or matured, i.e. the effect differing from the cause,
pleasure differing from goodness its cause, and pain from evil. Maturing
or producing its effects in another life.
Dị Thục Đẳng Ngũ
Quả: Năm quả dị thục, hay năm quả được sản sanh bởi sáu nhân—The
five fruits of karma. Pancaphalani, or effects produced by one or
more of the six hetus or causes.
1)
Dị Thục Quả: Vipaka-phala (skt)—See Dị Thục Quả.
2)
Đẳng Lưu Quả: Nisyanda-phala (skt)—Uniformly continuous effect—See
Đẳng Lưu Quả.
3)
Sĩ Dụng Quả: Purusakara-phala (skt)—Simultaneous effect produced
by the sahabhu-hetu and the samprayukta-hetu—See Sĩ Dụng Quả.
4)
Tăng Thượng Quả: Adhipati-phala (skt)—Aggregate effect produced
by the karma-hetu—See Tăng Thượng Quả.
5)
Ly Hệ Quả: Visamyoga-phala (skt)—Emancipated effect produced
by all six causes—See Ly Hệ Quả.
Dị Thục Nhân:
Vipakahetu (skt)—Nhân sanh ra quả khác với chính nó, thí dụ như thiện
nhân không sanh ra thiện quả mà lại sanh ra lạc quả; ác nhân không
sanh ra ác quả, mà lại sanh ra khổ quả (lạc quả và khổ quả đều là
vô ký, chứ không phải là thiện ác)—Heterogeneous cause, i.e. a cause
producing a different effect, known as neutral, or not ethical, e.g.
goodness resulting in pleasure, evil in pain.
Dị Thục Nhơn Dị Thục
Quả: Differently ripening causes produce differently ripening
effects—Every developed cause produce its developed effect.
Dị Thục Quả:
Quả báo khác thời mà chín, như trong một kiếp tái sanh nào đó thì
do cái nhân đời trước mà ngũ căn đời nầy sẽ xấu, đẹp, thông minh,
ngu độn (chứ không phải là thiện ác nữa, do đó mới gọi là dị thục
quả)—Fruit ripening differently, or heterogeneous effect produced
by heterogeneous cause, i.e. in another incarnation, or life, e.g.
the condition of the eye and other organs now resulting from specific
sins or otherwise in previous existence.
Dị Thục Sinh:
Sự phân biệt của Đại Thừa về sự khác biệt giữa “dị thục” và “dị thục
sinh.” Dị thục sinh là sáu thức (dị thục của sáu thức do A Lại Da
thức sanh ra)—A diference is made in Mahayana between Alaya-vijnana
and the six senses which produced from the Alaya-vijnana.
Dị Thuyết: Giáo
thuyết của dị giáo—A different, or heterodox explanation; or
strange doctrine.
Dị Thường: Extraordinary—Exceptional—Unnatural—Fantastic.
Dị Tộc: Different
race.
Dị Tướng:
1)
Một trong tứ tướng, sự thay đổi: One of the four states of
all phenomena, difference or differentiation—See Tứ Tướng (3).
2)
Phẩm chất đặc biệt, tướng mạo lạ thường: Particular qualities,
strange physiognomy.
Dịch: To translate.
Dịch Thoát: To
translate freely.
Dịch Từng Chữ:
To translate word by word.
Diệc:
1)
Vừa: Also.
2)
Hơn nữa: Moreover.
Diệc Hữu Diệc Không
Môn:
1)
Trường phái Trung Đạo: Madhyamika (skt)—The middle school.
2)
Pháp môn vừa hữu vừa không hay pháp môn song chiếu hữu không—Trung
Đạo—Both reality and unreality—Relative and absolute—Phenomenal and
non-phenomenal.
Diêm:
1)
Cổng làng: A gate—Border-gate—Hamlet.
2)
Nói xàm—Nói không ăn nhập vào đâu—Incoherent talk.
Diêm Bà Độ: Loại
chim trong địa ngục, lớn như voi, có nhiệm vụ gấp những kẻ độc ác,
bay đi rồi ném xuống cho rớt ra từng mảnh—A bird in purgatory as large
as an elephant, who picks up the wicked, flies and drops them, when
they are broken to pieces.
Diêm Đài: Hells—Hades.
Diêm La: Yama
(skt)—See Diêm Vương.
Diêm Ma: Yama
(skt)—See Diêm Vương.
Diêm Ma Na Châu Quốc:
Yavana or Yamana (skt)—Đảo quốc Java nơi mà hai ngài Pháp Hiền và
Huyền Trang đã đến viếng—The island nation of Java, visited by Fa-Hsien
and Hsuan-Tsang.
Diêm Ma Vương:
Yama (skt)—The King of the Under World—See Diêm Vương.
Diêm Mạn Đức Ca:
Yamataka (skt)—Diêm Ma Đức Ca Tôn—Diêm Mạn Uy Nộ Vương—Đại Uy Đức
Minh Vương—Hàng Diêm Ma Tôn—Lục Túc Tôn—Một trong năm vị Đại Minh
Vương, vị tôn ở Tây Phương có sáu chân ( cũng là giáo lệnh luân thân
của Đức Phật Vô Lượng Thọ)—The destroyer; Siva, Yama’s destroyer,
one of the Ming-Wang represented with six legs, guardian of the West.
Diêm Mâu Na:
Yamuna (skt)—Lam Mâu Ni Na—Dao Vưu Na—Bây giờ là sông Jamna, một nhánh
của sông Hằng (hợp lưu với sông Hằng tại Bát La Da Già)—The modern
river Jamna, a branch of the Ganges (meets with the Ganges at Allahabad).
Diêm Phù: Jambu
(skt)—Thiệm Bộ—Xà Phù Thụ hay Uế Thụ, loại cây được tả là cao ngất
mà châu Diêm Phù Đề, một trong bảy châu lớn bọc quanh núi Tu Di, đã
mang tên của loại cây nầy—The rose-apple, described as a lofty tree
giving its name to Jambudvipa, one of the seven continents or rather
large islands surrounding the Mountain Meru.
Diêm Phù Đàn Kim:
Jambunada-suvarna (skt)—Diêm Phù Na Đề (Đà) Kim—Tên một loại vàng
ở sông Diêm Phù Đàn (mé dưới rừng cây Diêm Phù có một dòng sông tên
là Diêm Phù Đàn, ở đáy sông có một loại vàng màu sẫm pha chút sắc
tím gọi là Diêm Phù Đàn Kim)—Jambud-river gold, the golden sand of
the Jambu.
Diêm Phù Đề:
Jambudvipa (skt).
1)
Châu nầy được đặt tên Diêm Phù Đề có thể là vì trên châu nầy
mọc nhiều cây Diêm Phù, hoặc giả từ trên cây Diêm Phù khổng lồ trên
núi Tu Di có thể nhìn thấy toàn châu: It is so named (Jambudvipa)
either from the Jambu trees abounding in it, or from an enormous Jambud
tree on Mount Meru visible like a standard to the whole continent.
2)
Thế giới mà chúng ta đang sống. Diêm Phù đề chỉ là một phần
nhỏ của thế giới Ta Bà, nằm về phía nam của núi Tu Di, theo vũ trụ
học cổ Ấn Độ, đây là nơi sinh sống của con người, là thế giới Ta Bà
của Đức Phật Thích Ca—The human world—The world in which we are living—Jambudvipa
is a small part of Saha World, the continent south of Mount Sumeru
on which, according to ancient Indian cosmology, human beings live.
In Buddhism, it is the realm of Sakyamuni Buddha.
Diêm Phủ: See
Diêm Đài.
Diêm Vương: Yama-raja
(skt)—King of hell—God Yama—Còn gọi là Diêm La, Diêm Ma Vương, Diêm
Ma La, Diêm Lão, hay Diêm La Vương.
1)
Theo thần thoại Phật giáo và Ấn Độ giáo, tất cả mọi người chết
phải đến trước một vị chúa tể hay phán quan của thần chết để được
phán xử. Bằng cách dựa vào tấm gương phản chiếu thiện ác nghiệp, trong
ấy những hành vi tốt xấu của người chết đều hiện lên. Diêm Vương cân
nhắc tội nặng nhẹ mà thưởng phạt, hoặc đưa người ấy về cõi hạnh phúc,
hoặc nếu hành vi xấu ác của người chết nặng thì Diêm Vương bắt y phải
chịu những tra tấn hay nhục hình khủng khiếp, như nuốt hòn sắt cháy
đỏ—In Buddhist and Hindu mythology, the Lord of Judge of the Death
before whom all who die must come for judgment. Yam-raja holds up
his Mirror of Karma, wherein are reflected the good and evil deeds
of the deceased, and the latter consigns himself either to a happy
realm or, where his deeds have been preponderantly evil, to frightful
tortures, such as swallowing a red-hot iron ball.
2)
Theo Kinh Vệ Đà thì Diêm Vương là Thần Chết, tất cả người chết
phải về chỗ của ông ta. Ông là con trai của Mặt Trời, ông còn có một
người em gái tên là Diêm Ma Nữ hay Diêm Mâu Na (người anh là nam phán
quan xét việc nam giới, người em là nữ phán quan xét việc nữ giới):
In the Veda, Yama means the god of the dead, with whom the spirits
of the departed dwell. He was son of the Sun and had a twin sister
Yami or Yamuna.
** See Yama
in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section, and Diêm Mâu Na in
Vietnamese-English Section.
Diễm:
1)
Bén nhọn: Pointed—Sharp.
2)
Chuốt cho bén: To sharpen.
3)
Diễm Lệ: Beautiful.
4)
Ngọn Lửa: A flame—A blaze.
Diễm Khẩu: Ulka-mukha
(skt)—See Diệm Khẩu.
Diễm Lệ: Charming—Lovely.
Diễm Phù: Jambudvipa
(skt)—See Diêm Phù Đề in Vietnamese-English Section, and Jambudvipa
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Diễm Phúc: Happiness—Felicity.
Diễm Sắc: Great
beauty.
Diễm Tình: Love.
Diễm tuyệt: Very
beautiful (pretty).
Diệm:
1)
Viêm: Ngọn lửa—Flame—Blaze.
2)
Niết Bàn: Nirvana.
Diệm Huệ Địa:
Giai đoạn thứ tư của Bồ Tát, trí tuệ của Bồ Tát sáng lên tột bực và
hiểu biết đầy đủ—The stage of flaming wisdom, the fourth of the ten
bodhisattva stages.
** For more information,
please see Thập Địa Phật Thừa (4).
Diệm Khẩu: Ulka-mukha
(skt)—Tên một loài quỷ đói, miệng phun lửa đã hiện ra trước
mặt ngài A Nan (nói với ngài A Nan rằng ba ngày nữa ông sẽ mệnh chung
và đầu thai làm quỷ đói trừ phi nào ông bố thí cho trăm nghìn con
quỷ đói mỗi đứa một hạt cơm. A Nan bèn bạch với Phật, nên nhân đó
Phật thuyết kinh Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Kinh hay Kinh Phật Thuyết Cứu Bạt
Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni)—Flaming mouth, a hungry ghost or
preta, that is represented as appearing to Ananda.
Diệm Ma Đại Hỏa Tiên:
Một trong bảy vị cổ Tiên—Jamadagni, one of the seven ancient sage-rsis.
Diệm Ma Thiên:
Yamadevaloka (skt)—Yama (p)—Tu Diệm Ma—Tên của Dục Giới Thiên, tầng
trời thứ ba—The third of the desire-heavens, above the Trayastrimsas—The
realm of Deva Yama is a realm of great happiness presided over by
their ruler, the divine king Suyama or Yama—Cảnh Trời Đại Hạnh được
trị vì bởi Diệm Ma Vương.
Diệm Thai: Ánh
sáng vây bọc quanh mình như trong Thai Tạng giới—The flaming
womb, the gabhadhatu which surrounds with light.
Diệm Tuệ Địa:
See Diệm Huệ Địa.
Diệm Võng: Ánh
sáng của Phật xen kẻ lớp lớp như mắt lưới ngọc châu của vua Trời Đế
Thích—The flaming, or shining net of Buddha, the glory of Buddha,
which encloses everything like the net of Indra.
Diệm Vương Quang
Phật: Đức Phật thứ năm trong 12 vị Quang Phật (tất cả 12 danh
hiệu nầy đều được dùng để tán thán Đức Vô Lượng Thọ Như Lai)—The fifth
of the twelve shining Buddhas.
Diên: Kéo dài—To
prolong.
Diên Khánh Tự:
Chùa Diên Khánh nơi có phòng giảng khi xưa của tông Thiên Thai ở Tứ
Minh Sơn, thuộc tỉnh Triết Giang—Yen-Ch’ing-Ssu, the monastery in
which there is an ancient lecture hall of T’ien-T’ai at Ssu-Ming-Shan
in Chekiang.
Diên Mệnh: Cuộc
sống kéo dài—Prolonged life.
Diên Mệnh Bồ Tát:
Những vị Bồ Tát có phép tu và đức kéo dài cuộc sống. Những vị nầy
gồm Phổ Hiền, Địa Tạng và Quán Âm—The life-prolonging bodhisattvas
to increase length of life. These bodhisattvas are Samantabhadra,
Ksitigarbha, and Avalokitesvara.
Diên Mệnh Địa Tạng
Bồ Tát: Ngài Địa Tạng Bồ Tát có phép tu và đức kéo dài được tuổi
thọ—The Life-Prolonging Ksitigarbha Bodhisattva.
Diên Mệnh Pháp:
Phép tu kéo dài tuổi thọ bằng cách tu theo hạnh các vị Diên Thọ Bồ
Tát như Phổ Hiền, Địa Tạng và Quán Âm—Methods of worship of the life-prolonging
bodhisattvas such as Universal Virtue (Samantabhadra), Earth-Store
(Ksitigarbha), and Avalokitesvara, etc., to increase length of life.
Diên Mệnh Phổ Hiền
Bồ Tát: Ngài Phổ Hiền có phép tu và đức kéo dài tuôi thọ—The Life-Prolonging
Samantabhadra Bodhisattva.
Diên Mệnh Quán Âm
Bồ Tát: Ngài Quán Âm có phép tu và đức kéo dài cuộc sống—The Life-Prolonging
Avalokitesvara Bodhisattva.
Diên Niên Chuyển
Thọ: Prolonged years and returning anniversaries.
Diên Thọ: Kéo
dài tuổi thọ: To prolong—To lengthen (life).
Diên Thọ Đại Sư:
Yen-Shou—Tên của một vị sư nổi tiếng ở Hàng Châu vào thời nhà Tống.
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ thì ngài
là Lục Tổ Tịnh Độ của Trung Quốc. Ngài tự là Xung Huyền, họ Vương,
quê quán ở Tiền Đường. Ngài quy y với Thúy Nham Thiền Sư ở đất Tứ
Minh. Kế lại tham học với Thiền Quốc Sư ở Thiên Thai, tỏ ngộ tâm yếu,
được quốc sư ấn khả. Ngài từng tu Pháp Hoa Sám Pháp ở chùa Quốc Thanh.
Trong khi thiền quán, thấy Đức Quán Thế Âm Bồ Tát rưới nước cam lồ
vào miệng, từ đó ngài được biện tài vô ngại. Do túc nguyện muốn chuyên
chú về Thiền hoặc Tịnh Độ mà chưa quyết định nên ngài đến Thiền viện
của Trí Giả Đại Sư làm ra hai lá thăm: một lá đề “Nhất tâm thiền định,”
lá kia đề “Trang nghiêm Tịnh Độ.” Kế đó ngài lại chí tâm đảnh lễ Tam
Bảo, sám hối cầu xin gia bị. Đến khi rút thăm, luôn bảy lần đều nhằm
lá “Trang nghiêm Tịnh Độ.” Kể từ đây ngài chuyên ý nhứt tâm
ròng rặc tu môn tịnh nghiệp. Năm Kiến Long thứ hai đời nhà Tống, vua
Trung Ý Vương thỉnh ngài về trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu ngài
là Trí Giác Thiền Sư. Ngài ở đây 15 năm, độ được 1.700 vị Tăng. Đại
sư lập công khóa mỗi ngày đêm hành trì 108 điều. Hai điều đặc biệt
nhứt trong đó là Một ngày tụng một bộ kinh Pháp Hoa và niệm 100.000
câu niệm Phật. Ban đêm khi ngài đi qua gộp núi khác niệm Phật, những
người ở gần đều nghe có tiếng loa pháp và tiếng thiên nhạc trầm bỗng
du dương. Về kinh Pháp Hoa, trong đời ngài tụng được 13.000 lần. Đại
sư thường truyền giới Bồ Tát, mua chim cá phóng sanh, thí thực cho
quỷ thần, tất cả các công đức chi ngài đều hồi hướng về Tịnh Độ. Ngài
có trước tác 100 quyển Tông Cảnh Lục, chỉ rõ dị đồng của ba tông:
Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức. Đại sư lại soạn ra tập sách Vạn
Thiện Đồng Quy, chỉ rõ về Pháp Môn Tịnh Độ. Đại sư lại thấy người
đương thời còn đang bị phân vân, ngờ vực giữa Thiền Tông và Tịnh Độ,
chưa biết phải tu môn nào để được kết quả chắc chắn, nên ngài làm
bài kệ “Tứ Liệu Giản” để so sánh (see Tứ Liệu Giản). Niên hiệu Khai
Bảo thứ 8, vào buổi sáng sớm ngày 26 tháng 2, ngài họp tứ chúng lên
chánh điện đốt hương lễ Phật, lễ xong ngài dặn dò, khuyên bảo, sách
tấn tứ chúng tinh tấn tu hành, rồi ngồi kiết già ngay ngắn trên pháp
tòa mà viên tịch. Ngài thọ 72 tuổi—Yen-Shou, name of a famous monk
in Hang-Chou during the Sung dynasty. According to Most Venerable
in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Yen-Shou was the
Sixth Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His given name is Xung
Huyền, his family name is Wang. He was born in Tsien-T’ang District.
He first came to Zen Master Thúy Nham of Tsu-Ming region and asked
to become a disciple. Next, he studied with Master T’ien-T’ai, the
Nation’s Master, at T’ien-T’ai. There he realized the true nature
or Buddha nature and his realization was recognized by the Nation’s
Master. He often cultivated the “Dharma Flower Sutra’s Repentance
Practices” at Kuo-Ch’ing Temple. One day while engaging in Zen Meditation,
he saw Avalokitesvara Maha-Bodhisattva sprinkle droplets of holy water
into his mouth. From that point, he was able to explain, clarify,
and elucidate the Buddha Dharma without limitation. Because of the
residual vow in his former life, he was still uncertain whether he
should choose Zen or Pureland to focus his practice. Thus, he came
to the Zen Monastery founded by Zen Master Chih-I and prepared two
prayer sticks: one was written “One Mind Zen Meditation,” and the
other was written “Adorning the Pureland.” Next, he sincerely prostrated
to the Triple Jewels, repented, and asked for protection and guidance.
When he drew for the sticks, all seven times he drew the stick “Adorning
the Pureland.” Thereafter, he devoted his time and energy to cultivate
Pureland Buddhism diligently and vigorously with one mind. In the
second year of Kiến-Long reign period of the Sung Dynasty, Emperor
Wang-Chung-Yi cordially invited him to be the headmaster at Yung-Ming
Temple, honoring him with the title Zen Master Enlightenment Wisdom.
He lived there for fifteen years as he helped and guided 1,700 Bhiksus.
He established praying periods, each day and night practicing 108
ways. Among these, two outstood as the most significant: Chanting
a volume of Dharma Flower Sutra daily, and reciting Amitabha Buddha’s
name 100,000 times daily. At night, when he sat on a great boulder
to practice Buddha Recitation, people in the surrounding area would
hear the enchanting sounds of the Dharma as well as the magnificence
of the heavenly symphony playing. In his lifetime, he chanted the
Dharma Flower Sutra thirteen thousand times. He often granted Bodhisattva
Precepts to those who wished to maintain. He also often purchased
captive birds and fish to set them free, donated meals to deity, hungry
ghosts, and demons. With all the merits and virtues he obtained, he
dedicated them to the Pureland praying to gain rebirth there. He wrote
100 texts called “Tống Cảnh Lục” to point out similarities and differences
of the three Dharma Doors: Avatamsaka, Dharma Flower and Mind Only
or Zen School. He also authored a collection of Buddhist texts called
“Vạn Thiện Đồng Quy.” Moreover, he also observed during that
time, many Buddhists were skeptical and unclear about the differences
between Zen and Pureland, not knowing which tradition to practice
to obtain guaranteed results; therefore, he wrote a poem entitled
“Four Clarifications” to make comparisons. At the early morning hours
of February 26th in the eighth year of Khai Bảo reign period, he when
to the prayer hall to light incense to prostrate to the Buddha. Thereafter,
he gathered the great assembly to instruct and encourage them
to cultivate diligently according to the teachings and then he sat
in the lotus position on top of the Dharma throne and passed away
into Nirvana. He was 72 years old.
Diên Thọ Đường:
Tĩnh Hành Đường—Niết Bàn Đường—Phòng nơi người sắp chết được đưa vào
để cầu an (người sắp chết lắm khi tâm thần bấn loạn nên đem lòng tham
luyến phòng ở, y bát, đồ dùng hành đạo, nên đem họ đến đây nghe kinh
kệ để thấy rằng mọi sự vật đều là vô thường, không có gì để cho ta
luyến ái trước khi họ thị tịch) —The hall or room into which a dying
person is taken to enter upon his “long life.” The nirvana hall—See
Niết Bàn Đường.
Diên Thọ Môn Đà La
Ni: Thần chú của Phật nói cho Ngài Kim Cương Thủ về phép tu huyền
diệu kéo dài tuổi thọ—The gate of Life-Prolonging Dharani, or dharani
which the Buddha told Vajrapani Bodhisattva methods of prolonging
life of cultivation.
Diên Thọ Vĩnh Minh:
See Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư.
Diên Xúc Kiếp Trí:
Trí huệ Phật, trùm lên tất cả mọi kiếp kéo dài hay rút ngắn—Buddha-wisdom,
which surmounts all extending or shrinking kalpas.
** For more information,
please see Kiếp.
Diễn:
1)
Bày ra: Show—To extend.
2)
Diễn giảng: To expound—To perform—To act.
Diễn Dịch: Deductive—To
expound and make clear.
Diễn Dịch Pháp:
Deductive method.
Diễn Đàn: Platform.
Diễn Đạt: To
express.
Diễn Giả: Speaker—Orator.
Diễn Giải: To
explain.
Diễn Nhã Đạt Đa:
Yajnadatta (skt)—Dịch là Từ Thụ, có nghĩa là nhờ tế thần mà được trao
cho—Obtained from sacrifice.
Diễn Nhã Đạt Đa Chi
Đầu: Chuyện về cái đầu của Diễn Nhã Đạt Đa. Tại thành Thất La
có người cuồng tên Diễn Nhã Đạt Đa. Một buổi nọ ông lấy gương soi
mặt, nhìn thấy lông mi và mắt hiện ra trong gương, nhưng lại không
thấy được lông mi và mắt trên đầu của mình nên hoảng sợ bỏ chạy một
cách điên cuồng. Ở đây mắt và đầu ví với chân tính, tất cả những gì
hiện ra trong gương đều là vọng tưởng (Diễn Nhã Đạt Đa mừng khi thấy
đầu trong gương ví với việc chúng sanh chấp vọng làm chân, cố chấp
không bỏ. Không thấy mình vốn có đầu, trên đầu vốn có lông mi và mắt
thật, được ví với chân tính)—The head of Yajnadatta—Yajnadatta, a
crazy man who saw his eyebrows and eyes in a mirror but not seeing
them in his own head thought himself bedevilled; the eyes and head
are a symbol of reality. Those in the mirror of unreality.
Diễn Tả: To describe.
Diễn Thuyết:
1)
Đọc diễn từ: To make (deliver) a speech.
2)
Giảng giải nghĩa lý: To expound—To dilate upon—To discourse.
Diễn Tiến: To
progress—To evolve.
Diễn Viên: Actor—Actress.
Diễn Văn: Speech—Address.
Diện:
1)
Ăn mặc bảnh bao: Well-dressed.
2)
Cái mặt: Face.
Diện Bích: Tọa
thiền mặt xoay vào tường, như Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã 9 năm diện bích mà
không nói một lời—To sit in meditation with the face to a wall, as
did Bodhidharma for nine years, without uttering a word—See Bồ Đề
Đạt Ma.
Diện Kiến: To
see in person.
Diện Môn:
1)
Trán: Forehead.
2)
Miệng: Mouth.
3)
Đường dọc phân chia môi trên làm hai: The line across the upper
lip.
Diện Mục: Mặt
và mắt, ý nói dáng vẻ bề ngoài—Appearance—Face and eyes—Physiognomy.
Diện Ngộ: To
meet.
Diện Sắc: Countenance.
Diện Thụ: Trực
tiếp chỉ giáo—Personal or face-to-face instruction.
Diệp: Pattra,
or Parna (skt)—Lá—Leaf—Leaves.
Diệp Cái: Nón
làm bằng lá cây—A leaf-hat, or cover made of leaves.
Diệp Y Quán Âm:
tên gọi tắt của Bị Diệp Y Quán Âm, hay Đức Quán Âm mặc áo cánh hoa
sen, ví với tám vạn bốn ngàn công đức—A form of Kuan-Yin clad
in leaves to represent the 84,000 merits.
Diệt: Nirodha,
Nirdha (skt)—Ni Lâu Đà.
1)
Niết Bàn: Cái thể của Niết Bàn là vô vi tịch diệt—To exterminate,
to destroy, to annihilate, translation of Nirodha of Nirvana. Dead,
extinguished, blown out, perfect rest, highest felicity.
2)
Diệt Đế: Một trong Tứ Diệu Đế, thông với nhân quả từ khổ, tập,
diệt, đạo hay con đường diệt khổ—Nirodha is the third of the four
axioms: pain, its focusing, its cessation or cure, the way of such
cure.
3)
Tỳ Ni: Vinaya (skt)—Giới hạnh diệt trừ chư ác hay hữu sở diệt,
diệt trừ những nguyên nhân của khổ đau dẫn đến luân hồi sanh tử—Annihilation
or extinction of the passions as the cause of pain which leads to
the extinction of existence, or of rebirth and mortal existence.
Diệt Bệnh: Một
trong bốn bệnh mà Kinh Viên Giác đã nói đến, là căn bệnh trụ vào tịch
diệt tướng của chư pháp. Một phương pháp mà Phật Giáo Tiểu Thừa đã
dùng để diệt trừ không cho sót lại chút phiền não nào—One of the four
ailments or faulty ways of seeking perfection, mentioned in the Complete
Enlightenment Sutra. The Hinayana method of endeavouring to extinguish
all perturbing passions so that nothing of them remains.
**For more information,
please see Tứ Bệnh.
Diệt Chủng:
1)
Tận diệt một chủng tộc: To exterminate (wipe out) a race.
2)
Diệt bỏ hạt giống vô lậu và Phật tính (vĩnh viễn không thể
thành Phật): To destroy one’s seed of Buddhahood.
Diệt Đạo:
1)
Con đường dẫn đến tận diệt khổ đau phiền não: Extinction of
suffering and the way of extinction.
2)
Diệt Đế và Đạo Đế: Nirodha and marga—See Tứ Diệu Đế, and Tứ
Thánh Đế in Vietnamese-English Section.
Diệt Đế: Nirodha-aryasatya
(skt)—Chân lý về sự diệt khổ, đế thứ ba trong Tứ Diệu Đế—The Truth
of the end of suffering—The extinction of suffering, which is rooted
in reincarnation, the third of the four axioms (dogmas).
** For more information, please see Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh
Đế in Vietnamese-English Section.
Diệt Định: See
Diệt Tận Định.
Diệt Định Trí Thông:
Thần Thông Trí đạt được trong cảnh giới vô vi Niết Bàn—The freedom
or supernatural power of the wisdom attained in nirvana, or perfect
passivity.
Diệt Độ: Nirvana
(skt)—Bát Niết Bàn Na—Sự tận diệt luân hồi sanh tử và thoát khổ—Extinction
of reincarnation and escape from suffering.
Diệt Hậu: Sau
khi Đức Phật nhật Niết Bàn—After the nirvana, after the Buddha’s death.
Diệt Kiếp: Samvarta
kalpa (skt)—Hoại Kiếp—World destruction.
Diệt Lý: Niết
Bàn là chân lý tịch diệt (diệt khổ dứt phiền não để đi vào cảnh giới
hoàn toàn tịch tịnh)—The principle or law of extinction, i.e. nirvana.
Diệt Môn: Nirvana
(skt)—Niết Bàn—In contrasted with Samsara (transmigration) Lưu chuyển
môn.
Diệt Nghiệp:
Nghiệp đưa đến tận diệt khổ đau phiền não, hay nghiệp đưa đến Niết
Bàn—The work or karma of nirodha, the karma resulting from the extinction
of suffering, i.e. nirvana.
Diệt Pháp: Pháp
Vô Vi (dùng để diệt bỏ hết chư tướng. Thân tâm đối với cảnh không
còn cảm động, không ưa, không ghét, không ham, không chán, không vui,
không buồn, không mừng, không giận)—The unconditioned dharma, the
ultimate inertia from which all forms come, the noumenal source of
all phenomenal.
Diệt Pháp Nhẫn:
See Diệt Pháp Trí Nhẫn.
Diệt Pháp Quả:
Quả vị tịnh tịch tuyệt đối—The realm of the absolute, of perfect quiescence.
Diệt Pháp Trí:
Trí soi chiếu Diệt Đế của Dục giới hay trí giải thoát khỏi dục vọng
và luân hồi sanh tử—The knowledge or wisdom of the dogma of extinction
of passion and reincarnation.
Diệt Pháp Trí Nhẫn:
Diệt Pháp Nhẫn hay nhẫn nhục đạt được nhờ có Diệt Pháp Trí (nhờ Diệt
Pháp Trí mà sanh ra loại nhẫn nhục có thể đoạn trừ dục vọng và luân
hồi sanh tử)—One of the eight kinds of endurance, the endurance and
patience associated with the knowledge or wisdom of the dogma of extinction
of passion and reincarnation.
Diệt Quả: Nirvana
(skt)—Niết Bàn là đạo quả tận diệt dục vọng, đế thứ ba trong tứ đế—Nirvana
as the fruit of extinction of desire, the third of the four axioms.
**For more information,
please see Tứ Diệu
Đế
and Tứ Thánh Đế.
Diệt Quán: Quán
sát về sự dập tắt: hủy diệt si mê bằng cách chấm dứt nghiệp sanh,
lão, bịnh, tử—The contemplation of extinction: the destruction of
ignorance followed by the annihilation of karma, birth, old age and
death.
Diệt Sấn: Tên
một tội danh trong Luật Tạng. Tỳ kheo phạm trọng tội mà không phát
lồ sám hối thì bị xóa tên trong sổ Tăng tịch và bị đuổi đi (tội nầy
tương đương với tội tử hình ngoài đời)—Blotting out the name and the
expulsion of a monk who has committed a grievous sin without repentance.
Diệt Tận Định:
See Diệt Thọ Tưởng Định.
Diệt Tận Tam Muội:
See Diệt Thọ Tưởng Định.
Diệt Thọ Tưởng Định:
Diệt Tận Định—Định Tam muội, làm cho tâm và tâm sở của Lục Thức dập
tắt hoàn toàn những cảm thọ và suy tưởng. Đây là một trong những phương
thức thiền cao nhất dẫn tới định tâm (tâm ý không nhiễm không nương
vào một cảnh nào, không tương ứng với một pháp nào. Đây là phép định
của bậc Thánh. Khi vào phép nầy thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới,
truớc khi đi vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, rồi đắc quả Phật
và nhập Niết Bàn)—A samadhi in which there is complete extinction
of sensation and thought, one of the highest form of meditation (kenosis),
resulting from concentration.
** For more information,
please see Tứ Không
Xứ.
Diệt Trí: Cái
trí chiếu rõ đạo lý Diệt Đế, dứt khổ trừ phiền não—The knowledge or
wisdom, of the third axiom, nirodha or the extinction of suffering.
** For more information, please see Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh
Đế in Vietnamese-English Section.
Diệt Trừ: To
destroy.
Diệt Trường:
Nơi mà hành giả đạt được tận diệt dục vọng, hay niết bàn—The plot
or arena where the extinction of the passions is attained; the place
of perfect repose, or nirvana.
Diệt Tuyệt: To
destroy completely.
Diệt Tướng:
1)
Một trong bốn pháp hữu vi được nói đến trong Kinh Kim Cang.
Pháp hữu vi khi hiện pháp trong hiện tại bị diệt đi thì nhập vào pháp
quá khứ: One of the four states of all phenomena, mentioned in the
Diamond Sutra. The extinction, as when the present passes into the
past—See Tứ Tướng.
2)
Một trong tam tướng chân như. Chân như tịch diệt (không còn
hai tướng sanh tử): One of the three forms or positions of Bhutatathata.
The absolute and unconditioned aspect of Bhutatathata—See Tam Tướng.
Diệt Vong: To
perish.
Diệt Yết Ma:
1)
Diệt Nghiệp: The extinguishing karma—See Diệt Nghiệp.
2)
Loại trừ một vị Tăng phạm tội mà không phát lồ sám hối ra khỏi
Tăng đoàn: The blotting out of the name of a monk and his expulsion
from the order—See Diệt Sấn.
Diệu: Manju or
suksma (skt)—Tát Tô—Huyền diệu không thể nghĩ bàn hay bất khả tư nghì—Marvelous—Wonderful—Profound—Subtle—Supernatural—Mystic—Mysterious—Beyond
thought or discussion.
·
Bất Khả Tư Nghì: Beyond thought or discussion.
·
Sáng chói: Brilliant—Shining—See Thất Diệu.
·
Tuyệt Đối: Special—Outstanding.
·
Vô Tỷ: Incomparable.
·
Tinh Tế Thậm Thâm: Subtle and profound.
Diệu Âm: Âm thanh
thù diệu—Wonderful sound.
Diệu Âm Biến Mãn:
Manjna-sabdabhigarjita (skt).
1)
Âm thanh thù diệu tỏa khắp nơi nơi: Universal wonderful sound.
2)
Thời kỳ mà Đức A Nan thành Phật với danh hiệu Diệu Âm Biến
Mãn Như Lai—The kalpa of Ananda as a Buddha with the title Manojna-Sabdabhigarjita
Buddha.
Diệu Âm Bồ Tát:
1)
Diệu Âm Đại Sĩ—Vị Đại Sĩ, trụ trên cõi Đông Độ của Đức Tỳ Lô
Giá Na, đã chứng được mười bảy sắc thân tam muội (Ngài cũng vì nhiều
nhân duyên ở cõi Ta Bà này thường thị hiện thành Đế Thích, Phạm Vương,
Tự Tại Thiên hay Tỳ Sa Môn, Tỳ Kheo để hóa độ chúng sanh)—A Bodhisattva,
master of seventeen degrees of samadhi, residing Vairocana-rasmi-pratimandita.
2)
Thủy Thiên Đức Phật: Vị Phật thứ 743 trong hiện kiếp, người
cai quản hết thảy nước trong vũ trụ—A Buddha like Varuna controlling
the waters, the 743rd Buddha of the present kalpa.
3)
Sughosa, một người em gái của Quán Âm Đại Sĩ: Sughosa, a sister
of Kuan-Yin Bodhisattva.
4)
Ghosa, vị A La Hán, nổi tiếng vì khả năng biện biệt giải thích.
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, chính Ghosa đã phục hồi
thị giác cho Dharmavivardhana bằng cách rửa mắt với nước mắt của những
người đã từng cảm động vì tài hùng biện của Ngài—Ghosa, according
to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, an arhat,
famous for exegesis, who restored the eyesight of Dharmavivardhana
by washing his eyes with the tears of people who were moved by his
eloquence.
Diệu Âm Đại Sĩ:
See Diệu Âm Bồ Tát.
Diệu Âm Điểu:
Ca Lăng Tần Già, chim Diệu Âm, là loại chim quý ở Ấn Độ, có tiếng
kêu êm ái thanh nhã (người ta ví giọng nói của Đức Phật như tiếng
chim nầy)—The wonderful-voice bird, the Kalavinka.
Diệu Âm Nhạc Thiên
Nữ: Sarasvati (skt)—Diệu Âm Nhạc Thiên Nữ hay Biện Tài Thiên Nữ—The
goddess of music and poetry or goddess of eloquence. The goddess of
speech and learning; also called the goddess of rhetoric. She
is represented in two forms:
1)
Vị có hai tay và một ống sáo: One with two arms and a lute.
2)
Vị có tám tay: One with eight arms.
Diệu Âm Phật Mẫu:
See Diệu Âm Nhạc Thiên.
Diệu Âm Thiên:
Sarasvati (skt)—See Diệu Âm Nhạc Thiên.
Diệu Cao Sơn:
The wonderful high mountain.
Diệu Cao Sơn Vương:
Núi Tu Di, dãy núi cao và thù diệu nhất—King of the Wonderful
High Mountain—Mount Sumeru.
Diệu Cát Tường:
1)
Kỳ diệu và cát tường: Wonderful and auspicious.
2)
Ngài Văn Thù Sư Lợi: Manjusri (skt).
·
Diệu: Manju (skt).
·
Cát Tường: Sri (skt).
Diệu Chân Như : Fundamental
nature of all things—Totality.
Diệu Chân Như Tính:
Chân như là thực tướng của muôn pháp—The profound nature of the Bhutatathata—The
totality or fundamental nature of all things.
Diệu Dụng: Wonderful
application.
Diệu Đế: Tên
của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Sau khi lên ngôi, vua Thiệu
Trị cho xây dựng chùa Diệu Đế vào năm 1844 ngay trên nền nhà cũ của
mình. Qui mô của chùa ban đầu rất đồ sộ, nhưng đến năm 1953, chùa
được trùng tu lại với qui mô thu gọn như hiện nay—Name of an ancient
temple in Huế, Central Vietnam. After he assumed the throne, in 1844
king Thiệu Trị had Diệu Đế temple built on the ground of his old living
place. The temple in the early time had an immense structure, but
in 1953, the temple was rebuilt in the shape as it has nowadays.
Diệu Điển: Kinh
điển nói về pháp huyền vi mầu nhiệm (Đại Thừa)—The classics of the
wonderful dharma (Mahayana).
Diệu Độ: Quốc
độ vi diệu, báo độ của Đức Phật hay là Tây Phương Cực Lạc của Phật
A Di Đà—The wonderful land—A Buddha’s reward land, especialy the Western
Paradise of Amitabha.
Diệu Đức:
1)
Diệu Đức là nghĩa của thành Ca Tỳ La Vệ: The meaning of Kapilavastu.
2)
Diệu Đức còn có nghĩa là tên của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi—Wonderful
virtue (title of Manjusri).
3)
Tên của một ngôi chùa ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây vào
năm 1932 với một qui mô khiêm tốn, gồm hai ngôi ni xá bằng tranh và
một nhà giảng tạm. Năm 1936, chùa mới xây chánh điện, đúc chuông,
tượng. Năm 1948 xây hậu liêu. Năm 1971 dựng cổng tam quan—Name of
a temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in 1932 in
a small structure with two thatched staff houses and a temporary auditorium.
It was not until 1936 that the main hall was built and bells and statues
founded. In 1948, the back house was added. In 1971, the three-entrance
gate was erected.
Diệu Giả: Thâm
nghĩa của vạn vật trong tam đế viên dung của Thiên Thai Viên Giáo,
như nước và sóng, để đối lại với quan điểm “tam đế cách biệt” của
Biệt Giáo—The profound meaning of phenomenal of T’ien-T’ai, that they
are the bhutatathata, i.e. water and wave, as distinguished from the
view of the Differentiated Teaching.
Diệu Giác:
1)
Diệu giác trong Phật giáo Đại thừa gồm tự giác, giác tha, giác
hạnh viên mãn (tự mình giác ngộ, giúp người giác ngộ, giác ngộ tròn
đầy)—Đây là quả vị thứ 52, cũng là quả vị cuối cùng của một vị Bồ
Tát trước khi thành Phật—The fine state of truth—The wonderful enlightenment
of Mahayana Buddhism, consisting of self-enlightenment to enlighten
others and Enlightenment of Buddhahood—The fifty-second and the last
stage of a bodhisattva before becoming Buddha.
2)
Hòa Thượng Diệu Giác Hải Thuận, một trong những đại đệ tử của
Hòa Thượng Nhất Định, tăng cang chùa Diệu Đế—Most Venerable Diệu Giác
Hải Thuận, one of the most outstanding disciples of Most Venerable
Nhất Định. He was also a royal-recognized monk at Diệu Đế Temple (see
Tăng Cang).
Diệu Giác Địa:
Quả vị Diệu Giác hay quả vị Phật—The stage of wonderful enlightenment—Buddhahood.
** For more information,
please see Diệu Giác
Diệu Giác Tính:
Tính chất hay bản chất thậm thâm của quả vị Phật—The profound enlightened
nature of the Buddha.
Diệu Giác Vị:
The Buddha-stage—The fruition of holiness—See Lục Tức Phật (6).
Diệu Giáo: Giáo
lý thậm thâm kỳ diệu của Pháp Hoa—Admirable, profound teaching (Lotus
sutra).
Diệu Hành: Hành
động thâm diệu mà một thiện nghiệp được tạo ra—The profound act by
which a good karma is produced.
Diệu Hiền: Subhadra
(skt)—Vị Tăng nổi tiếng được nói đến trong Tây Phương Du Ký—A famous
monk mentioned in the Records of Western Lands.
Diệu Hiển Sơn:
Núi Tu Di, có dáng vẻ thù diệu—The mountain of marvellous appearance
(Sumeru).
Diệu Huệ: Sukshmamati
(skt)—Trí huệ tinh diệu—Exquisite knowledge.
Diệu Huyền: Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa—Kỳ diệu thậm thâm—Wonderful and profound—See
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú.
Diệu Hữu: Cái
“hữu” tuyệt đối (cái hữu phi hữu, cái có mà không phải là có), đối
lại với cái hiện hữu giả hợp của vạn pháp—The absolute reality—Supernatural
existence—Incomprehensible entity, as contrasted with the superficial
reality of phenomena.
** For more information,
please see Chân
Không.
Diệu Hữu Tức Chân
Không: Existence is Emptiness—Diệu hữu tức chân không còn có nghĩa
là Sự tức Lý, hay trong Sự đã có sẵn Lý rồi—Existence is Emptiness
means Practice is Theory or in Practice there already exists Theory—See
Lý Sự Viên Dung, and Tứ Pháp Giới (3).
Diệu Hỷ Quốc:
The Happy Land.
Diệu Hỷ Thế Giới:
The realm of profound joy.
Diệu Hỷ Túc Thiên:
The heaven full of wonderful joy.
Diệu Kiến:
1)
Cảnh kỳ diệu: The beautiful sight.
2)
Tên của bảy ngôi sao thuộc chòm sao Bắc Đẩu, được cai trị bởi—Ursa
Major ruled by:
·
Chư Bồ Tát: Bodhisattvas.
·
Chư Phật: Buddhas.
·
Có người nói Đức Thích Ca ngự trị ở đó: Some say Sakyamuni
who rules there.
·
Người khác lại cho rằng Bồ Tát Quán Âm: Others say Kuan-Yin.
·
Người khác lại cho là Phật Dược Sư: Others say
Bhaisajya Buddha.
·
Người khác nữa lại cho là Bảy vị Phật: Others say the
seven Buddhas.
Diệu Lạc:
1)
Âm nhạc kỳ diệu nơi cõi Tịnh Độ: Wonderful music in the Pure
Land.
2)
Niềm vui sướng kỳ diệu nơi cõi Tịnh Độ hay Niết Bàn: Wonderful
joy in the Pure Land or Nirvana.
3)
Lục Tổ Thiên Thai: The sixth T’ien-T’ai patriarch.
Diệu Liên Hoa:
Liên Hoa Kỳ Diệu biểu hiện cho trí tuệ sáng suốt thấu triệt chân lý
của Phật, dù gần nơi thế giới nhiễm tạp cũng không bị hoen ố—The wonderful
lotus, symbol of the pure wisdom of Buddha, unsullied in the midst
of the impurity of the world—See Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu Minh: Cái
tâm chân thực trong sáng tuyệt diệu hay trí tuệ chân chính vô lậu
đưa chúng sanh đến chỗ chấm dứt luân hồi sanh tử—Profoundly enlightened
mind or heart (the knowledge of the finality of the stream of reincarnation).
Diệu Môn: Pháp
môn thù diệu hay cửa vào Niết Bàn—The wonderful of the dharma—The
door to the Nirvana.
** For more information,
please see Lục Diệu
Môn.
Diệu Ngữ Tạng:
Chân ngôn Đà La Ni—The storehouse of miraculous words, mantras, dharanis,
or magic spells of Shingon.
Diệu Nhạc: Wonderful
music in the Pure Land.
Diệu Nhân: Nhân
kỳ diệu—Giới luật của Bồ Tát (lục Ba La Mật) như là những nhân đưa
đến quả vị Phật—The profound cause—The discipline of the bodhisattva
(charity and the six paramitas, etc) as producing the Buddha-fruit.
Diệu Nhân Ni Sư:
Nun Diệu Nhân (1041-1113)—Một Ni sư nổi tiếng đất Thăng Long, Bắc
Việt. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh, Ni sư tên là Ngọc Kiều, là trưởng
nữ của Phùng Loát Vương, được vua Lý Thánh Tông nuôi nấng trong
cung từ lúc còn nhỏ, sau gả cho cho người họ Lê, một viên quan Châu
Mục ở Chân Đằng. Khi chồng chết, bà xuất gia làm đệ tử của Thiền Sư
Chân Không ở Phù Đổng, pháp tử đời thứ 17 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi. Bà trụ tại Ni viện Hương Hải ở Tiên Du để hoằng hóa cho đến khi
thị tịch vào năm 1113, thọ 72 tuổi. Ni viện Hương Hải là Ni viện Phật
Giáo đầu tiên ở Việt Nam vào thời nhà Lý, Ni sư Diệu Nhân đã từng
trụ trì và hoằng hóa tại đây—A Vietnamese famous nun from Thăng Long,
North Vietnam. According to “Thiền Uyển Tập Anh,” her worldly name
was Ngọc Kiều. She was the eldest daughter of Phùng Loát Vương. King
Lý Thánh Tông adopted and raised her in the royal court since she
was young. When growing up she got married to a man whose last name
was Le, an official of Châu Mục rank in Chân Đằng. After her husband’s
death, she left home and became a disciple of Zen Master Chân Không
in Phù Đổng. She became the Dharma heir of the seventeenth generation
of the Vinitaruci Zen Sect. She stayed at nunnery Hương Hải in Tiên
Du to expand Buddhism until she passed away in 1113, at the age of
72. It should be noted that Hương Hải nunnery was considered
the first Buddhist Institute for nuns in the Lý Dynasty. Bhikkhuni
Diệu Nhân was once Head of the nunnery.
Diệu Pháp: Saddharma
(skt)—Pháp thù thắng đệ nhất không thể nghĩ bàn—The wonderful law
or truth (Lotus sutra)—The Wonderful Dharma—Wonderful Law which is
beyond thought or discussion.
Diệu Pháp Cung:
Cung Diệu Pháp, nơi Đức Phật thường trụ—The palace of the wonderful
law in which the Buddha ever dwells.
Diệu Pháp Đăng:
Ánh sáng Diệu Pháp soi rọi bóng tối vô minh—The lamp of the wonderful
law shinning into the darkness of ignorance.
Diệu Pháp Đường:
Diệu Thiện Pháp Đường, tọa lạc tại góc tây nam trên cung Trới Đao
Lợi (ba mươi ba tầng Trời), nơi ba mươi ba vị Trời họp bàn xem việc
nào là chánh pháp, việc nào không phải là chánh pháp—The hall of wonderful
dharma, situated in the south-west corner of Trayastrimsas heaven,
where the thirty-three devas discuss whether affairs are according
to law or truth or the contrary.
Diệu Pháp Hoa:
See Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu Pháp Liên Hoa:
Diệu Pháp được Phật thuyết giảng trong kinh Pháp Hoa, được xem như
là một đại luân, được giải thích như là nhân của “Nhất Thừa,” bao
gồm toàn bộ chân lý Phật pháp, so với phần giáo hay phương tiện thuyết
mà Đức Phật đã nói trước; tuy nhiên cả hai đều bao gồm trong trong
“Toàn Chân Giáo” của Đức Phật—Wonderful Law Lotus Flower Sutra—The
Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law—The Lotus of the True
Law, or the Budha’s doctrine regarded as a great cakra or wheel—The
wonderful truth as found in the Lotus Sutra, the One Vehicle Sutra,
which is said to contain Buddha’s complete truth as compared with
his previous partial, or expedient teaching, but both are included
in this perfect truth.
** For more information,
please see Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên
Hoa Phẩm Phổ Môn in Appendix A (3).
Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh: Saddharmapundarika (skt)—Bồ Vân Phân Đà Lợi Kinh—See Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh Huyền Nghĩa: See Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú.
Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh Văn Cú: Ngài Trí Giả đời Tùy giải thích chính văn của Kinh
Liên Hoa—The commentaries and treatises on the Suddharmapundarika
Sutra, which composed and explained by master T’ien-T’ai Chih-I.
Diệu Pháp Luân:
Bánh xe Diệu Pháp, hay giáo pháp do Phật khởi chuyển được xem như
là một đại luân kỳ diệu không thể nghĩ bàn—The wheel of the wonderful
law, Buddha’s doctrine regarded as a great cakra or wheel, which is
beyond thought and discussion.
Diệu Pháp Nhứt Thừa:
Một thừa duy nhứt của Diệu Pháp hay Toàn Giáo Đại Thừa—The one vehicle
of the Wonderful dharma, or perfect Mahayana.
Diệu Pháp Tạng:
The treasury of the wonderful law.
Diệu Pháp Thuyền:
Thuyền Diệu pháp, có khả năng chuyển người vượt qua biển đời sanh
tử để đi đến Niết bàn—The bark or boat of wonderful dharma, capable
of transporting men over the sea of life into nirvana.
Diệu Quả: Kết
quả kỳ diệu, như Bồ Đề và Niết Bàn—Wonderful fruit, i.e bodhi, or
enlightenment, or nirvana.
Diệu Quán: Sự
quán chiếu kỳ diệu (tam quán viên dung của Viên Giáo)—The wonderful
contemplation, the wonderful system of the three T’ien-T’ai meditations—See
Tam Quán.
Diệu Quang: Varaprabha
(skt).
1)
Ánh sáng kỳ diệu: Wonderful Light.
2)
Một kiếp tái sanh hồi xa xưa của Ngài Văn Thù: An ancient incarnation
of Manjusri.
Diệu Quang Phật:
Vị Phật thứ 930 trong một ngàn vị Phật hiện kiếp—Suryarasmi, the 930th
Buddha of the present kalpa.
Diệu Sắc: Surupa—Tô
Lâu Ba—Sắc tướng báo thân báo độ của Phật là tuyệt diệu không thể
nghĩ bàn—The wonderful form or body (Buddha’s sambhogakaya and his
Buddha-land).
Diệu Sắc Thân Như
Lai: Surupakaya Tathagata (skt)—Đức Phật A Súc ở phương Đông đuợc
kể đến khi làm phép bố thí cho ngạ quỷ—Aksobhya, the Buddha of the
East, who is thus addressed when offerings are made to the hungry
ghosts.
Diệu Tàng: Bodhisattva
Ruciraketu (skt)—Tên của một vị Bồ Tát—Name of a Bodhisattva.
Diệu Tàng Tướng Tam
Muội: Dhvajagrakeyura (skt)—The ring on the top of a standard—A
degree of ecstatic meditation (mentioned in Lotus sutra).
Diệu Tâm: Diệu
tâm là tâm thể tuyệt diệu không thể nghĩ bàn, nó vượt ra ngoài sự
suy tưởng của nhân thiên, không còn vướng mắc bởi có không,
trong đó tất cả những ảo tưởng tà vạy đều bị loại bỏ. Theo Thiên Thai
Biệt Giáo, thì đây chỉ giới hạn vào tâm Phật, trong khi Thiên Thai
Viên Giáo lại cho rằng đây là tâm của ngay cả những người chưa giác
ngộ—The wonderful and profound mind or heart which is beyond human
thought. The mind which clings to neither to nothingness nor to actuality—The
mind in which all erronuous imaginings have been removed. According
to to the Differentiated Teaching of the T’ien-T’ai school, limited
this to the mind of the Buddha, while the Perfect teaching universalized
it to include the unenlightened heart of all men.
Diệu Thiện Công Chúa:
Công Chúa Diệu Thiện, con gái thứ ba của vua Trang Nghiêm, là hiện
thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát—The princess of wonderful goodness,
name of Kuan-Yin as third daughter of King Chuang-Yen.
Diệu Thiện Pháp Đường:
See Diệu Pháp Đường.
Diệu Thiện Thế Giới:
1)
Thế giới thâm hỷ: The realm of profound joy.
2)
Xứ sở của Ngài Duy Ma Cật, người mà người ta tin là đồng thời
với Đức Phật: The country of Vimalakirti, who has stated to have been
a contemporary of sakyamuni.
Diệu Thiện Túc Thiên:
Cung Trời Đâu Suất, nơi có đầy niềm vui kỳ diệu—Tushita, the heaven
full of wonderful joy
Diệu Thú: Cõi
thú kỳ diệu, như được sanh ra làm người và được tu theo giáo lý Đại
Thừa—The wonderful destiny or metempsychosis, i.e. that of Mahayana.
Diệu Thừa: The
Wonderful Yana—See Đại Thừa.
Diệu Tí Bồ Tát:
Subaku-kumara (skt)—Tô Bà Hô Đồng Tử—Vị Bồ Tát có cánh tay kỳ diệu—The
Bodhisattva of the wonderful arm.
Diệu Tí Bồ Tát Kinh:
Subahku-kumara Sutra (skt)—Kinh nói về Tô Bà Hô Đồng Tử—The sutra
mentioned about Subaku Bodhisattva.
Diệu Tông: Tông
phái huyền diệu thậm thâm, ý nói Liên Hoa Tông—Profound principles
(The Lotus sect).
Diệu Trang Nghiêm
Vương: Subhavyuha (skt)—Diệu Trang Vương, người nổi tiếng vì là
cha của Quán Âm (Trung Quốc), người đã giết Quán Âm Diệu Thiện, nhưng
lưỡi kiếm của đao phủ bị gẫy nên không làm tổn hại được nàng. Hồn
nàng Diệu Thiện đi xuống địa phủ, nhưng địa phủ lập tức biến thành
thiên đường. Để cứu vãn địa ngục của ông ta, Diêm Vương đưa nàng trở
lại trần thế trên một hoa sen—Who is reputed to be the father of Kuan-yin
(China), who had killed her by “stifling” because the sword of the
executioner broke without hurting her. Her spirit went to hell, but
hell changed to paradise. Yama sent her back to life to save his hell,
when she was miraculously transported on a Lotus flower to the island
of P’u-T’o.
Diệu Trang Nghiêm
Vương Bản Sự Phẩm: Subhavyuha Sutra (skt)—Tên phẩm thứ 27 trong
28 phẩm kinh Pháp Hoa, nói về Vua Diệu Trang Nghiêm—The king who is
the subject and title of the twenty-seventh chapter in the 29 chapters
of the Lotus Sutra.
** For more information,
please see Diệu
Trang Nghiêm Vương.
Diệu Trí: Diệu
trí của chư Phật—The wonderful Buddha-wisdom.
Diệu Trung: Viên
Giáo Diệu Trung hay chân như diễn tả sự hợp nhất của vạn vật, để phân
biệt với “Diệu Trung” của Thiên Thai Biệt Giáo, nhấn mạnh đến tánh
“không” và “giả hợp” của vạn vật—The profound medium (madhya); the
universal life essence, the absolute, the bhutatathata which expresses
the unity of all things, i.e. the doctrine held by T’ien-T’ai as distinguished
from the Differentiated Teaching which holds the madhya dotrine but
emphasizes the dichotomy of the transcendental (không) and phenomenal
(giả).
Diệu Tú: Chòm
sao thất hùng—These seven and the constellations, the celestial orbs.
Diệu Tuyệt: Excellent—Admirable.
Diệu Tướng: Excellent
appearance.
Diệu Ứng: Sự
đáp ứng kỳ diệu hay sự thị hiện của chư Phật và chư Bồ Tát—The miraculous
response—Self-manifestation of Buddhas or bodhisattvas.
Diệu Viên: Tên
của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây vào thế kỷ thứ
18, tọa lạc ở phía đông kinh thành Huế, dựa lưng vào dãy núi Ngũ Phong.
Năm 1926, phòng họp được xây thêm. Năm 1963, chùa lại được trùng tu
và xây thêm tiền đường, thiền đường và hậu liêu—Name of an ancient
temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in the eighteenth
century, located on Mount Ngũ Phong, east of Huế Citadel. In 1926,
a tiled roof was built instead of a thatched one. In 1953, the temple
was rebuilt, ameeting house was added. In 1963, the temple was rebuilt
again and added with an antechambre, a meditation hall and a back
house.
Diệu Vợi:
1)
Far away.
2)
Difficult—Complicated.
Diệu Vô: Asat
(skt)—Sự kỳ diệu của sự “không hiện hữu.”—The mystery of non-existence.
Diệu Xa: Cỗ xe
kỳ diệu, được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The wonderful vehicles
(in Lotus Sutra).
Diệu Ý Bồ Tát:
Manavaka—Tiền kiếp Phật Thích Ca, đệ tử của Ngài Nhiên Đăng Cổ Phật—Sakyamuni
in a previous incarnation as disciple of Dipankara –Nhiên Đăng Phật.
Dịu Giọng: To
lower one’s voice—To lower one’s tone.
Dinh Thự: Palace.
Dính Chặt: Alagati
(skt)—Bám chặt vào—To adhere to—To cling to.
Dính Dáng: Concerned
in—Connected.
Dính Khắn: To
adhere to.
Dính Líu: To
involve—To concern.
Dĩnh Ngộ: Intelligent.
Dịp: Occasion—Chance—Opportunity.
Dịp May: Chance—Opportunity.
Dìu Dắt: To guide—To
lead—To conduct.
Dìu Dịu: To calm
down.
Dịu: Soft—Sweet.
Dịu Dàng: Graceful—Sweet.
Dịu Giọng: To
lower one’s voice.
Do:
1)
Con cù lần: A kind of monkey.
2)
Do bởi: From—By.
3)
Do dự: Doubtful.
4)
Nguyên Do: A cause—A motive.
Do Bởi: Affected
by.
Do Dự: To hesitate—To
be reclutant.
Do Người Khác Trình
Bày: Shown by others.
Do Nơi: To be
due to.
Do Thái: Israel.
Do Thái Giáo:
Judaism.
Do Tuần: Yojana
(skt).
1)
Ngày tuần hành của binh lính vương triều thời xưa: Described
as anciently a royal day’s march for the army.
2)
Du Thiện Na: Du Xả Na—Du Diên Na—Du Kiện Đà La—Đơn vị đo lường
thời cổ tương đương với 8 câu xá lư (tương đương với 18 dậm Anh hay
60 dậm Tàu)—An ancient measurement unit which equal to 8 krosas (which
is equivalent to 18 English miles, or 60 Chinese miles).
·
Một do tuần thời cổ tương đương với 40 dậm: Ancient
Yojana is equal to 40 miles.
·
Do tuần của Ấn Độ tương đương với 30 dậm: An Indian
Yojana is equivalent with 30 miles.
·
Theo Thánh Điển thì một do tuần tương đương với 16 dậm:
According to the scriptures, a yojana is equivalen to 16 miles.
Do Vị Định: Vẫn
chưa định tĩnh—Still unsettled—Uncertain.
Dò hỏi: To seek
information.
Dò la: To get
(obtain) information.
Dò thăm: To make
an inquiry about.
Dọa: To threaten—To
menace.
Doãn Kham: Một
Danh Tăng đời Tống—A famous monk of the Sung dynasty.
Doãn Nhược: Một
Danh Tăng đời nhà Nguyên—A famous monk of the Yuan dynasty.
Dóc: To lie.
Dọc Đường: On
the way.
Dòm Chừng: To
watch.
Dòm Lén: To look
furtively.
Dòm Ngó: To look
at.
Dọn Đường: To
open up (clear) a path.
Dọn Ra: To move
out.
Dọn Sạch: To
clean up.
Dọn Vào: To move
in.
Dòng Dõi: Lineage.
Dòng Dõi Hoàng Tộc:
Royal lineage.
Dòng Họ: Family.
Dòng Tâm: Citta-dhara
(skt)—Flow of mind or thoughts.
Dõng Dạc: Sedately.
Dỗ Ngọt: To begule
by sweet promises.
Dốc Chí: To do
one’s utmost—To do with all one’s heart.
Dốc Đứng: Steep
slope.
Dốc Lên: Upward
slope.
Dốc Xuống: Downward
slope.
Dối Trá: Deceitful—False.
Dồi Dào: Abundant—Plentiful—Exuberant.
Dội Ngược: To
bounce back.
Dồn: To accummulate—To
cummulate—To gather.
Dông Dài: Lengthy—Wordy.
Dông Tố: Stormy.
Dốt: Ignorant—unlettered—Illiterate—Uninstructed.
Dốt Đặc: Completely
ignorant.
Dột: To leak.
Dơ: Dirty—Unclean—Filthy—Foul.
Dơ Bẩn: Unclean—Dirty.
Dơ Mắt: Unpleasant
to the eyes.
Dơû: Bad.
Dở Chừng: See
Dở dang.
Dở Dang: Unfinished—Uncompleted—Half-done.
Dời Đổi: To move—To
change.
Dời Lại: To postpone—To
put off.
Du:
1)
Bơi lội: To swim.
2)
Dẫn tới—To draw out.
3)
Du lịch: Bhramyati (skt)—To travel.
4)
Leo vuợt qua: To pass over—To go beyond—To exceed.
5)
Ngọc lóng lánh: Lustre of gems—A beautiful stone.
Du Đa La Tăng Già:
Uttarasanga (skt)—See U Đa La Tăng Già.
Du Già: See Yoga
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Du Già A Xà Lê:
Yogacara (skt)—Vị thầy dạy giáo thuyết của trường phái Du Già (của
cải của một vị sư Du Già gồm một cây gậy linh, một bầu nước, một mảnh
da để trải ngồi và nằm. Luôn giữ tịnh giới, tuyệt không dâm dục, chỉ
ăn lúc mặt trời lặn, và chỉ ăn phần ăn vừa để trọn trong lòng bàn
tay, mỗi tháng cạo râu tóc một lần, sống bằng cách khất thực. Sư Du
Già coi mọi chúng sanh như nhau, xa lánh thế sự, gìn giữ giác quan,
diệt tận sân hận, tham lam và dâm dục, dứt bỏ mọi phiền não)—A
teacher, or master of, or of Vijnanavada Sect.
Du Già Chi La:
Ukkacela (skt)—Một nơi không ai biết—A place unknown.
Du Già Chỉ: Yogin
(skt)—See Du Già Kỳ.
Du Già Kỳ: Yogin
(skt)—Hành giả tu theo pháp Du Già—One who practises yoga.
Du Già Sư: See
Du Già A Xà Lê.
Du Già Sư Địa Luận:
Yogacaryabhumi-sastra (skt)—Người ta nói Bồ Tát Di Lặc đã đọc cho
ngài Vô Trước chép lại trên cõi trời Đâu Suất, ngài Huyền Trang đã
dịch sang Hoa Ngữ. Đây là giáo thuyết của trường phái Du Già (giáo
thuyết chính của Du Già cho rằng đối tượng khách quan chỉ là hiện
tượng giả hiện của thức A Lại Da là tâm thức căn bản của con người.
Cần phải xa lìa quan niệm đối lập hữu vô, tồn tại và phi tồn tại,
thì mới có thể ngộ nhập được trung đạo)—The work of Asanga, said to
have been dictated to him in or from the Tusita heaven by Maitreya,
translated by Hsuan-Tsang, is the foundation text of this school.
Du Già Sư Địa Luận
Thích: Bộ sách giải thích và phê bình bộ Du Già Sư Địa Luận, do
ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—A
commentary on the Yogacaryabhmi-sastra, composed by Jinaputra, translated
into Chinese by Hsuan-Tsang.
Du Già Tam Mật:
Ba phương cách tu trì của phái Du Già. Du Già nghĩa là tương ứng,
tam mật là ba nghiệp thân, khẩu, ý. Tay kết ấn, miệng đọc thần chú
chân ngôn, ý tưởng niệm bổn tôn Đức Đại Nhật Như Lai—The three esoteric
means of Yoga. The older practice of meditation as a means obtaining
spiritual or magical power as distorted in Tantrism to exorcism, sorcery,
and juggling in general. These are mutual relations of hand, mouth,
and mind referring to manifestation, incantation, and mental operation
thinking of the original Vairocana Buddha.
Du Già Tông:
Yogacara or Vijnanavada (skt).
(A)
Lịch sử thành lập Du Già tông—The history of formation of the
Yogacara school: Trường phái Duy Thứ Du Già là một nhánh quan trọng
khác của phái Đại Thừa. Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển,
còn gọi là Du Già phái, tên gọi chung của Mật giáo. Giáo thuyết Du
Già do ngài Pantajali sáng lập vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch,
sau đó được ngài Vô trước thành lập tông phái Du Già vào thế kỷ thứ
tư sau Tây Lịch. Ngài Huyền Trang là một đệ tử và một người bênh vực
triệt để cho tông phái nầy (ông đã dịch bộ Du Già Sư Địa Luận của
ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát). Nhưng theo Giáo sư Bapat trong Hai Ngàn
Năm Trăm Năm Phật Giáo, Du Già tông được ngài Maitreya hay Maitreyanatha
sáng lập vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch—The Yogacara school is another
important branch of the Mahayana. According to Keith in the Chinese-English
Buddhist Terms, tantric or esoteric sect, the principles of Yoga are
accredited to Pantajali in second century B.C., later founded as a
school in Buddhism by Asanga in the fourth century A.D. Hsuan-Tsang
became a disciple and advocate of this school. However, according
to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the Yogacara
school was founded by Maitreya or Maitreyanatha in the third century
A.D.
(B)
Giáo thuyết và thực hành của Du Già tông—Theory and practice
of the Yogacara school:
a)
Phái Duy Thức Du Già thừa nhận ba cấp độ kiến thức—The Yogacara
recognizes three degrees of knowledge—See Ba Cấp Độ Kiến Thức.
b)
Trường phái nầy có tên là Duy Thức Du Già (Yogacara) vì chú
trọng vào việc luyện tập thiền làm phương pháp hữu hiệu nhất để đạt
đến chân lý tối cao (bodhi). Phải đi qua ‘Thập Địa’ của quả vị Bồ
Tát mới đạt đến Bồ Đề: The Yogacara was so called because it emphasized
the practice of meditation (yoga) as the most effective method for
the attainment of the highest truth or bodhi. All the ten stages of
spiritual progress (dasa bhumi) of Bodhisatvahod had to be passed
through before bodhi could be attained.
c)
Trường phái nầy còn có tên là Duy Thức vì chủ trương rằng không
có gì ngoài ý thức và ý thức là thực tại cuối cùng. Tóm lại, trường
phái nầy dạy cho người ta chủ nghĩa duy tâm chủ quan, nghĩa là chỉ
có ý tưởng là có thật: The school is also known as the Vijnanavada
on account of the fact that it holds nothing but consciousness (vijnaptimatra)
to be the ultimate reality. In short, it teaches subjective idealism,
or that thought alone is real.
d)
Tên Du Già (Yogacara) cho thấy rõ khía cạnh thực hành của triết
lý nầy, còn tên Duy Thức (Vijnanavada) làm nổi bậc các đặc điểm lý
thuyết kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra), một cuốn sách quan trọng
của trường phái nầy, cho rằng chỉ có tâm ý (cittamatra) là có
thực, còn những vật thể bên ngoài thì không. Những vật thể nầy không
có thực, chúng như là mộng mơ ảo ảnh. Tâm ý ở đây khác với A Lại Da
thức, vốn chỉ là kho chứa đựng ý thức, tạo đối tượng cho sự đối ngẫu
chủ thể và đối tượng: The Yogacara brings out the practical side of
philosophy, while the Vijnanavada brings out its speculative features.
The Lankavatara Sutra, an important work of this school, maintains
that only the mind (cittamatra) is real, while external objects are
not. They are unreal like dreams, mirages and ‘sky-flowers.’ Cittamatra,
in this case, is different from alayavijnana which is the repository
of consciousness underlying the subject-object duality.
e)
Cuốn Duy Thức Học của ngài Thế Thân là cuốn sách cơ bản của
hệ tư tưởng nầy. Sách bác bỏ mọi sự tin tưởng vào thực tại của
thế giới khách quan, cho rằng chỉ có tâm (citta) hay thức (vijnana)
mới là thực tại duy nhất, còn trong thức a-lại-da thì có chứa mầm
mống các hiện tượng, cả chủ quan và khách quan. Giống như một dòng
nước chảy, thức a-lại-da là một dòng ý thức luôn biến động. Khi đã
chứng đắc Phật quả thì dòng chảy kia sẽ ngưng lại. Theo Sthiramati,
nhà bình giải các tác phẩm của Thế Thân, thì a-lại-da chứa đựng chủng
tử của vạn pháp, bao gồm cả các pháp tạo ra bất tịnh. Nói cách khác,
vạn pháp hiện hữu trong a-lại-da thức dưới trạng thái tiềm tàng. Các
nhà Duy Thức Du Già còn nói rằng người tinh thông tất sẽ hiểu được
sự ‘không hiện hữu của ngã thể’ (pudgala-nairatmya) và sự ‘không hiện
hữu của vạn vật thế gian’ (dharma-nairatmya). Sự không hiện hữu của
ngã thể sẽ được thực hiện qua sự xóa bỏ ham muốn (klesavarana), và
sự không hiện hữu của vạn vật thế gian sẽ được thực hiện qua sự cắt
bỏ bức màn che phủ chân kiến thức (jneyavarana). Cả hai kiểu không
thực tại nầy (Nairatmya) đều rất cần thiết để đi đến giải thoát:
Vasubandhu’s Vijnaptimatrata-siddhi is the basic work of this system.
It repudiates all belief in the reality of the objective world, maintaining
that citta or vijnana is the only reality, while the alyavijnana contains
the seeds of phenomena, both subjective and objective. Like flowing
water, alayavijnana is a constantly changing stream of consciousness.
With the realization of Buddhahood, its course stops at once. According
to Sthiramati, the commentator on Vasubandhu’s works, alya contains
the seeds of all dharmas including those which produce impurities.
In other words, all dharma exist in alayavijnana in a potential state.
The Yogacarins further state that an adept should comprehend the non-existence
of self (pudgala-nairatmya), and the non-existence of things of the
world (dharma-nairatmya). The former is realized through the removal
of passions (klesavarana), and the latter by the removal of the veil
that covers the true knowledge (jneyavarana). Both these nairatmyas
are necessary for the attainment of emancipation.
(C)
Sự phát triển của Du Già tông—The development of the Yogacara
school: Các luận sư nổi tiếng của trường phái nầy là Vô Trước là Vô
Trước và Thế Thân vào thế kỷ thứ tư, An Huệ và Trần Na vào thế kỷ
thứ năm, Pháp trì và Pháp Xứng vào thế kỷ thứ bảy, Tịch Hộ và Liên
Hoa Giới vào thế kỷ thứ tám, vân vân tiếp tục sự nghiệp của người
sáng lập bằng những tách phẩm của họ và đã đưa trường phái nầy đến
một trình độ caoTrường phái nầy đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng trong thời
kỳ của Vô Trước và Thế Thân. Tên gọi Du Già Hành Tông là do Vô Trước
đặt, còn tên Duy Thức thì được Thế Thân xử dụng—Noted teachers in
the school such as Asanga and Vasubandhu in the fourth century, Sthiramti
and Dinnaga in the fifth century, Dharmapala and Dharmakirti in the
seventh century, Santaraksita and Kamalasila in the eighth century,
etc. These famous monks continued the work of the founder by their
writings and raised the school to a high level. The school reached
its summit of its power and influence in the days of Asanga and Vasubandhu.
The appellation Yogacara was given by Asanga, while the term Vijnanavada
was used by Vasubandhu.
Du Hành: To travel—To
roam—To wander.
Du Hóa: Du hành
khắp chốn để giáo hóa chúng sanh—To go about teaching and converting
sentient beings.
Du Hư Không Thiên:
1)
Du hành trong hư không, như các Nhật Thần, Nguyệt Thần, hay
Tinh Tú Thần: To roam in space, as do the devas of the sun, moon,
stars, etc.
2)
Tứ Thiền Thiên: The four upper devalokas.
Du Hý: Vikridita
(skt)—Nguyên nghĩa là đi tìm niềm vui. Đây là một khái niệm quan trọng
miêu tả cuộc sống của một vị Bồ Tát thoát khỏi mọi hình thức
câu thúc và cưỡng ép. Nó giống như đời sống của loài thiên nga trên
không trung và của loài hoa huệ ngoài đồng. Tuy vật, ngài lại có một
tấm lòng từ bi rộng lớn luôn vận hành một cách tự tại và viên mãn—Literally
means sportive (to entertain play, or sport, to amuse, or to roam
for pleasure). This is an important conception describing the life
of a Bodhisattva, which is free from every form of constraint
and restraint. It is like that of the swans in the air and the lilies
of the field. And yet there is in him a great compassionate heart
functioning all the time freely and self-sufficiently.
Du Hý Tam Muội:
Chuyên tâm của chư Phật và chư Bồ Tát là cứu độ chúng anh thoát khổ—The
resolve of Buddhas and Bodhisattvas is to save sentient beings.
Du Hý Thần Thông:
Chư Phật và chư Bồ Tát dùng thần thông giáo hóa chúng sanh thoát khổ—The
supernatural powers in which Buddhas and Bodhisattvas indulge, or
take their pleasure.
Du Khách: Tourist.
Du Kiện Đà La:
Yugandhara (skt)—See Du Kiện Đạt La.
Du Kiện Đạt La:
Yugandhara (skt)—Du Xà Na.
1)
See Do Tuần in Vietnamese-English Section, and Yojana in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
2)
Tên một ngọn núi ở bắc Thiên Trúc (trên đỉnh có hai mô tròn
giống như hai vết bánh xe nên có tên như vậy): Name of a mountain
in north India.
3)
Vòng núi đầu tiên trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu Di: The
first of the seven concentric circles around Meru.
Du Mục: Normadic
life.
Du Ngoạn: To
make an excursion.
Du Nhập: To import.
Du Phương: Đi
từ nơi nầy đến nơi khác (để hoằng hóa), chứ không dừng trụ lại nơi
nào—To wander from place to place.
Du Sơn: Du hành
từ tự viện nầy sang tự viện khác, chứ không trụ trì một chỗ cố định—To
go from monastery to monastery; ramble about the hills.
Du Tăng Địa Ngục:
Mười sáu địa ngục phụ của mỗi Bát Nhiệt Địa Ngục (trong Bát Nhiệt
Địa Ngục, thì từng địa ngục lớn lại có 16 địa ngục nhỏ. Ngoài mỗi
bên thành địa ngục nóng lớn có bốn nơi gọi là lô ổi tăng, thi phẩn
tăng, phong nhận tăng, và liệt hà tăng, như vậy bốn bên có 16, và
tổng cộng tám địa ngục lớn có 128 “du tăng địa ngục.” Sở dĩ gọi là
“du tăng” vì đi từ nơi nầy qua nơi kế tiếp thì hình phạt ngày càng
tăng)—The sixteen subsidiary hells of each of the eight hot hells.
Du Tâm Pháp Giới:
Để cho tâm tự tại chu du trong pháp giới như trong hư không mà không
bị vướng mắc, để thấy rõ thiên sai vạn biệt, ấy là tâm giải thoát—A
mind free to wander in the realm of all things; that realm as the
realm of liberated mind.
Du Thời: Vượt
quá mức thời gian ấn định—To exceed the time.
Du Thuyết: To
go about to talk or to preach a doctrine.
Du Tuần: Yojana
(skt)—See Do Tuần.
Du Việt: Vượt
qua—To pass over.
Dù: Anyway—Anyhow—No
matter what.
Dù Tu Thiền Hay Tịnh
Độ, Người Tu Không Nên An Hưởng Trên Phước Báo Nhơn Thiên, Mà Phải
Quyết Chí Giác Ngộ Để Thành Phật: No matter what Dharma-door you
are practicing, Zen or the Pure Land, you should not enjoy the human
or deva bless, but try hard to enter enlightenment and to become a
Buddha.
Dụ:
1)
Một trong ba điều suy luận, lấy thí dụ làm điều suy luận: One
of the three branches in stating a syllogism, the example or drstanta
in a syllogism—See Tông Nhân Dụ.
2)
Thí dụ—An example—An illustrate.
Dụ Dỗ: To entice—To
seduce.
Dụ Y: Phép dụ
của Nhân Minh Luận, chia dụ ra làm hai nghĩa, dụ y và dụ thể. Lấy
vật thể làm chỗ dựa vào của dụ thì gọi là “dụ y,” như cái bình, cái
chay; đối lại với việc lấy nghĩa lý của việc muốn dụ là “dụ thể,”
như cái bình vô thường hay không vĩnh cửu—The subject of the example,
e.g. a vase, a botle; as contrasted with the predicate, e.g. the vase
is not eternal.
Dua Nịnh: To
flatter
Dục:
(I)
Nghĩa của “dục”—The meanings of “desire”
1)
Lòng ham muốn hay sự nhiễm ái trần: Rajas (skt)—Passion—Desire—Love—Inordinate
desire—Lust. Interpreted as “tainted with the dust or dirt of love,
or lust.
2)
Nuôi dưỡng: To rear—To nurture.
3)
Tắm: To bathe—To wash.
(II)
Phân loại “dục”—Categories of “desire”
(A)
Tam Dục—The three desires:
1)
Hình mạo dục: Desire for beauty.
2)
Uy nghi tư thái dục: Desire for demeanour.
3)
Tế xúc dục: Desire for softness.
(B)
Ngũ Dục—The five desires:
1)
Sắc dục: Desire for colour.
2)
Thanh dục: Desire for sound.
3)
Hương dục: Desire for smell.
4)
Vị dục: desire for taste.
5)
Xúc dục: Desire for touch.
** For more information,
please see Ngũ Dục.
(C) Lục Dục: The six
desires—See Lục Dục.
Dục Ái: Phàm
phu tham ái với cảnh ngũ dục hay ái dục thường tình khởi phát từ dục
vọng, ngược lại với Pháp ái—To hanker after—Desire—Ordinary human
love springing from desire, in contrast with religious love (Pháp
ái)—Passion-love—Love inspired by desire through any of the five senses—Love
in the passion realm.
** For more information,
please see Pháp Ái.
Dục Ái Trụ Địa:
Một trong năm trụ địa (trong các tư hoặc, ái là quan trọng nhất)—One
of the five fundamental conditions of the passions.
** For more information,
please see Ngũ Trụ
Địa.
Dục Anh: To bring
up children.
Dục Câu: Lưỡi
câu ái dục mà chư Bồ tát dùng để hấp dẫn chúng sanh, để rồi sau đó
đưa họ vào con đường tu tập giác ngộ—The hook of desire; the bodhisattva
attracts men through desire, and then draws them to the enlightenment
of Buddha.
Dục Cổ:
1)
Trống báo nghi lễ “mộc dục” hay việc tắm Phật trong tự viện:
The bathing-drum, announcing the time for the ceremony of “washing
the Buddha image.”
2)
Trống nầy cũng dùng để báo hiệu giờ tắm trong thiền lâm: This
is also the bathing-drum for announcing the time for washing in the
Ch’an monasteries.
Dục Cúc: See
Dục Anh.
Dục Đa Bà Đề:
Yukta-bodhi (skt)—Những bước đạt đến trí huệ trong Thiền Yoga—Steps
in Yoga wisdom.
Dục Đầu: Vị sư
phụ trách nhà tắm trong tự viện—Bath-controller in a monastery.
Dục Để: Yukti
(skt).
1)
Ách: Yoking.
2)
Phối hợp: Joining—Combination—Plan.
Dục Đức: To nourish
one’s virtue
Dục Giác: Sự
tỉnh thức về lòng tham—The consciousness of desire—Passion-consciousness.
Dục Giới: Kamadhatu
(skt).
(I)
Nghĩa của Dục Giới—The meaning of “Kamadhatu”
1)
Dục giới là một trong tam giới, nơi đó có đầy dẫy những thứ
ham muốn—Realm of desire or sensual realm—Human world—Desire world—Passion
world—Passions. One of the three realms. Realm of desire is a realm
where there exists all kinds of desires:
a)
Sắc Dục: Desire for sex.
b)
Thực Dục: Desire for food.
c)
Thùy Dục: Desire for sleep.
d)
Danh Dục: Desire for fame.
e)
Tài Dục: Desire for talents.
(II)
Phân loại Dục Giới. Dục giới được chia thành 20 khu vực khác
nhau. Gọi là chúng sanh trong cõi dục giới vì chúng sanh trong cõi
nầy luôn bị dục vọng chế ngự—Categories of “Kamadhatu.” The realm
of desire is divided into 20 different regions. Beings in the realm
of desire (so called because the beings in these states are dominated
by desire):
(A)
Chư Thiên trong sáu cõi trời dục giới: Kamadeva (skt)—Devas
in the six heavens of desire.
1)
Cõi Dạ Ma Thiên: Yamah—See Dạ Ma Thiên.
2)
Cõi Tứ Thiên Vương Thiên: Caturmaharajakayika.
a)
Trì Quốc Thiên Vương: Đông Thiên Vương—Dhrtarastra, in the
east.
b)
Tăng Trưởng Thiên: Nam Thiên Vương—Virudhaka, in the south.
c)
Quảng Mục Thiên Vương: Tây Thiên Vương—Virupaksa, in the west.
d)
Đa Văn Thiên Vương: Bắc Thiên Vương—Vaisramana (Dhanada), in
the north.
** For more
information, please see Tứ
Thiên Vương.
3)
Cõi Đao Lợi Thiên: Trayastrimsah—See Đao Lợi Thiên.
4)
Cõi Đâu Suất Thiên: Tusita—See Đâu Suất.
5)
Cõi Hóa Lạc Thiên: Nirmanarati—See Hóa Lạc Thiên.
6)
Cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên: Paranirmitavasavartin—See Tha Hóa
Tự Tại Thiên.
(B)
Nhân gian trong Tứ Châu—Beings in the four continents—See Tứ
Châu.
(C)
Súc Sanh: Tiryagyoni (skt)—See Súc Sanh and Súc Sanh Thú.
(D)
Ngạ Quỷ: Preta-gati (skt)—Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ.
(E)
Địa Ngục: Naraka (skt)—See Địa Ngục.
Dục Giới Thiên:
Heavens of desire. There are several in this realm—See Dục Giới (C).
Dục Hà: Dòng
sông dục vọng, nhận chìm chúng sanh—The river of desire or lust (which
drowns).
Dục Hải: Biển
dục vọng thâm sâu và bao la, không đáy và vô bờ bến—The ocean
(sea) of desires, so called because of its extent and depth.
Dục Hoa: Yukta
(skt)—Một loại Thiên hoa—A kind of celestial flower.
Dục Hỏa: Lửa
dục—The fire of desire.
Dục Hữu: Một
trong tam hữu—The realm of desire, one of the three kinds of existence.
** For more information,
please see Tam Hữu.
Dục Hữu Kiến Vô Minh:
Bốn phần tử gây nên khổ đau phiền não, hay kết thành lậu hoặc—The
four constituents which produce affliction (distress or pain) or make
up the contents of evil outflow (asvrava).
(A)
Dục: Kama (skt)—See Dục.
(B)
Hữu: Bhava (skt)—See Hữu, and Tam Hữu.
(C)
Kiến: Drsti (skt)—See Kiến.
(D)
Vô Minh: Avidya (skt)—See Vô Minh.
Dục Khí: Ảnh
hưởng của dục vọng—Desire-breath, passion-influence, the spirit or
influence of desire, lust.
Dục Khổ:
1)
Sự khổ đau gây ra bởi lòng tham dục: The sufferings of desire.
2)
Sự khổ đau trong dục giới: The sufferings in desire-realms.
Dục Kim Cang:
See Dục Tiển (2).
Dục Lạc: Lạc
thú ngũ dục—Sensual pleasures—Joy of the five desires
Dục Lạc Trần Tục:
Common desire.
Dục Lậu: Dòng
luân hồi sanh tử bị khuấy lên bởi tham dục, tà kiến, và tà tư—The
stream or flow of existence, evoked by desire interpenetrated by unenlightened
views and thoughts (these stimulating desires produce karma which
in turn produces reincarnation).
** For more information,
please see Tam Lậu
Hoặc.
Dục Lưu:
1)
Dòng thác tham dục, một trong tứ lưu, như tư hoặc, tham, sân,
si, vân vân, giữ mãi cá nhân trong vòng dục giới—The stream of the
passion, one of the four currents that carry the thinking along, i.e.
the illusions of cupidity, anger, etc., which keep the individual
in the realm of desire.
2)
Việc sống chết trong dòng luân hồi sanh tử (ba cõi) trong dục
giới: The stream of transmigration, which results from desire.
Dục Ma: Ma tham
dục—The evil demon of lust.
Dục Nê: Vũng
bùn dục vọng—The mire of desire, or lust.
Dục Nhiễm: Sự
nhiễm trược của dục vọng—The tainting, or contaminating influence
of desire.
** For more information,
please see Ngũ Dục.
Dục Phật: Lễ
tắm Phật vào ngày Phật Đản, rằm tháng tư—To wash the image of the
Buddha; this is a ceremony on his birthday, 15th of the fourth month.
Dục Sắc:
1)
Dục và sắc: The passion and the sensuous.
2)
Dục Sắc Nhị Giới: Dục giới và Sắc giới trong tam giới: The
two realms of desire and form.
Dục Sắc Nhị Giới:
See Dục Sắc (2).
Dục Tà Hạnh:
Tà dâm hay tà hạnh là giới cấm trong ngũ giới—Adultrous conduct, which
is prohibited in the five basic commandments.
Dục Tâm: Tâm
tham dục—A desirous, covetous, passionate, or lustful heart.
Dục Tham: Craving.
1)
Dục vọng và ham muốn: Desire and coveting.
2)
Ham muốn là kết quả của dục vọng: Coveting as the result of
passion.
Dục Thành: To
bring forth—To create.
Dục Thất: Nhà
tắm trong tự viện—A bath-house in a monastery.
Dục Thích: Những
mũi kim nhọn của lòng tham dục—The sharp point of desire.
Dục Thiên: Kamadhatu
(skt)—Lục Dục Thiên của cõi Dục Giới—The six heavens of desire or
passion.
** For more information,
please see Dục Giới
(C).
Dục Thiên Ngũ Dâm:
Năm loại giao cấu trong cõi trời dục giới—The five methods of sexual
intercourse in the heavens of desire.
1)
Chúng sanh trong cõi Tứ Thiên Vương và Đao Lợi Thiên thì việc
dâm dục không khác gì ở thế giới nhân gian: The methods (of sexual
intercourse) of beings in the heavens of the Four Great Kings and
Trayastrimsas the method is the same as on earth.
2)
Chúng sanh trong cõi trời Dạ Ma chỉ cần ôm nhau là đủ: The
methods (of sexual intercourse) of beings in the Yamadevaloka a mere
embrace is sufficient.
3)
Chúng sanh trong cõi trời Đâu Suất chỉ cần nắm tay nhau: The
methods (of sexual intercourse) of beings in the Tusita heaven, holding
hands.
4)
Chúng sanh trong cõi trời Hóa Lạc chỉ cần cười với nhau: The
methods (of sexual intercourse) of beings in the nirmanarati heaven,
mutual smiles.
5)
Chúng sanh trong cõi trời Tha Hóa chỉ cần nhìn nhau: The methods
(of sexual intercourse) of beings in the other heavens of transformation,
regarding each other.
Dục Tiển:
1)
Những mũi tên của lòng tham dục—The arrows of desire, or lust.
2)
Dục Kim Cang: Những mũi tên Kim Cang của Bồ Tát, dùng để câu
móc và lôi kéo chúng sanh về với Phật—The darts of the Bodhisattva,
who hooks and draws all beings to Buddha.
Dục Tính: The
lust—Desire-nature.
Dục Tình: Passion.
Dục Tốc Bất Đạt:
The more you hurry, the less progress you will make.
Dục Trần: Năm
dục làm bẩn thân tâm như bụi trần—The dust or dirt, or the infection
of the passions.
(A)
Lục Dục: The six desires—See Lục Dục.
(B)
Ngũ Trần: Five gunas (dusts)—See Ngũ Trần.
Dục Tri: Wanting
to know.
Dục Tượng: See
Dục Phật.
Dục Vọng:
(I)
Nghĩa của “Dục Vọng”—The meanings of “Dục Vọng”
Ham
muốn—Passion—Desire—Lust—Kềm chế dục vọng: To command one’s passions—To
bridle on one’s passions.
(II) Những lời Phật dạy về “Dục Vọng” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s
teachings on “Passion” in the Dharmapada Sutra:
1)
Những người chỉ muốn sống trong khoái lạc, không chịu nhiếp
hộ các căn, ăn uống vô độ, biếng nhác chẳng tinh cần, họ là người
dễ bị ma nhiếp phục như cành mềm trước cơn gió—Those who only want
to live with pleasant things, with senses unrestrained, in food
immoderate, indolent, inactive, are quickly overthrown by the mara
as a weak tree breaks before a big wind (Dharmapada 7).
2)
Những người nguyện ở trong cảnh chẳng khoái lạc, khôn khéo
nhiếp hộ các căn, uống ăn tiết độ, vững tin và siêng năng, ma không
dễ gì thắng họ, như gió thổi núi đá—Those who contemplate “impurities,”
with senses restrained, moderate in food, faithful and active, mara
cannot overthrow him as it’s impossible for the wind to overthrow
a rocky mountain (Dharmapada 8).
Dục Vọng Căn Bản:
Base passion.
Dụm: Dành dụm—To
economize—To save.
Dung:
1)
Dung chứa: To conain—To bear.
2)
Dung dị: Dễ dàng—Easy.
3)
Dung mạo: Looks—Appearance.
4)
Dung túng: To allow.
5)
Nấu cho tan chảy ra—Melting—Blending—Combining.
Dung Dị: Easy.
Dung Dịch: Solution.
Dung Hòa: To
harmonize.
Dung Hứa: To
allow—To permit.
Dung Hữu Thích:
Giải thích kinh điển, dù không phải là nghĩa trực tiếp nhưng có thể
chấp nhận được vì chứa đựng chánh nghĩa của kinh điển—An admissable
though indirect interpretation; containing that meaning.
Dung Lượng: Content—Capacity.
Dung Mạo: Countenance—Figure--Face.
Dung Nạp: To
accept—To admit.
Dung Ngôn: Trivial
words.
Dung Nhan: Appearance—Countenance.
Dung Thân: To
take refuge in—Dung thân nơi cửa Phật: To take refuge in the temple.
Dung Thông: Trộn
cái này với cái kia cho hòa hợp nhau không còn sai biệt—To blend—To
combine—To mix—To assemble—To unite.
Dung Thứ: To
forgive—To pardon—To excuse.
Dung Túng: To
tolerate evil doings.
Dùng: To use—To
employ.
Dùng Dằng: Hesitant—Undecided.
Dùng Sức: To
use force.
Dũng:
1)
Dũng cảm: Courageous—Brave—Bold—Fearless.
2)
Dũng xuất: To spring up—To spring forth—See Tùng Địa Dõng Xuất,
and Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát in Vietnamese-English Section.
Dũng Cảm: Courageous—Bold—Brave.
Dũng Khí: Dũng
cảm—Courage.
Dũng Lực: Vigourous
force.
Dũng Mãnh: Brave
and strong.
Dũng Mãnh Tinh Tấn:
Bold advance, or progress.
Dũng Sĩ: Viliant
man.
Dũng Tâm: Bravery—Courage.
Dũng Thí Bồ Tát:
Pradhanasura (skt)—Một vị Bồ Tát trong quyến thuộc của Đức Phật Thích
Ca—A Bodhisattva now in Sakyamuni’s retinue.
Dũng Tuyền: Kinh
điển như dòng suối cam lồ phúng lên làm tư nhuận chúng sanh—The springing
fountain, i.e. the sutras.
Dũng Xuất: See
Dũng (2).
Dụng: To use—To
employ—To function.
Dụng Công:
1)
To cultivate (practice) steadily.
2)
To work steadily.
Dụng Công Tu Hành:
To practice or cultivate steadily.
Dụng Diệt: Tác
dụng của các pháp diệt (nhưng thể của chúng chẳng diệt, thể luôn thường
trụ hằng hữu)—Function or activity ceasing; however, matter or the
body does not cease to exist, but only its varying functions or activities
cease.
Dụng Đại: Thể
của chân như có đại tác dụng sinh ra nhân quả thiện ác của tất cả
các pháp—Great in function or the universal activity of the bhutatathata.
Dụng Lực: To
use force.
Dụng Quyền: To
use one’s authority.
Dụng Tâm: Intentional—deliberate.
Dụng Võ: See
Dụng Lực.
Dụng Ý: Intentionally—Purposely—Deliberately.
Duy:
1)
Cột lại với nhau: To tie or hold together.
2)
Duy chỉ: But—Only.
3)
Duy nhất: Chỉ có một mình—Sole—Only.
4)
Khẳng định: Eva (skt)—Yes—Affirmative.
5)
Liên hệ: To connect.
6)
Lưới: A net.
7)
Phương hướng: Cardinal points.
8)
Tư duy: To reflect on.
Duy Cảm Chủ Nghĩa:
Sensualism.
Duy Cảnh Vô Thức:
Duy vật thuận thế ngoại đạo cho rằng tứ đại là cực vi tế, thường chân
thực và lập ra nghĩa “Duy Cảnh Vô Thức”, để đối lại với cái nghĩa
“duy thức vô cảnh”—Realism, as opposed to Idealism (Duy thức vô cảnh—Implying
that the four elements are real and permanent).
Duy Chiếu Bảo Phong:
Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong quê ở Giản Châu (bây giờ là Giản Dương
thuộc tỉnh Tứ Xuyên)—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng’s home town was
in ancient Jian-Chou (now is Jian-Yang in Si-Chuan province).
·
Một hôm đọc sách, ông giật mình với câu, “Tánh tương
cận dã, tập tương viễn dã.” Sư nói: “Phàm Thánh vốn một thể,
do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.” Liền đó sư đến Thành Đô làm
đệ tử Sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Sư thọ cụ túc giới năm mười chín tuổi—One
day while reading a book, he was startled by the phrase, “One’s self-nature
is near, but realizing it is remote.” He then said: “The mundane and
the sacred are of one body, but because of habit and circumstances
they are differentiated. I know this to be true.” He then hastened
to the city of Cheng-Tu and studied under the teacher Shing-T’ai in
Lu-Yuan, receiving full ordaination at the age of nineteen.
·
Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Phật xưa nói,
‘Khi ta mới thành Chánh Giác chính thấy chúng sanh trên đại địa thảy
đều thành Chánh Giác.’ Sau Ngài lại nói, ‘Sâu thẳm xa xôi không người
biết nổi.’ Kẻ không kiến thức, khéo đầu rồng đuôi rắn.” Sư liền xuống
tòa—One day Bao-feng entered the hall and addressed the monks, saying:
"A“ ancient Buddha said, 'W‘en I first gained complete awakening
I personally saw that all beings of the great earth are each fully
endowed with complete and perfect enlightenment.’ And later he said,
‘It’s a great mystery. No one can fathom it.’ I don’t see anyone who
understands this. Just some blowhards.” He then got down from the
seat.
·
Sư thượng đường thuyết pháp: “Chư Phật quá khứ đã nhập
Niết Bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên quá tưởng nhớ; chư Phật
vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không nên vọng tưởng; chính
hiện ngày nay ngươi là người gì? Hãy tự xét lấy!.”—Bao-Feng entered
the hall and addressed the monks, saying: “All the Buddhas of bygone
have already entered nirvana. You people! Don’t be nostalgic about
them. The Buddhas of the future have not yet appeared in the world.
All of you, don’t be deluded! On this very day who are you? Study
this!
·
Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Xưa tự chẳng
sanh, nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu mực. Nơi đây xuất
sanh chốn nầy diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Bậc đại trượng phu
cần phải ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai gốc, cúi ngước co
duỗi tùy cơ lập bày, hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện trang
nghiêm tam muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh thang. Nếu
chưa như thế, vô lượng phiền não tất cả trần lao đứng sựng trước mặt
bít lấp đường xưa.”—Another time, Bao-Feng entered the hall addressed
the monks, saying: “The fundamental self is unborn, nor is it annihilated
in the present. It is undying. But to be born in a certain place,
and to die someplace else, is the rule of being born in a life. Great
persons must position themselves in this flow of life and death. They
must lie down in the thorny forest. They must be pliable and able
to act according to circumstances. If they are thus, then immeasurable
expedients, grand samadhis, and great liberation gates are instantly
opened. But if they are not yet this way, then defilements, all toilsome
dust, and mountains loom before them and block the ancient road.”
·
Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong thị tịch năm 1128. Xá lợi
của sư lóng lánh như bảo châu ngọc bích. Lưỡi và răng của sư không
bị lửa đốt cháy. Tháp thờ xá lợi của sư hiện vẫn còn, bên đỉnh phía
tây của tự viện—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng died in 1128. His cremated
remains were like jewels and blue pearls. His tongue and teeth were
undamaged by the flames. His stupa was placed on the western peak
near the temple.
Duy Da Ly: See
Vaisali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Duy Danh: Namamatra
(skt)—Name only.
Duy Danh Luận:
Nominalism.
Duy Giả Thiết Danh:
Prajnaptinamamatreyam (skt)—Theo suy nghĩ thông thường thì có
một ngã thể; tuy nhiên, đối với giáo lý nhà Phật nó chỉ là giả danh
chứ không hiện hữu—In accordance with to the thinking of ordinary
people or worldly way of thiniking, there is an ego-substance,
which, however, to Buddhist theory, it is only an artificial name,
not a real existence.
Duy Khẩu Thực:
Một trong bốn tà mệnh thực, chỉ việc Tỳ Kheo học các loại chú thuật
bói toán để kiếm sống—Improper means of existence by spells, fortune-telling,
etc. One of the four cardinal improper ways of earning a livelihood.
** For more information,
please see Tứ Chủng
Tà Mệnh in Vietnamese-English Section.
Duy Kỷ: Duy ngã—Egoism—Selfish.
Duy Linh Luận:
Spiritualism.
Duy Lý Luận:
rationalism.
Duy Ma: See Vimalakirti,
and Vimalakirti Sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Duy Ma Cật Tử Sở
Vấn Kinh: Đại Thừa Đảnh Vương Kinh—Vimalakirti-Nirdesa-Sutra.
Duy Mỹ Chủ Nghĩa:
Aestheticism.
Duy Na: Karmadana
(skt)—Vị sư phân phối và giám sát công việc trong tự viện. Một trong
sáu vị sư chính trong tự viện—The duty-distributor, or arranger of
duties, a supervisor of monks in a monastery. One of the six main
monks.
** For more information,
please see Tam
Cương (B) (3).
Duy Ngã: I alone.
Duy Ngã Độc Tôn:
Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là đáng kính trọng—Above Heaven and
under Heaven I am alone and worthy of honor (Sakyamuni).
Duy Nghiễm Dược Sơn:
Wei-Yen-Yueh-Shan—See Dược Sơn Duy Nghiễm.
Duy Nhứt: Only—Sole—Unique.
Duy Sắc: Sắc
tâm không hai, do vậy vạn pháp duy tâm cũng lại là duy sắc (dựa vào
duy thức vô cảnh do ngài Hộ Pháp lập ra, và duy cảnh vô thức
do ngài Thanh Biện lập ra)—All things are matter because mind and
matter are identical, for matter is mind.
Duy Tâm: Cittamatra
(skt)—Mind-only or mind itself—Hết thảy chư pháp đều ở bên trong cái
tâm, không có pháp nào ở ngoài tâm (tâm có nghĩa là nhóm khởi lên
các pháp; thức có nghĩa là phân biệt các pháp). Giống như ý niệm Duy
Thức trong Kinh Lăng Già—Idealism—Mind only—The theory that the only
reality is mental, that of the mind—Nothing exists apart from mind.
Similar to “Only Mind,” or “Only Consciousness” in the Lamkavatara
Sutra.
Duy Tâm Kệ: Bài
kệ tám câu tóm lược cái ý nghĩa về thực tướng đầy đủ và viên dung
với nhau (trong Cựu Kinh Hoa Nghiêm, tâm như ông thợ vẽ, tạo vô số
ngũ ấm. Tất thảy trong thế gian, không pháp nào không tạo. Cả tâm
Phật cũng vậy, như Phật và chúng sanh. Tâm Phật và chúng sanh, là
ba không sai biệt)—The eight-line verse of the older sutra, which
summarizes the idealistic idea.
Duy Tâm Sở Kiến:
Cittamatradrisya (skt)—Cái được nhìn thấy từ tâm—There is only what
is seen of the Mind—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Những ai bị
ràng buộc vào ý niệm nhị biên, có đối tượng và chủ thể, sẽ không bao
giờ hiểu được rằng chỉ có cái được nhìn thấy do từ tâm.”—In the Lankavatara
Sutra, the Buddha taught: “Those who are attached to the notion of
duality, object and subject, fail to understand that there is only
what is seen of the Mind.”
Duy Tâm Tịnh Độ:
The Pure Land is in your mind, or the Pureland within the Mind.
(A)
Có người hỏi Diên Thọ Đại Sư rằng cảnh “Duy Tâm Tịnh Độ” đầy
khắp cả mười phương sao không hướng nhập mà lại khởi lòng thủ xả cầu
về Cực Lạc, để tọa trên liên đài, như vậy đâu có khế hợp với lý vô
sanh. Đã có tâm chán uế ưa tịnh như vậy thì đâu thành bình đẳng?:
Someone asked Great Master Dien-Shu that if the realm of “Pureland
within the Mind” is ubiquitous throughout the ten directions, why
not try to penetrate it instead of wanting the Pureland and abandoning
the Impure Land praying to gain rebirth to the Ultimate Bliss World
and sit on the lotus throne. Doing so not seem to be consistent with
the theory of “No Birth.” If one has the mind of being tired of impurity
but is fond of purity then that is not the mind of equality and non-discrimination?
(B)
Đại Sư đáp—The Great Master replied:
a)
Sanh “Duy Tâm Tịnh Độ” là phần của các bậc đã liễu ngộ tự tâm,
đã chứng được pháp thân vô tướng. Tuy nhiên, theo kinh Như Lai Bất
Tư Nghì Cảnh Giới, thì những bậc Bồ Tát chứng được Sơ Địa hay Hoan
Hỷ Địa vào Duy Tâm Độ cũng nguyện xả thân để mau sanh về Cực Lạc.
Vì thế phải biết rằng “Ngoài Tâm Không Pháp.” Vậy thì cảnh Cực Lạc
đâu thể ở ngoài tâm: Pureland within the Mind is a state achieved
only by those who have seen and penetrated the true nature and have
attained the Non-Form Dharma Body. Despite this, according to the
Buddha’s Inconceivable (Unimaginable) World Sutra, those Bodhisattvas
who have attained the First Ground Maha-Bodhisattva or Rejoicing Ground
to enter the world of “Everything within the Mind,” still vow to abandon
their bodies to be born quickly to the Ultimate Bliss World. Thus,
it is necessary to understand”No Dharma exists outside the Mind.”
If this is the case, then the Ultimate Bliss World is not outside
the realm of the Mind.
b)
Về phần lý Vô Sanh và Tâm Bình Đẳng, dĩ nhiên lý thuyết là
như vậy. Tuy nhiên, những kẻ đạo lực chưa đủ, trí cạn, tâm thô, tạp
nhiễm nặng, lại gặp các cảnh ngũ dục cùng trần duyên lôi cuốn mạnh
mẽ, dễ gì chứng nhập vào được. Cho nên những kẻ ấy cần phải cầu sanh
Cực Lạc, để nhờ vào nơi cảnh duyên thắng diệu ở đó, mới mau chứng
vào cảnh “Tịnh Độ Duy Tâm” và thực hành Bồ Tát đạo được: As for the
theory of no-birth and the mind of equality and non-discrimination,
of course, in theory this is true. However, for those who still do
not have enough spiritual power, have shallow wisdom, impure minds,
are bound by heavy karma and afflictions; moreover when tempted with
the five desires and the forces of life, how many actually will be
able to attain and penetrate this theory. Therefore, these people,
most sentient beings of this Dharma Ending Age, need to pray to gain
rebirth to the Ultimate Bliss World so they can rely on the extraordinary
and favorable conditions of that world in order to be able to enter
quickly the realm of Pureland within the Mind and to practice the
Bodhisattva’s Conducts.
c)
Hơn nữa, Thập Nghi Luận có dạy—Moreover, the book of commentary
“Ten Doubts of Pureland Buddhism” taught:
·
Bậc trí tuy đã liễu đạt được Duy Tâm song vẫn hăng hái
cầu về Tịnh Độ, vì thấu suốt sanh thể như huyễn không thể cầu tìm
được. Đó mới gọi là chân thật vô sanh: Those who have wisdom and have
already attained the theory of “Everything is within the Mind,” yet
are still motivated to pray for rebirth to the Pureland because they
have penetrated completely the true nature of non-birth is illusory.
Only then can it be called the “true nature of non-birth.”
·
Còn các kẻ ngu si, người vô trí, không hiểu được lý
đó, cho nên bị cái nghĩa “Sanh” ràng buộc, vì vậy khi nghe nói “Sanh”
thì nghĩ rằng thật có cái tướng “Sanh.” Khi nghe nói “Vô Sanh” thì
lại lầm hiểu là không sanh về đâu cả. Bởi vậy cho nên mới khởi sanh
ra các niệm thị phi, chê bai, phỉ báng lẫn nhau, gây ra những nghiệp
tà kiến, báng pháp. Những người như vậy, thật đáng nên thương xót!—As
for the ignorant, those who lack wisdom and are incapable of comprehending
such a theory; therefore, they are trapped by the meaning of the world
“Birth.” Thus, when they hear of birth, they automatically think
and conceptualize the form characteristics of birth actually exist,
when in fact nothing exists because everything is an illusion. When
they hear “Non-Birth,” they then mistakenly think of “Nothing being
born anywhere!” Given this misconception, they begin to generate a
mixture of gossip, criticism, and mockery; thus create various false
views and then degrade the Dharma. Such people truly deserve much
pity!
Duy Tân: To reform.
Duy Tha Chủ Nghĩa:
Altruism.
Duy Thức: Vijnanamatra
or Vada or Cittamatra (skt)—See Duy tâm.
Duy Thức Gia:
See Duy Thức Tông.
Duy Thức Học:
Giáo điển dạy Tâm Lý Học, về tám thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý, Mạt na và A Lại Da). Những thức nầy giúp chúng sanh phân biệt phải
trái—The doctrine which teaches the psychology of the eight consciousnesses
(sight, hearing, smell, taste, touch, mind, Mana and Alaya). These
consciousnesses enable sentient beings to discriminate between
right and wrong of all dahrmas (thoughts, feelings, physical things,
etc).
Duy Thức Học Cương
Yếu: General Teaching of Consciousness—The finer point of
the Teaching of Consciousness—See Duy Thức Học.
Duy Thức Luận:
Vijnaptimatrasiddhi-sastra.
Duy Thức Quán:
Ba đối tượng trong Duy Thức quán—The three subjects of idealistic
reflection:
1)
Biến Kế Sở Chấp Tính: Quán thật tánh của ngã và chư pháp—Ego
and things are realities.
2)
Y Tha Khởi Tính: Quán chư pháp được sanh ra bởi nhân duyên—Things
are produced by caused and circumstance.
3)
Viên Thành Thực Tính: Quán chỉ có Chân như là hiện thực—Bhutatathata
is the only reality.
Duy Thức Tam Thập
Tụng: Vijnaptimatrata-trimsika (skt)—See Tam Thập Tụng Duy Thức.
Duy Thức Tam Tính
Quán: See Duy Thức Quán.
Duy Thức Tâm Định:
See Duy Thức Quán.
Duy Thức Tông:
Vijnanavada (skt)—Còn gọi là Duy Thức Gia hay Pháp Tướng tông. Học
thuyết của Duy Thức tông chú trọng đến tướng của tất cả các pháp;
dựa trên đó, luận thuyết về Duy Thức Học được lập nên để minh giải
rằng ly thức vô biệt pháp hay không có pháp nào tách biệt khỏi thức
được. Mặc dù tông nầy thường được biểu lộ bằng cách nói rằng tất cả
các pháp đều chỉ là thức, hay rằng không có gì ngoài thức; thực ra
ý nghĩa chân chính của nó lại khác biệt. Nói duy thức, chỉ vì tất
cả các pháp bằng cách nầy hay cách khác luôn luôn liên hệ với thức.
Thuyết nầy dựa vào những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm,
theo đó tam giới chỉ hiện hữu trong thức. Theo đó thế giới ngoại tại
không hiện hữu, nhưng nội thức phát hiện giả tướng của nó như là thế
giới ngoại tại. Toàn thể thế giới do đó là tạo nên do ảo tưởng hay
do nhân duyên, và không có thực tại thường tồn nào cả. Tại Ấn Độ,
tông phái nầy chuyên chú vào việc nghiên cứu Duy Thức Luận và các
kinh sách cùng loại, nên có tên là Duy Thức Tướng Giáo. Tác giả các
bộ sách nầy là Vô Trước và Thiện Thân, họ từng có một đệ tử xuất sắc
là Giới Hiền, một người Ấn Độ, sống trong tu viện Na Lan Đà. Giới
Hiền là người đã lập ra Duy Thức Tông tại Ấn Độ và có nhiều công lao
trong việc sắp xếp các kinh điển Phật Giáo. Tại Trung Quốc, sau khi
Huyền Trang được Giới Hiền trao cho bộ luận, đã lập nên tông phái
nầy. Về sau, tông nầy cũng có tên là Pháp Tướng Tông và do một đồ
đề của Huyền Trang là Khuy Cơ dẫn dắt—Dharmalaksana sect, which holds
that all is mind in its ultimate nature. The doctrine of Idealism
School concerns chiefly with the facts or specific characters (lakshana)
of all elements on which the theory of idealism was built in order
to elucidate that no element is separate from ideation. Although it
is usually expressed by saying that all dharmas are mere ideation
or that there is nothing but ideation, the real sense is quite different.
It is idealistic because all elements are in some way or other always
connected with ideation. This doctrine was based on the teaching of
the Buddha in the Avatamsaka Sutra, that the three worlds exist only
in ideation. According to Ideation Theory, the outer world does not
exist but the internal ideation presents appearance as if it were
an outer world. The whole world is therefore of either illusory or
causal nature and no permanent reality can be found. In India, two
famous monks named Wu-Ch’o and T’ien-Ts’in wrote some sastras on Vijnana.
They had an outstanding disciple named Chieh-Hsien, an Indian monk
living at Nalanda monastery. Later, Chieh-Hsien established the Vijnanavada
school and contributed much to the arrangement of the Buddhist canons.
In China, Hsuan-Tsang, to whom Chieh-Hsien handed over the sastra,
founded this school in his native land. Later, the school was also
called Dharmalaksana (Fa-Tsiang-Tsung) and was led by Kwei-Chi, a
great disciple of Hsuan-Tsang.
Duy Thức Trung Đạo:
Theo Pháp Tướng Tông thì chư pháp duy tâm tạo, chứ không thật mà cũng
không giả—The madhya, or medial doctrine of idealism as held by the
Dharmalaksana school (Pháp Tướng Tông), that all things are of mind-evolution,
and are neither in themselves real or unreal.
Duy Thức Tu Đạo Ngũ
Vị: See Ngũ Vị (C).
Duy Thức Viên Giáo:
Một trong ba giáo do ngài Đạo Tuyên Nam Sơn lập ra, là thâm
giáo của Phật giáo Đại thừa—The perfect doctrine of idealism, the
third of the three main divisions of the Buddha’s teaching defined
by T’ao-Hsuan of Nan-Shan, the perfect doctrine of idealism—See Tam
Giáo (B).
Duy Thức Vô Cảnh:
Idealism—See Duy Cảnh Vô Thức.
Duy Trì: To maintain—To
remain.
Duy Trì Giác Ngộ:
To remain awakened.
Duy Tự Tâm Sở Hiện:
Svacittadrisyamatra (skt)—Tất cả chẳng gì khác hơn là sự biểu hiện
của chính tâm mình—All is no other than the manifestation of one’s
own mind—See Tam Giới Duy Nhất Tâm.
Duy Vật: Materialism.
Duy Việt: Avaivartika
(skt)—See A Bệ Bạt Trí in Vietnamese-English Section.
Duyên: Pratyaya
(skt).
1)
Có duyên: Charm—Grace—Charming—Graceful.
2)
Có điều kiện: Conditioned.
3)
Phan duyên: A co-operating cause, the concurrent occasion of
an event as distinguished from its proximate cause.
4)
Nhân phụ, hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài, đối lại với nhân
chính hay chủng tử. Nhân (Hetu) là hạt, trong khi duyên (Pratyaya)
là đất, mưa, nắng, vân vân : The circumstantial, conditioning, or
secondary cause, in contrast with the Hetu, the direct or fundamental
cause. Hetu is the seed, Pratyaya is the soil, rain, sunshine, etc.
5)
Năng Duyên: Tâm có thể lý luận—The mind can reason.
6)
Sở Duyên: Đối tượng của lý luận là sở duyên—The objective.
7)
Năng Duyên Sở Duyên: Duyên là tác dụng của Tâm với Cảnh (Tâm
và đối tượng tiếp xúc với nhau tạo ra tiến trình lý luận hay “Duyên.”)—When
the mind is in contact with the objective we have the reasoning process.
Duyên Chân Như Thiền:
Tathatalambanam (skt)—Đây là thiền định dựa vào như như, thiền định
thứ ba trong tứ thiền định được mô tả trong Kinh Lăng Già. Đối tượng
của sự tu tập là thể chứng cái như như của chân lý bằng cách giữ các
tư tưởng vượt lên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu, và cũng vượt
lên trên hai ý niệm về vô ngã—This is the dhyana depending upon suchness.
This is the third of the four Dhyanas described in The Lankavatara
Sura. The object of the discipline is to realize the suchness of truth
by keeping thoughts above the dualism of being and non-being and also
aboe the twofold notion of egolessness.
Duyên Chính:
a)
Chính Nhân Phật Tánh: Fundamental Buddha-nature or Bhutatathata.
b)
Duyên Nhân Phật Tánh: Những điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài
giúp Phật tánh trải qua các thời kỳ phát triển—Conditioned Buddha-nature
in all undergoing development.
Duyên Cơ: Nhân
và duyên đưa đến Phật quả—Conditions opportune—Favourable circumstances—Cause
and conditions cooperating for achieving Buddhahood.
Duyên Cớ: Cause—Reason.
Duyên Dáng: Charm—Grace—Charming—Cute.
Duyên Do: See
Duyên cớ.
Duyên Duyên:
Adhipati-pratyaya (skt)—Sở Duyên Duyên—Cái duyên của sở duyên hay
tâm thức đối với cảnh giới như mắt đối với sắc (tâm thức gọi
là năng duyên, cảnh giới gọi là sở duyên)—Conditioned condition—The
reasoning mind, or the mind reasoning—Intelligence in contact with
its object—The relationship being like that of form or colour to the
eye. The influence of one factor in causing others.
·
Sở Duyên: The object.
·
Duyên: Mind.
Duyên Giác: Pratyeka-buddha
(skt).
1)
Pratyeka nghĩa là riêng tư, cá biêt, đơn độc. Chữ Pratyeka-buddha
dùng để chỉ một cá nhân đơn độc, không có bất kỳ sự giúp đở nào của
ngoại tại nhưng có thể đạt đến cảnh giới A La hán—The word ‘Pratyeka’
means ‘private,’ ‘individual,’ ‘single,’ or ‘solitary.’ Pratyeka-buddha
is one who is in ‘solitary singleness,’ in independence of all external
support, attains Arhatship.
2)
Nhân Duyên Giác: Bích Chi Phật—Nhờ thiền quán theo pháp nhân
duyên (pháp quán mười hai nhân duyên để đạt được giác ngộ của Phật
giáo) mà giác ngộ thành Phật Bích Chi. Không như Phật toàn giác, Thanh
văn Duyên giác chỉ tự giác chứ không giác tha. Bậc Độc Giác không
chia xẻ với kẻ khác sự hiểu biết mà mình đã gia công tìm kiếm về những
phương tiện để đạt tới Niết Bàn. Bậc Độc Giác tin rằng, những người
khác, khi bị thực tế khắc nghiệt của những khổ đau trên trần thế thúc
đẩy, cũng sẽ đi vào con đường thánh thiện, nhưng Duyên Giác không
bận tâm tới việc dạy bảo hoặc giác ngộ chúng sanh. Các bậc nầy cho
rằng sự giác ngộ là một thành tựu về phương diện cá nhân chứ không
phải về phương diện xã hội hay vũ trụ—Pratyeka Buddhas (skt)—Who become
fully enlightened by meditating on the principle of causality
(the Buddhist enlightenment arises from pondering over the twelve
nidanas). Unlike the Perfect Buddhas, however, they do not exert themselves
to teach and help others. Pratyekabuddha does not share with others
his hard-won knowledge of the means for the attainment of Nirvana.
He believes that others too, driven by the stern reality of the miseries
of life, may some day take to the holy path, but does not bother to
teach or enlighten them. They consider enlightenment as an individual
not a social or cosmic achievement.
3)
Bích Chi Ca La Phật hay Độc Giác Phật: Còn gọi là Bích Chi,
Bích Chi Ca Phật, Duyên Giác, hay Độc Giác, là người tự tu tự giác
ngộ và nhập Niết bàn trong thời không có bậc Chánh Đẳng Chánh giác,
cũng giúp người giác ngộ, nhưng chỉ trong giới hạn nào mà thôi. Duyên
Giác chẳng có khả năng nói rõ về chân lý cho người khác như Phật Toàn
Giác—Those enlightened to conditions—A person who realizes Nirvana
by himself or herself at a time when there is no Samyaksambuddha in
the world. He or she also renders services to others, but in a limited
way. He or she is not capable of revealing the Truth to others as
a Samyak-sambuddha, a fully enlightened does.
4)
Độc Giác Phật hay Bát Lạt Ê Già Phật Đà: Người tự tu tự ngộ
hay những người sống tu cách biệt khỏi nhân quần xã hội và tự đạt
được giác ngộ, đối lại với nguyên tắc vị tha của Bồ Tát—Individual
enlightenment—One who lives apart from others and attains enlightenment
alone, or for himselfcontrast with the alturism of the bodhisattva
principle.
5)
Danh từ Duyên Giác không hạn chế trong Phật giáo, nhưng nó
bao hàm những vị sống đời cách biệt, tự mình quán sát về ý nghĩa của
cuộc đời, nhìn hoa rơi lá rụng mà giác ngộ—The term Pratyeka-buddha
is not limited to the Buddhists, but is a general term for those who
attain enlightenment by living in isolation (recluses), pondering
alone over the meaning of life, observing the “flying flowers and
falling leaves.”
Duyên Giác Bồ Đề:
Một trong ba loại Bồ Đề, bậc tu theo Duyên Giác phát tâm Bồ Đề nhưng
không giáo hóa cho chúng sanh khác mà chỉ muốn một mình giải thoát—The
pratyeka-buddha form of enlightenment or enlightenment for self, not
revealing the truth to others. This is one of the three form of enlightenment
(Sravakas, Pratyeka-buddhas, Bodhisattvas).
Duyên Giác Pháp Giới:
Một trong những pháp giới mà tông Thiên Thai đã đặt ra về bản thể
của chúng sanh và chư Phật—The pratyeka-buddha realm, one of the T’ien-T’ai
categories of intelligent beings.
Duyên Giác Phật:
Pratyeka-buddha (skt)—See Duyên Giác in Vietnamese-English Section.
Duyên Giác Thân:
The pratyeka-buddha or personal appearing of the Buddha.
Duyên Giác Thừa:
1)
Giai đoạn của trung thừa được biểu thị là Duyên Giác, là bậc
giác nhờ quán sát pháp nhân duyên. Duyên Giác Thừa được coi như sự
tiến bộ cao trong phái Tiểu Thừa, nhưng vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn
vị tha của Bồ Tát trong Đại Thừa—The “middle conveyance” period, characterized
as that of the pratyeka-buddha, who is enlightened by the twelve nidanas.
It is consider as an advance on the Hinayana, but not yet the standard
of the altruistic bodhisatva-vehicle or the Mahayana.
2)
Một trong ba thừa trong Phật Giáo—One of the three vehicles
in Buddhism:
a)
Thanh Văn Thừa: Sravaka-Vehicle.
b)
Duyên Giác Thừa: Pratyeka-buddha-Vehicle.
c)
Bồ Tát Thừa: Bodhisattva-Vehicle.
Duyên Hóa: Biến
cải những người chịu ảnh hưởng của mình—To convert or instruct those
under influence.
Duyên Khởi: Pratityasamutpada
(skt)—The theory of causation.
(I)
Ý nghĩa của Duyên Khởi—The meanings of Causation:
(A)
Những định nghĩa nầy căn cứ trên sự giải thích về Duyên Khởi
của Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—These
definitions are based on the interpretation of Prof. Junjiro Takakusu
in The Essentials of Buddhist Philosophy.
1)
Sự vật chờ duyên mà nẩy sinh, đối lại với tánh giác hay chân
như—Conditioned arising—Arising from the secondary causes, in contrast
with arising from the primal nature or bhutatatha (Tánh giác).
2)
Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên,
chứ không có tự tánh—Everything arises from conditions and not being
spontaneous and self-contained has no separate and independent nature.
3)
Phật giáo không coi trọng ý niệm về nguyên lý căn nhân hay
nguyên nhân đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống triết học
khác; và cũng không bàn đến ý niệm về vũ trụ luận. Tất nhiên, triết
học về Thần học không thể nào phát triển trong Phật giáo. Đừng ai
mong có cuộc thảo luận về Thần học nơi một triết gia Phật giáo. Đối
với vấn đề sáng thế, đạo Phật có thể chấp nhận bất cứ học thuyết nào
mà khoa học có thể tiến hành, vì đạo Phật không thừa nhận có một xung
đột nào giữa tôn giáo và khoa học: Buddhism does not give importance
to the idea of the Root-Principle or the First Cause as other systems
of philosophy often do; nor does it discuss the idea of cosmology
. Naturally such a branch of philosophy as theology did not
have grounds to develop in Buddhism. One should not expect any discussion
of theology from a Buddhist philosopher. As for the problem of creation,
Budhism is ready to accept any theory that science may advance, for
Buddhism does not recognize any conflict between religion and science.
4)
Theo đạo Phật, nhân loại và các loài hữu tình đều tự tạo, hoặc
chủ động hoặc thụ động. Vũ trụ không phải là quy tâm độc nhất; nó
là môi trường cọng sinh của vạn hữu. Phật giáo không tin rằng vạn
hữu đến từ một nguyên nhân độc nhất, nhưng cho rằng mọi vật nhất định
phải được tạo thành ít nhất là hai nguyên nhân. Những sáng hóa hay
biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp trong liên tục thời
gian, quá khứ, hiện tại và vị lai, như một chuỗi dây xích. Chuỗi xích
nầy được chia thành 12 bộ phận, gọi là 12 khoen nhân duyên vì mỗi
bộ phận liên quan nhau với công thức như sau “Cái nầy có nên cái kia
có; cái nầy sinh nên cái kia sinh. Cái nầy không nên cái kia không;
cái nầy diệt nên cái kia diệt.”—According to Buddhism, human beings
and all living things are self-created or self-creating. The universe
is not homocentric; it is a co-creation of all beings. Buddhism does
not believe that all things came from one cause, but holds that everything
is inevitably created out of more than two causes. The creations or
becomings of the antecedent causes continue in time-series, past,
present and future, like a chain. This chain is divided into twelve
divisions and is called the Twelve Divisioned Cycle of Causation and
Becomings. Since these divisions are interdependent, the process is
called Dependent Production or Chain of causation. The formula of
this theory is as follows: From the existence of this, that becomes;
from the happening of this, that happens. From the non-existence of
this, that does not become; from the non-happening of this, that does
not happen.
(B)
Theo Triết Học Trung Quán, thuyết Duyên Khởi là một học
thuyết vô cùng trọng yếu trong Phật Giáo. Nó là luật nhân quả
của vũ trụ và mỗi một sinh mạng của cá nhân. Nó quan trọng vì hai
điểm. Thứ nhất, nó đưa ra một khái niệm rất rõ ràng về bản chất vô
thường và hữu hạn của mọi hiện tượng. Thứ hai, nó cho thấy sanh, lão,
bệnh, tử và tất cả những thống khổ của hiện tượng sinh tồn tùy thuộc
vào những điều kiện như thế nào và tất cả những thống khổ nầy sẽ chấm
dứt như thế nào khi vắng mặt các điều kiện đó. Trung Quán lấy sự sanh
và diệt của các thành tố của sự tồn tại để giải thích duyên khởi là
điều kiện không chính xác. Theo Trung Quán, duyên khởi không có nghĩa
là nguyên lý của một tiến trình ngắn ngủi, mà là nguyên lý về sự lệ
thuộc vào nhau một cách thiết yếu của các sự vật. Nói gọn, duyên khởi
là nguyên lý của tương đối tánh. Tương đối tánh là một khám phá vô
cùng quan trọng của khoa học hiện đại. Những gì mà ngày nay khoa học
khám phá thì Đức Phật đã phát hiện từ hơn hai ngàn năm trăm năm về
trước. Khi giải thích duyên khởi như là sự lệ thuộc lẫn nhau một cách
thiết yếu hoặc là tánh tương đối của mọi sự vật, phái Trung Quán đã
bác bỏ một tín điều khác của Phật giáo Nguyên Thủy. Phật giáo Nguyên
Thủy đã phân tích mọi hiện tượng thành những thành tố, và cho rằng
những thành tố nầy đều có một thực tại riêng biệt. Trung Quán
cho rằng chính thuyết Duyên Khởi đã tuyên bố rõ là tất cả các pháp
đều tương đối, chúng không có cái gọi là ‘thực tánh’ riêng biệt của
chính mình. Vô tự tánh hay tương đối tánh đồng nghĩa với ‘Không Tánh,’
nghĩa là không có sự tồn tại đích thực và độc lập. Các hiện tượng
không có thực tại độc lập. Sự quan trọng hàng đầu của Duyên Khởi là
vạch ra rằng sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng và của tất
cả thực thể trên thế gian nầy đều hữu hạn, chúng không có sự tồn tại
đích thực độc lập. Tất cả đều tùy thuộc vào tác động hỗ tương của
vô số duyên hay điều kiện hạn định. Ngài Long Thọ đã sơ lược về Duyên
Khởi như sau: “Bởi vì không có yếu tố nào của sự sinh tồn được thể
hiện mà không có các điều kiện, cho nên không có pháp nào là chẳng
‘Không,’ nghĩa là không có sự tồn tại độc lập đích thực.”—According
to the Madhyamaka philosophy, the doctrine of causal law (Pratityasamutpada)
is exceedingly important in Buddhism. It is the causal law both of
the universe and the lives of individuals. It is important from two
points of view. Firstly, it gives a very clear idea of the impermanent
and conditioned nature of all phenomena. Secondly, it shows how birth,
old age, death and all the miseries of phenomenal existence arise
in dependence upon conditions, and how all the miseries cease in the
absence of these conditions. The rise and subsidence of the elements
of existence is not the correct interpretation of the causal law.
According to the Madhyamaka philosophy, the causal law (pratityasamutpada)
does not mean the principle of temporal sequence, but the principle
of essential dependence of things on each other. In one word, it is
the principle of relativity. Relativity is the most important discovery
of modern science. What science has discovered today, the Buddha had
discovered more than two thousand five hundred years before. In interpreting
the causal law as essential dependence of things on each other or
relativity of things, the Madhyamaka means to controvert another doctrine
of the Hinayanists. The Hinayanists had analyzed all phenomena into
elements (dharmas) and believed that these elements had a separate
reality of their own. The Madhyamika says that the very doctrine of
the causal law declares that all the dharmas are relative, they have
no separate reality of their own. Without a separate reality is synonymous
with devoid of real (sunyata), or independent existence. Phenomena
are devoid of independent reality. The most importance of the
causal law lies in its teaching that all phenomenal existence, all
entities in the world are conditioned, are devoid of real (sunya),
independent existence (svabhava). There is no real, dependent existence
of entities. All the concrete content belongs to the interplay of
countless conditions. Nagarjuna sums up his teaching about
the causal law in the following words: “Since there is no elements
of existence (dharma) which comes into manifestation without conditions,
therefore there is no dharma which is not ‘sunya,’ or devoid of real
independent existence.”
(II)
Phân loại Duyên Khởi—Categories of Causation:
1)
Nghiệp Cảm Duyên Khởi—Causation by Action-influence: Nghiệp
cảm duyên khởi được dùng để miêu tả bánh xe sinh hóa—Causation by
action-influence is depicted in the Wheel of Life.
a)
Trong sự tiến hành của nhân và quả, phải có định luật và trật
tự. Đó là lý thuyết về nghiệp cảm. Trong 12 chi duyên khởi, không
thể nêu ra một chi nào để nói là nguyên nhân tối sơ. Bởi vì, cả 12
chi tạo thành một vòng tròn liên tục mà người ta gọi là “Bánh Xe Sinh
Hóa,” hay bánh xe luân hồi (see Thập Nhị Nhân Duyên)—There is law
and order in the progress of cause and effect. This is the theory
of causal Sequence. In the Twelve Divisioned Cycle of Causations and
Becomings, it is impossible to point out which one is the first cause,
because the twelve make a continuous circle which is called the Wheel
of Life (see Thập Nhị Nhân Duyên).
b)
Người ta có thói quen coi sự tiến hành của thời gian như một
đường thẳng từ quá khứ vô cùng ngang qua hiện tại đến vị lai vô tận.
Thế nhưng đạo Phật lại coi thời gian như là một vòng tròn không có
khởi đầu, không có chấm dứt. Thời gian tương đối: People are accustomed
to regard time as progressing in a straight line from the infinite
past through present to infinite future. Budhism, however, regards
time as a circle with no beginning or end. Time is relative.
c)
Một sinh vật chết đi không là chấm dứt; ngay đó, một đời sống
khác bắt đầu trải qua một quá trình sống chết tương tự, và cứ lập
lại như vậy thành một vòng tròn sinh hóa bất tận. Theo đó một sinh
vật khi được nhìn trong liên hệ thời gian, nó tạo thành một dòng tương
tục không gián đoạn. Không thể xác định sinh vật đó là thứ gì, vì
nó luôn luôn biến đổi và tiến hóa qua 12 giai đoạn của đời sống. Phải
đặt toàn bộ các giai đoạn nầy trong toàn thể của chúng coi như là
đang biểu hiện cho một sinh thể cá biệt. Cũng vậy, khi một sinh vật
được nhìn trong tương quan không gian, nó tạo thành một tập hợp phức
tạp gồm năm yếu tố hay ngũ uẩn. Bánh xe sinh hóa là lối trình bày
khá sáng sủa của quan điểm Phật giáo và một sinh vật trong liên hệ
với thời gian và không gian: The death of a living being is not the
end; at once another life begins to go through a similar process of
birth and death, and thus repeats the round of life over and over
again. In this way a living being, when considered in relation to
time, forms an endless continuum. It is impossible to define what
a living being is, for it is always changing and progressing
through the Divisions or Stages of Life. The whole series of stages
must be taken in their entirety as representing the one individual
being. Thus, a living being, when regarded in relation to space, forms
a complex of five elements. The Wheel of Life is a clever representation
of the Buddhis conception of a living being in relation to both space
and time.
d)
Bánh xe sinh hóa là một vòng tròn không khởi điểm, nhưng thông
thường người ta trình bày nó bắt đầu từ vô minh, một trạng thái vô
ý thức, mù quáng. Kỳ thật, vô minh chỉ là một tiếp diễn của sự chết.
Lúc chết, thân thể bị hủy hoại nhưng vô minh vẫn tồn tại như là kết
tinh các hiệu quả của các hành động được tạo ra trong suốt cuộc sống.
Đừng nên coi vô minh như là phản nghĩa của tri kiến; phải biết nó
bao gồm cả tri, sự mù quáng hay tâm trí u tối, vô ý thức: The Wheel
of Life is a circle with no beginning, but it is customary to begin
its exposition at Blindness (unconscious state). Blindness is only
a continuation of Death. At death the body is abandoned, but Blindness
remains as the crystalization of the effects of the actions performed
during life. This Blidness is often termed Ignorance; but this ignorance
should not be thought of as the antonym of knowing; it must include
in its meaning both knowing and not knowing, blindness or blind mind,
unconsciousness.
e)
Vô minh dẫn tới hành động u tối, mù quáng. Hành, năng lực,
hay kết quả của hành vi mù quáng đó, là giai đoạn kế tiếp. Nó là động
lực, hay ý chí muốn sống. Ý chí muốn sống không phải là loại ý chí
mà ta thường dùng trong ý nghĩa như “tự do ý chí;” thực sự, nó là
một động lực mù quáng hướng tới sự sống hay khát vọng mù quáng muốn
sống. Vô Minh và Hành được coi là hai nhân duyên thuộc quá khứ. Chúng
là những nguyên nhân khi nhìn chủ quan từ hiện tại; nhưng khi nhìn
khách quan đời sống trong quá khứ là một đời sống toàn diện giống
hệt như đời sống hiện tại: Blindness leads to blind activity. The
energy or the effect of this blind activity is the next stage, Motive
or Will to Live. This Will to Live is not the kind of will which is
used in the term “free will;” it is rather a blind motive toward life
or the blind desire to live. Blindness and Will to Live are called
the Two Causes of the pst. They are causes when regarded subjectively
from the present; but objectively regarded, the life in the past is
a whole life just as much as is the life of the present.
2)
A Lại Da Duyên Khởi: Alaya-vijnana (skt)—Causation by the Ideation-Store:
A Lại Da Duyên Khởi để giải thích căn nguyên của nghiệp—Causation
by the Ideation-store is used to explain the origin of action.
a)
Nghiệp được chia thành ba nhóm, chẳng hạn như nghiệp nơi thân,
nơi khẩu và nơi ý. Nếu khởi tâm tạo tác, phải chịu trách nhiệm việc
làm đó và sẽ chịu báo ứng, bởi vì ý lực là một hành động của tâm ngay
dù nó không phát biểu ra lời nói hay bộc lộ trong hành động của thân.
Nhưng tâm là cứ điểm căn để nhất của tất cả mọi hành động luật duyên
sinh phải được đặt vào kho tàng tâm ý, tức Tàng Thức hay A Lại Da
thứ (Alaya-vijnana): Actions or karma are divided into three groups,
i.e., those by the body, those by speech and those by volition. When
one makes up one’s mind to do something, one is responsible for it
and is liable to retribution, because volition is a mind-action even
if it is not expressed in speech or manifested in physical action.
But the mind being the inmost recess of all actions, the causation
ought to be attributed to the mind-store or Ideation-store.
b)
Lý thuyết ý thể của đạo Phật, tức học thuyết Duy Thức, chia
thức thành tám công năng, như nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt
thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, và a lại da thức. Trong tám
thức nầy, thức thứ bảy và thứ tám cần phải giải thích: The Buddhist
ideation theory divides the mind into eight faculties, i.e., the eye-sense,
the ear-sense, the nose-sense, the tongue-sense, the body-sense, the
co-ordinating sense-center or the sixth mano-vijnana, the individualizing
thought-center of egotism or the seventh manas-vijnana, and the storing-center
of ideation or the eighth alaya-vjnana, or Ideation-store. Of these
eight faculties, the seventh and the eighth require explanation.
·
Thức thứ bảy là trung tâm cá biệt hóa của ngã tính,
là trung tâm hiện khởi của các ý tưởng vị ngã, ích kỹ, kiêu mạn, tự
ái, ảo tưởng và mê hoặc—The seventh, the Individualizing Center of
Egotism is the center where all the selfish ideas, egotistic, opinions,
arrogance, self-love, illusions, and delusions arise.
·
Thức thứ tám là trung tâm tích tập của ý thể, là nơi
chứa nhóm các ‘hạt giống’ hay chủng tử của tất cả mọi hiện khởi và
chúng được bộc lộ trong các hiện khởi đó. Đạo Phật chủ trương rằng
nguyên khởi của vạn hữu và vạn tượng là hiệu quả của ý thể. Mỗi chủng
tử tồn tại trong tàng thức và khi nó trào vọt vào thế giới khách quan,
nó sẽ được phản ảnh để trở thành một hạt giống mới. Nghĩa là tâm vươn
ra thế giới ngoại tại và khi tiếp nhận các đối tượng nó đặt những
ý tưởng mới vào trong tàng thức. Lại nữa, hạt giống mới đó sẽ trào
vọt để phản ảnh trở lại thành một hạt giống mới mẻ khác nữa. Như thế,
các hạt giớng hay các chủng tử tụ tập lại và tất cả được chứa nhóm
ở đây. Khi chúng tiềm ẩn, chúng ta gọi chúng là những chủng tử. Nhưng
khi chúng hoạt động, chúng ta gọi chúng là những hiện hành. Những
chủng tử cố hữu, những hiện hành, và những chủng tử mới hỗ tương phụ
thuộc lẫn nhau tạo thành một vòng tròn mãi mãi tái diễn tiến trình
trước sau như nhất. Đây gọi là A Lại Da Duyên Khởi: The eighth, the
Storing Center of Ideation, is where the ‘seeds’ of all manifestations
are deposited and later expressed in manifestations. Buddhism holds
that the origin of all things and events is the effect of ideation.
Every seed lies in the Storing Center and when it sprouts out into
the object-world a reflection returns as a new seed. That is, the
mind reahces out into the outer world and, perceiving objects,
puts new ideas into the mind-store. Again, this new seed sprouts out
to reflect back a still newer seed. Thus the seeds accumulate and
all are stored there together. When they are latent, we call them
seeds, but when active we call them manifestations. The old seeds,
the manifestations and the new seeds are mutually dependent upon each
other, forming a cycle which forever repeats the same process.
This is called the Chain of Causation by Ideation.
c)
Cái làm cho chủng tử hay vô thức tâm phát khởi thành hiện hành,
nghĩa là động lực tạo ra dòng vận động của duyên khởi, chính là ý
thể, nghĩa là thức. Có thể thấy một cách dễ dàng, theo thuyết A Lại
Da Duyên Khởi nầy, rằng Hoặc, Nghiệp và Khổ khởi nguyên từ nghiệp
thức, hay ý thể. Tàng thức lưu chuyển tái sinh để quyết định một hình
thái của đời sống kế tiếp. Có thể coi tàng thức giống như một linh
hồn trong các tôn giáo khác. Tuy nhiên, theo học thuyết của đạo Phật,
cái tái sanh không phải là linh hồn, mà là kết quả của các hành động
được thi hành trong đời sống trước. Trong đạo Phật, người ta không
nhận có hiện hữu của linh hồn: That which makes the seed or subconscious
thought sprout out into actual manifestation, that is, the motive
force which makes the chain of causation move, is nothing but ideation.
It is easy to see from this theory of Causation by Ideation that Delusion,
Action and Suffering originate from mind-action, or ideation. The
Storing Center of Ideation is carried across rebirth to determine
what the next form of life will be. This Storing Center might be regarded
as similar to the soul in other forms of religion. According to the
Buddhist doctrine, however, what is reborn is not the soul, but is
the result of the actions performed in the preceding life. In Buddhism
the existence of the soul is denied.
3)
Chân Như Duyên Khởi—Causation By Thusness: Chân Như Duyên Khởi,
để giải thích căn nguyên của tàng thức. Tàng thức của một người được
quy định bởi bản tính của người đó và bản tánh nầy là hình thái động
của chân như. Không nên hỏi chân như hay Như Lai tạng khởi lên từ
đâu, bởi vì nó là thể tánh, là chân như cứu cánh không thể diễn đạt—Causation
by Thusness is used to explain the origin of theideation-store. The
ideation-store of a human being is determined by his nature as a human
being and this nature is a particular dynamic form of Thusness. One
should not ask where Thusness or Matrix of Thus-come originates, because
it is the noumenon, the ultimate indescribable Thusness.
a)
Chân như là từ ngữ duy nhất có thể dùng để diễn tả thực tại
cứu cánh vượt ngoài định danh và định nghĩa. Còn được gọi là Như Lai
Tạng. Như Lai Tạng là Phật tánh ẩn tàng trong bản tánh của phàm phu.
Như Lai là một biểu hiệu được Phật tự dùng để thay cho các danh xưng
như “Tôi” hay “Chúng ta,” nhưng không phải là không có một ý nghĩa
đặc biệt. Sau khi Ngài thành đạo, Đức Phật gặp năm anh em Kiều Trần
Như hay năm nhà khổ hạnh mà trước kia đã từng sống chung với Ngài
trong đời sống khổ hạnh trong rừng. Năm nhà khổ hạnh nầy gọi Ngài
là “Bạn Gotama.” Phật khiển trách họ, bảo rằng, đừng gọi Như Lai như
là bạn và ngang hàng với mình, bởi vì Ngài bấy giờ đã là Đấng Giác
Ngộ, Đấng Tối Thắng, Đấng Nhất Thiết Trí. Khi Ngài “đến như vậy” trong
tư thế hiện tại của Ngài với tư cách là vị đạo sư của trời và người,
họ phải coi Ngài là Đấng Trọn Lành chứ không phải là một nguời bạn
cố tri: Thusness or suchness, is the only term which can be used to
express the ultimate indefinable reality. It is otherwise called the
Matrix of Thus-come. Thus-come is Buddha-nature hidden in ordinary
human nature. “Thus-come” is a designation of the Buddha employed
by himself instead of “I”or “we,” but not without special meaning.
After he had attained Enlightenment, he met the five ascetics with
whom he had formerly shared his forest life. These five ascetics addressed
him saying “Friend Gotama.” The Buddha admonished them, sayingthat
they ought not treat the Thus-come (thus enlightened I come) as their
friend and their equal, because he was now the Enlightened One, the
Victorious, All-wise One. When he had ‘thus come’ in his present position
as the instructor of all men and even of devas, they should treat
him as the Blesed One and not as an old friend.
b)
Lại nữa, khi Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ, quê cũ của
Ngài, Ngài không đi đến cung điện của phụ vương mà lại ở trong khu
vườn xoài ở ngoại thành, và theo thường lệ là đi khất thực mỗi ngày.
Vua Tịnh Phạn, phụ vương cuả Ngài, không thể chấp nhận con mình, một
hoàng tử , lại đi xin ăn trên các đường phố thành Ca Tỳ La Vệ. Lúc
đó, vua đến viếng Đức Phật tại khu vườn, và thỉnh cầu Ngài trở về
cung điện. Phật trả lời vua bằng những lời lẽ như sau: “Nếu tôi vẫn
còn là người thừa kế của Ngài, tôi phải trở về cung điện để cùng chung
lạc thú với Ngài, nhưng gia tộc của tôi đã đổi. Bây giờ tôi là một
người thừa kế các Đức Phật trong quá khứ, các ngài đã “đến như vậy”
như tôi đang đến như vậy ngày nay, cùng sống trong các khu rừng, và
cùng khất thực. Vậy Bệ Hạ hãy bỏ qua những gì mà ngài đã nói.” Đức
vua hiểu rõ những lời đó, và tức thì trở thành một người đệ tử của
Đức Phật: Again, when the Buddha went back to Kapilavastu, his former
home, he did not go to the palace of his father, but lived in the
banyan grove outside the town, and as usual went out to beg daily.
Suddhodana, his king-father, could not bear the idea of his
own son, the prince, begging on the streets of Kapilavastu. At once,
the king visited the Buddha in the grove and entreated him to return
to the palace. The Buddha answered him in the following words:
“If I were still your heir, I should return to the palace to share
the comfort with you, but my lineage has changed. I am now a successor
to the Buddhas of the past, all of whom have ‘thus gone’ (Tathagata)
as I am doing at present, living in the woods and begging. So your
Majesty must excuse me.” The king understood the words perfectly and
became a pupil of the Buddha at once.
c)
Như Lai, đến như vậy hay đi như vậy, trên thực tế, cùng có
ý nghĩa như nhau. Phật dùng cả hai và thường dùng chúng trong
hình thức số nhiều. Đôi khi các chữ đó được dùng cho một chúng sinh
đã đến như vậy, nghĩa là, đến trong con đường thế gian. Đến như vậy
và đi như vậy do đó có thể được dùng với hai nghĩa: “Vị đã giác
ngộ nhưng đến trong con đường thế gian,” hay “vị đến trong con đường
thế gian một cách đơn giản.”—Thus come and thus gone have practically
the same meaning. The Buddha used them both and usually in their plural
forms. Sometimes the words were used for a sentient being who thus
come, i.e., comes in the contrary way. Thus-come and Thus-gone can
therefore be used in two senses: ‘The one who is enlightened but comes
in an ordinary way’ or ‘The one who comes in an ordinary way
simply.’
d)
Bấy giờ, Chân như hay Như Lai tạng chỉ cho trạng thái chân
thật của vạn hữu trong vũ trụ, cội nguồn của một đấng giác ngộ. Khi
tĩnh, nó là tự thân của Giác Ngộ, không liên hệ gì đến thời gian và
không gian; nhưng khi động, nó xuất hiện trong hình thức loài người
chấp nhận một đường lối thế gian và sắc thái của đời sống. Trên thực
tế, Chân như hay Như Lai tạng là một, và như nhau: chân lý cứu cánh.
Trong Đại Thừa, chân lý cứu cánh được gọi là Chân như hay Như thực:
Now, Thusness or the Matrix of Thus-come or Thus-gone means the true
state of all things in the universe, the source of an Enlightened
One, the basis of enlightenment. When static, it is Enlightenment
itself, with no relation to time or space; but, when dynamic, it is
in human form assuming an ordinary way and feature of life.
Thusness and the Matrix of Thus-come are practically one and the same,
the ultimate truth. In Mahayana the ultimate truth is called Suchness
or Thusness.
e)
Chân như trong ý nghĩa tĩnh của nó thì phi thời gian, bình
đẳng, vô thủy vô chung, vô tướng, không sắc, bởi vì bản thân sự vật
mà không có sự biểu lộ của nó thì không thể có ý nghĩa và không bộc
lộ. Chân như trong ý nghĩa động của nó có thể xuất hiện dưới bất cứ
hình thức nào. Khi được điều động bởi một nguyên nhân thuần tịnh,
nó mang hình thức thanh thoát; khi được điều động bởi một nguyên nhân
ô nhiễm, nó mang hình thức hủ bại. Do đó chân như có hai trạng thái:
tự thân chân như, và những biểu lộ của nó trong vòng sống và chết:
We are now in a position to explain the Theory of Causation by Thusness.
Thusness in its static sense is spaceless, timeless, all-equal, without
beginning or end, formless, colorless, because the thing itself without
its manifestation cannot be sensed or described. Thusness in its dynamic
sense can assume any form ; when driven by a pure cause it takes a
lofty form; when driven by a tainted cause it takes a depraved form.
Thusness, therefore, is of two states. The one is the Thusness itself;
the other is its manifestation, its state of life and death.
4)
Pháp Giới Duyên Khởi—Causation by the Universal Principle:
a)
Pháp giới (Dharmadhatu) có nghĩa là những yếu tố của nguyên
lý và có hai sắc thái—Dharmadhatu means the elements of the principle
and has two aspects:
·
Trạng thái chân như hay thể tánh: The state of Thusness
or noumenon.
·
Thế giới hiện tượng: The world of phenomenal manifestation.
b)
Tuy nhiên trong Pháp Giới Duyên Khởi, người ta thường dùng
theo nghĩa thứ hai, nhưng khi nói về thế giới lý tưởng sở chứng, người
ta thường dùng nghĩa thứ nhất: In this causation theory it is usually
used in the latter sense, but in speaking of the odeal world as realized,
the former sense is to be applied.
c)
Đạo Phật chủ trương rằng không có cái được tạo độc nhất và
riêng rẻ. Vạn hữu trong vũ trụ, tâm và vật, khởi lên đồng thời; vạn
hữu trong vũ trụ nương tựa lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và do đó
tạo ra một bản đại hòa tấu vũ trụ của toàn thể điệu. Nếu thiếu một,
vũ trụ sẽ không toàn vẹn; nếu không có tất cả, cái một cũng không.
Khi toàn thể vũ trụ tiến tới một bản hòa âm toàn hảo, nó được gọi
là nhất chân pháp giới, vũ trụ của cái “Một” hay cái “Thực,” hay “Liên
Hoa Tạng.” Trong vũ trụ lý tưởng đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong hòa
điệu toàn diện, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của
các hữu khác: Buddhism holds that nothing was created singly or individually.
All things in the universe, matter and mind, arose simultaneously,
all things in it depending upon one another, the influence of each
mutually permeating and thereby making a universal symphony of harmonious
totality. If one item were lacking, the universe would not be complete;
without the rest, one item cannot be. When the whole cosmos
arrives at a harmony of perfection, it is called the ‘Universe One
and True,’ or the ‘Lotus Store.’ In this ideal universe all beings
will be in perfect harmony, each finding no obstruction in the
existence and activity of another.
d)
Mặc dù quan niệm viên dung và đồng khởi là vũ trụ, nó là một
thuyết Pháp Giới Duyên Khởi, bản tính của hiện khởi là vũ trụ, nó
là một thứ triết lý về toàn thể tính của tất cả hiện hữu, hơn là triết
học về nguyên khởi: Although the idea of the interdependence and simultaneous
rise of all things is called the Theory of Universal Causation, the
nature of the rise being universal, it is rather a philosophy
of the totality of all existence than a philosophy of origination.
·
See Bốn Loại Vũ Trụ.
·
See Mười Lý Do Vạn Hữu Hòa Điệu Trong Pháp Giới Duyên
Khởi.
** For more
information, please see Tứ
Duyên Sanh.
Duyên Khởi Chư Pháp,
Căn Bản Vi
Tâm Pháp: Duyên
Khởi Chư Pháp Chi căn Bổn Giả Vi Tâm Pháp—Chư pháp tùng tâm khởi.
Hai trường phái Hiển và Mật giáo có những giải thích khác nhau—The
root of all phenomena is mind. The exoteric and esoteric schools differ
in their interpretation:
1)
Hiển giáo cho rằng Tâm pháp là vô sắc vô hình—The exoterics
hold that mental ideas or things are unsubstantial and invisible.
2)
Mật giáo lại cho rằng Tâm Pháp hữu sắc hữu hình—The esoterics
hold that mental ideas have both substance and form.
** For more information,
please see
Tâm Pháp.
Duyên Khởi Kệ:
Duyên Khởi Pháp Tụng—Bài kệ văn của ba trong bốn đế hay giáo lý căn
bản của đạo Phật, theo Trí Độ Luận (bài kệ nầy thường được đặt dưới
các nền chùa hay bên trong hình tượng Phật)—The gatha of three of
the four dogmas of Buddhism according to the Sastra on the Prajna
Sutra (usually placed in the foundations of pagodas and inside of
images of Budhas):
a)
Khổ Đế: All is suffering.
b)
Tập Đế: Suffering is intensified by desire.
c)
Diệt Đế: Extinction of desire is practicable.
Duyên Khởi Pháp:
Pratitya-samutpada (skt)—The twelve nidanas—See Thập Nhị Nhân Duyên.
Duyên Khởi Pháp Tụng:
See Duyên Khởi Kệ.
Duyên Kiếp: Predestined
affinity.
Duyên Lự Tâm:
Lự Trí Tâm—Tâm dính líu vào cảnh giới, suy nghĩ về sự vật hay tám
loại tâm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, ý căn, a lại da)—The
rational cogitating mind or eight kinds of consciousness (eye,
ear, tongue, body, mind, mana, alaya, etc).
Duyên Lực: Pratyaya-bala
(skt)—Sức trợ duyên từ những điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài, đối
lại với nhân lực hay nguyên nhân trực tiếp—The environmental or secondary
force (the power of the conditioning cause, circumstance, or contributing
environement), in contrasted with the causal force or direct
cause (nhân lực).
Duyên Lý:
1)
Quan niệm hay lý luận về chân lý: To reason on fundamental
principles.
2)
Quán tưởng về chân lý tối thượng: To contemplate ultimate reality.
** For more information,
please see Duyên Sự
Duyên Lý Bồ Đề Tâm:
Tâm toàn giác về chân lý tối thượng (tất cả các pháp vốn là tịch diệt)
nên phát tâm “thượng cầu Bồ Đề, hạ hóa chúng sanh.” Đây cũng
là tâm Bồ Đề tối thượng—A mind that has a perfect understanding of
the ultimate reality; therefore, start out a vow “Above to seek bodhi,
below to save beings.” This is also the supreme bodhi-mind.
Duyên Lý Đoạn Cửu:
Suy xét chỉ Phật giới, còn thì đoạn lìa phiền não của chín giới kia—By
the consideration of the tenth realm only, i.e. the Buddha-realm,
to cut off the illusion of the nine other realms of time and sense.
** For more information,
please see Thập
Giới.
Duyên Nghiệp:
Karma-cause—Karma circumstances/condition resulting from karma.
Duyên Nhân: Những
trợ duyên hay duyên phát triển do những điều kiện bên ngoài (tất cả
gốc thiện, công đức giúp đở cho cái nhân, làm nảy sinh cái tính của
cái nhân chân chính)—A contributory or developing cause, i.e. development
of the fundamental Buddha-nature; as compared with direct or true
cause.
** For more information,
please see Nhị Nhân.
Duyên Nhân Phật Tánh:
Những trợ duyên hay sự phát triển bên ngoài giúp phát triển Phật tánh,
đối lại với Chính Nhân Phật Tánh hay chân như hay Phật tánh tự nó—Contributory
or developing cause of all undergoing development of the Buddha-nature,
in contrast with the Buddha-nature or Bhutatathata itself.
Duyên Nhật: Ngày
có duyên với cõi Ta Bà của mỗi Đức Phật—The day of the month on which
a particular Buddha or Bodhisattva is worshipped, he is being in special
charge of mundane affairs on that day (lunar calendar):
1)
Định Quang Phật: Ngày mồng một trong tháng—Dhyana-Light Buddha
on the first day of the month.
2)
Nhiên Đăng Phật: Ngày mồng hai trong tháng—Dipankara Buddha
on the second day of the month.
3)
Đa Bảo Phật: Ngày mồng ba trong tháng—Prabhutaratna on the
third day of the month.
4)
A Súc Bệ Phật: Ngày mồng bốn trong tháng—Aksobhya Buddha on
the fourth day of the month.
5)
Di Lặc Bồ tát: Ngày mồng năm trong tháng—Maitreya Bodhisattva
on the fifth of the month.
6)
Nhị Vạn Đăng Phật: Ngày mồng sáu trong tháng—Twenty Thousand-Lamp
Buddha on the sixth day of the month.
7)
Tam Vạn Đăng Phật: Ngày mồng bảy trong tháng—Thirty Thousand-Lamp
Buddha on the seventh day of the month.
8)
Dược Sư Phật: Ngày mồng tám trong tháng—Bhaisajyaraja-Samudgata
Buddha on the eighth day of the month.
9)
Đại Thông Trí Thắng Phật: Ngày mồng chín trong tháng—Mahabhijna-Jnanabhibhu
Buddha on the ninth day of the month.
10)
Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật: Ngày mồng mười trong tháng—Candra-Surya-Pradipa
Buddha on the tenth day of the month.
11)
Hoan Hỷ Phật: Ngày mười một trong tháng—Delightful Buddha—The
eleventh day of the month.
12)
Nan Thắng Phật: Ngày mười hai trong tháng—Unconquerable Buddha
on the twelfth day of the month.
13)
Hư Không Tạng Bồ Tát: Ngày mười ba trong tháng—Akasagarbha
Bodhisattva (Bodhisattva of Space) on the thirteenth day of the month.
14)
Phổ Hiền Bồ Tát: Ngày mười bốn trong tháng—Samantabhadra Bodhisattva—The
fourteenth day of the month.
15)
A Di Đà Phật: Ngày rằm trong tháng—Amitabha Buddha on the fifteenth
of the month.
16)
Đà La Ni Bồ Tát: Ngày mười sáu trong tháng—Dharani Bodhisattva
on the sixteenth of the month.
17)
Long Thọ Bồ Tát: Ngày mười bảy trong tháng—Nagarjuna Bodhisattva
on the seventeenth of the month.
18)
Quán Thế Âm Bồ Tát: Ngày mười tám trong tháng—Kuan-Yin or Avalokitesvara
Bodhisattva on the eighteenth of the month.
19)
Nhật Quang Bồ Tát: Ngày mười chín trong tháng—The Sun-Light
Bodhisattva on the nineteenth of the month.
20)
Nguyệt Quang Bồ Tát: Ngày hai mươi trong tháng—The Moon-Light
Bodhisattva on the twentieth of the month.
21)
Vô Tận Ý Bồ Tát: Ngày hai mươi mốt trong tháng—Infinite Resolve
Bodhisattva on the twenty-first day of the month.
22)
Thí Vô Úy Bồ Tát: Ngày hai mươi hai trong tháng—Abhayandada
Bodhisattva on the twenty-second day of the month.
23)
Đắc Đại Thế Chí Bồ Tát: Ngày hai mươi ba trong tháng—Mahasthamaprapta
Bodhisattva on the twenty-third day of the month.
24)
Địa Tạng Bồ Tát: Ngày hai mươi bốn trong tháng—Earth-Store
Bodhisattva on the twenty-fourth of the month.
25)
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Ngày hai mươi lăm trong tháng—Manjusri
Bodhisattva on the twenty-fifth of the month.
26)
Dược Thượng Bồ Tát: Ngày hai mươi sáu trong tháng—Supreme Bhaisajyaraja-samudgata
Bodhisattva on the twenty-sixth day of the month.
27)
Lư Già Na Phật: Ngày hai mươi bảy trong tháng—Vairocana Buddha
on the twenty-seventh day of the month (same as in #28).
28)
Đại Nhật Như Lai: Ngày hai mươi tám trong tháng—Vairocana Buddha
on the twenty-eighth of the month (same as in #27).
29)
Dược Vương Bồ Tát: Ngày hai mươi chín trong tháng—Bhaisajyaraja-samudgata
Bodhisattva on the twenty-ninth day of the month.
30)
Thích Ca Mâu Ni Phật: Ngày ba mươi trong tháng—Sakyamuni Buddha
on the thirtieth of the month.
Duyên Niệm: Duyên
Tưởng—Tư tưởng khởi lên từ ngoại cảnh—Thoughts arising from environment.
Duyên Nợ: See
Duyên Phận.
Duyên Phá Hoại:
Destructive conditions.
Duyên Phận: Karma
of previous lives have brought two persons together.
Duyên Phật: Thân
nhân hay bằng hữu quá cố thì gọi là duyên Phật—A deceased relative
or friend.
Duyên Quán:
1)
Sự và lý: The phenomenal and noumenal.
2)
Vật được quán sát và sự quán sát: The observed and the observing.
3)
Khách và chủ thể: The object and the subject.
Duyên Sinh: Pratiyasamutpada
(skt)—Paticcasamuppada (p)—Duyên Khởi (lấy nhân mà gọi tên—which are
named by the causes)—Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên hay điều
kiện mà sanh ra (lấy quả mà gọi tên)—All things are produced by causal
conditions (or conditional causation which are name by the effects,
or following from anything as necessary result).
** For more information,
please see Tứ Duyên
Sinh and Duyên Khởi.
Duyên Sự: Cái
tâm duyên (nương) theo sự tướng, đối lại với duyên lý (tin vào sự
tướng nhân quả báo ứng là duyên sự; tin vào diệu lý của pháp tính
phi nhân phi quả là duyên lý); như thiền quán về hóa thân và báo thân
đối lại với pháp thân—To lay hold of, or study things or phenomena,
in contrast to principles or noumena; or meditation on the Buddha’s
nirmanakaya, and sambhogakaya, in contrast with the dharmakaya.
Duyên Sự Bồ Đề Tâm:
Tâm Bồ Đề nguyện lấy Tứ Hoằng Thệ Nguyện làm chính bổn nguyện của
mình để cứu độ chúng sanh—A mind that vows to take the four universal
vows of a Buddha or a Bodhisattva to be one’s own original vows to
save all sentient beings—See Tứ Hoằng Thệ Nguyện.
Duyên Tâm: Cái
tâm nương duyên vào sự vật—The conditioned mind or the mind held by
the phenomenal.
Duyên Thành:
Bất cứ thứ gì cũng do duyên mà hình thành chứ không có tự tính—The
phenomenal, whatever is produced by causal conditions.
Duyên Thuận:
Favorable conditions.
Duyên Trần: Gunas
(skt)—The qualities or sense-data which cause the six sensations of
form, sound, odour, taste, touch, and thought.
Duyên Trung:
Cảnh trí hay ý tưởng mà tâm nương theo hay tập trung vào—The place
or idea on which the mind is centralized.
Duyên Tướng:
Tâm—Trạng thái của tâm duyên vào cảnh giới—Mentality—Reasoning—The
Mind.
Duyên Tưởng:
See Duyên Niệm.
Duyên Vô Gián:
An immediate cause—A cause without interval.
Duyệt:
1)
Duyệt xét: To examine—To review—To inspect—To look over.
2)
Vui vẻ: Please—Pleased.
Duyệt Chúng:
1)
Làm cho mọi người vui vẻ vừa lòng: To please all.
2)
Tri Sự: Karmadana (skt)—Tên của vị tri sự trong tự viện—Name
for the manager of affairs in a monastery—See Tri Sự.
Duyệt Đầu Đàn:
Suddhodana (skt)—Thủ Đô Đà Na—Tịnh Phạn Vương (the father of Gautama
Siddhartha—vua cha của Đức Phật).
Duyệt Lạc: Pleasant.
Duyệt Lãm: To
read over.
Duyệt Mục: Pleasant
to (see) the eyes.
Duyệt Nhĩ: Pleasant
to (hear) the ears.
Duyệt Tạng: Khảo
cứu hết thảy kinh điển hay thư viện—To examine (and dust) the scriptures
or library.
Duyệt Tâm: Content—Satisfied.
Duyệt Xoa: See
Yaksa.
Duyệt Y: To review
and approve.
Dư: Dư thừa—Superfluous—Spare—Residual—Remains—Remainder—The
rest—Surplus—The other.
Dư Âm: Echo.
Dư Cam Tử: Amraphala
(skt)—Quả Am Ma Lạc Ca, mọc nhiều ở Quảng Châu và Ấn Độ, dùng làm
xà bông gội đầu—The fruit of amraphala, grown in Kuang-Chou and India,
used as a shampoo.
Dư Giả: Plentiful.
Dư Hàng: Tên
khác của Phúc Lâm Tự, tọa lạc tại phường Hồ Nam, quận Lê Chân, tỉnh
Hải Phòng, Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo tin rằng chùa
được xây dựng về đời nhà Trần vào cuối thế kỷ thứ 13. Năm 1672 quan
Đô Úy Nguyễn Đình Sách từ quan về trùng tu và tu tại chùa nầy. Đến
đời vua Thành Thái, Hòa Thượng Thông Hạnh trùng tu và xây tháp
chuông năm 1899. Năm 1917, chùa được trùng tu lần nữa. Trong chùa
có nhiều pho tượng lớn và đẹp, với nhiều câu đối chạm khắc công phu
nghệ thuật Nguyễn Triều. Chùa còn giữ được nhiều di vật quý như đỉnh
đồng, khánh đồng. Ngoài vườn chùa có chín tháp mộ, trong đó có nhóm
tháp “Trúc Lâm Tam Tổ.”—Another name for Phúc Lâm Tự, located Hồ Nam
quarter, Lê Chân district, Hải Phòng province. Some Buddhist researchers
believed it was built in the late thirteenth century in the Trần dynasty.
In 1672, Madarin Nguyễn Đình Sách, resigned from his post, rebuilt
Dư Hàng Temple, and stayed there to practise Buddha’s Dharma for the
rest of his life. In the Thành Thái dynasty, Most Venerable Thông
Hạnh rebuilt the temple and built the bell tower in 1899. In 1917
it was rebuilt one more time. In the temple, there are many big, beautiful
statues and a lot of symmetrical sentences (câu đối) painstakingly
carved, following the art style of the Nguyễn dynasty. One can also
find a lot of precious vestiges like caudrons, gongs all made of bronze.
In the temple garden stand nine tomb stupas, including a group of
stupas named “The Three Trúc Lâm Patriarchs.”
Dư Hưởng: Last
echo.
Dư Khoản: Surplus
of money.
Dư Luận: Public
opinion.
Dư Lực: Excess
of strength.
Dư Niệm: Tán
niệm hay niệm không tập trung—Divided thoughts—Inattentive.
Dư Niên: Declining
years of one’s life.
Dư Tập: Dư Khí—Tàn
Tập—Tập Khí—Dù đã dứt hẳn dục vọng phiền não nhưng tàn dư tập khí
hay thói quen vẫn còn, chỉ có Phật mới có khả năng dứt sạch chúng
mà thôi (theo Đại Trí Độ Luận, các vị A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác,
tuy đã phá được ba món độc, nhưng phần tập khí của chúng còn chưa
hết, ví như hương ở trong lò, tuy đã cháy hết rồi nhưng khói vẫn còn
lại, hay củi dù đã cháy hết nhưng vẫn còn tro than chưa nguội. Ba
món độc chỉ có Đức Phật mới vĩnh viễn dứt trừ hết sạch, không còn
tàn dư)—The remnants of habits which persist after passion has been
subdued, only the Buddha can eliminate or uproot them all.
Dư Thừa: See
Dư Tông.
Dư Thặng: Superfluous.
Dư Tông: Các
tông phái khác với tông phái của chính mình—Other schools; other vehicles,
i.e. other than one’s own.
Dư Vật: Rest—Remnant—Superfluous.
Dư Vị: After-taste.
Dữ: Wicked—Fierce—Wild.
Dữ Dội: Violent—Terrible.
Dữ Kiện: Data.
Dữ Tợn: Cruel—Fierce—Ferocious.
Dự:
1)
Dự phòng: Provided for—Beforehand.
2)
Sắp xếp: Arranged.
Dự Án: Draft.
Dự Bị: Preparatory—To
make ready.
Dự Di Quốc: Yami
(skt)—Thế giới của ma vương, nơi không có Phật—The land or state of
Yama, where is no Buddha.
Dự Đoán: Dự liệu—To
predict—To forecast—To foresee.
Dự Giác: Forewarning—Consciousness.
Dự Khuyết: Substitute.
Dự Kiến: Preconceived
idea.
Dự Liệu: To forecast—To
foresee.
Dự Luật: Bill.
Dự Lưu: Stream
entry—Stream-winner—Còn gọi là Tu Đà Hườn, Nhập Lưu, Thốt Lộ Đa A
Bán Na—Quả thứ nhất trong Tiểu Thừa tứ Thánh Quả, hàng Thanh Văn thừa
đã dứt bỏ hết kiến hoặc của tam giới thì gọi là “Dự Lưu”—According
with the streamof holy living, the srota-apanna disciple of the sravaka
stage, who has overcome the illusion of the seeming, the first stage
in Hinayana—See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and
Dư Lưu Thánh Đệ Tử in Vietnamese-English Section.
Dự Lưu Thánh Đệ Tử:
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Veludvara, Phật đã dạy về Dự Lưu Thánh
Đệ Tử—In The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Veludvara,
the Buddha taught about a noble stream-enterer: “Vị Thánh đệ tử đã
thành tựu bốn pháp là vị “dự lưu,” không còn bị thoái đọa, quyết chắc
chứng quả giác ngộ—A noble disciple who possesses four things is a
stream-enterer, no longer bound to the nether world, fixed in destiny,
with enlightenment at his destination.”
1)
Vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật:
He possesses confirmed confidence in the Buddha.
2)
Vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin với Pháp: He possesses confirmed
confidence in the Dharma.
3)
Vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin nơi Tăng: He possesses confirmed
confidence in the Sangha.
4)
Vị ấy sống ở gia đình, với tâm gột sạch mọi cấu uế xan tham.
Vị ấy luôn bố thí, bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, thích được nhờ
cậy, thích thú chia xẻ vật được bố thí: Whatever there is in his family
that is suitable for giving, all that he shares universally among
those who are virtuous and of good character.
Dự Mưu: Scheme
conceived beforehand.
Dự Ngôn: Prediction—Prophecy.
Dự Phần: To have
a share—To participate in.
Dự Phòng: To
prevent—To take preventive measures.
Dự Thảo: To draft.
Dự Thi: To take
the exam.
Dự Thính: To
attend a lecture.
Dự Tính: To plan—To
project—To calculate.
Dự Trù: To provide
for.
Dự Trữ: To stock.
Dự Ước: Preliminary
agreement.
Dự Vào: To take
part—To participate.
Dựa Trên: To
found on.
Dựa Vào: To lean
on.
Dực: Cái cánh—A
wing.
Dưng: To offer.
Dừng: Trong triết
lý nhà Phật, thì dòng tâm thức tuôn chảy không thể bị ngừng hay bị
cản trong dòng suy tưởng. Hãy để cho tâm không trụ vào đâu. Lý tưởng
nhứt là đi trên mọi chướng ngại—To stop—To halt—Stopping—In
Buddhist philosophy, the mind must forever flow and never be “stopped”
or “blocked” in a thought. Let the mind abide nowhere. The ideal is
to walk on through all problems and situations.
Dừng Bút: To
stop writing.
Dửng Dưng: To
be indifferent.
Dựng Đứng Câu Chuyện:
To make up (raise up or fabricate) a story.
Dựng Tóc Gáy:
To make one’s hair stand on end.
Dược: Thuốc—Medicine—Chemicals.
Dược An Sơn Quốc
Thiền Sư: Yueh-An-Shan-Kuo Zen master 1079-1152.
·
Thiền sư thuộc dòng Dương Kỳ phái Lâm Tế, là môn đồ
và người kế vị Pháp với Đạo Ninh Thiền Sư—Yueh-An-Shan-Kuo, Chinese
Zen master of the Yogi lineage of Linn-Chih Zen, a student and Dharma
successor of T’ao-Ning.
·
Tên của Dược An được biết đến qua thí dụ thứ tám trong
Vô Môn Quan—Master Yueh-An was known in example 8 of the Wu-Men-Kuan.
Dược Châu Thiền Sư:
Yueh-Chou Zen Master.
·
Thiền sư đời Đường, môn đồ và người kế vị Pháp của Thiền
sư Động Sơn Lương Giới—Yueh-Chou, Chinese Zen master of the T’ang
dynasty, a student and Dharma successor of T’ung-Shan-Liang-Chieh.
·
Tên của ngài được nhắc đến trong thí dụ thứ 48 của Vô
Môn Quan—Yueh-Chou was known in example 48 of the Wu-Men-Kuan.
Dược Lâm Thiền Sư:
Yueh-Lin 1143-1217—Dược Lâm thuộc dòng Dương Kỳ của phái Lâm Tế, thầy
của Vô Môn Tuệ Khai—Yueh-Lin, Chinese Zen master of the Yogi lineage
of Lin-Chih, master of Wu-Men-Hui-K’ai.
Dược Sơn Duy Nghiễm:
Dược Sơn Duy Nghiễm (745-828 hay 750-834), quê ở Ráng Châu, nay thuộc
tỉnh Sơn Tây—Yueh-Shan-Wei-Yen 745-828 or 750-834. He came from ancient
Jiang-Chou, now is in Shan-Xi province.
·
Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, môn đồ và là người kế
vị Pháp với Thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, thầy của Đạo Ngộ Viên Trí
và Vân Nham Đàm Thạnh—Chinese Zen master, a student and Dharma successor
of Shih-T’ou-Hsi-T’ien, master of Tao-Wu-Yuan-Chih and Yun-Yen-Tan-Sheng.
·
Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Dược Sơn rời gia đình
cha mẹ lúc 17 tuổi. Ngài được thọ cụ cúc giới năm 774 với Luật Sư
Hy Tháo. Ngài là một trong những đệ tử xuất sắc nhất mà Thạch Đầu
Thiền Sư đã gửi tới Mã Tổ Đạo Nhất. Là một đệ tử tinh cần, Dược Sơn
tinh thông Kinh Luận, và nghiêm trì giới luật—According to the Ching-Te-Ch’uan-Teng-Lu,
Yueh-Shan left home at the age of seventeen and was fully ordained
by Vinaya master Hsi-Ts’ao in 774. He was one of the most prominent
disciples referred to Ma-Tsu T’ao-I by Shih-T’ou. As an earnest disciple,
Yueh-Shan mastered the sutras and sastras and strictly adhered to
the Vinaya.
·
Sau đó sư tìm đến gặp Hy Thiên Thạch Đầu và hỏi: “Đối
Tam thừa thập nhị kinh, con còn hiểu biết thô sơ, đến như thường nghe
phương nam nói ‘chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật,’ thật con
mù tịt. Vì thế con đến cúi mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy”—Later, Yueh-Shan
went to Shih-T’ou Hsi-T’ien’s place. He asked: “I have a general understanding
of the three vehicles and the twelve divisions of scriptures. Now
I want to find out about ‘the southern teaching of pointing directly
at mind, seeing self-nature, and becoming a Buddha.’ Truly,
I am not clear about this teaching and therefore, I come and ask for
the master’s compassionate instruction.”
·
Thiền sư Hy Thiên bảo: “Thế ấy cũng chẳng được, không
thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi
làm sao?”—Shih-T’ou said: “You can’t attain it this way. You can’t
attain it not this way. Trying to attain it this way or not this way,
it can’t be attained. So what will you do?”
·
Thiền sư Hy Thiên lại bảo thêm: “Khi con nói, ‘đây là
cái nầy, con đã đứng sang một bên rồi.’ Là cái nầy hay không phải
cái nầy, bao giờ con cũng đứng về một bên. Có phải thế không?”—Shih-T’ou
added: “When you say, ‘It is this, then you miss it.’ This and not-this,
both miss it. What do you think?”
·
Dược Sơn mờ mịt không hiểu—Yueh-Shan was confused.
·
Thạch Đầu bảo: “Nhơn duyên của ngươi không phải ở đây,
hãy đến chỗ Mã Tổ Đạo Nhất.”—Shih-T’ou then said: “Your affinity is
not at this place. Go to Master Ma-Tsu-T’ao-I’s place.”
·
Dược Sơn vâng lệnh đến yết kiến Mã Tổ. Sư thưa lại câu
đã thưa với Thạch Đầu—Yueh-Shan went and paid his respects to Ma-Tsu
in accordance with Shih-T’ou’s instructions. He then posed the same
question to Ma-Tsu that he had previously presented to Shih-T’ou.
·
Mã Tổ bảo: “Ta có khi dạy y nhướng mày chớp mắt, có
khi không dạy y nhướng mày chớp mắt; có khi nhướng mày chớp mắt là
phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?”—Ma-Tsu
said: “Sometimes I teach it by raising my eyebrows and blinking my
eyes. Sometimes I don’t teach it by raising my eyebrows and blinking
my eyes. Sometimes raising my eyebrows and blinking my eyes is it,
sometimes raising my eyebrows and blinking my eyes isn't it. So
what will you do?”
·
Ngay câu nói nầy, Dược Sơn liền khế ngộ, bèn lễ bái—At
these words, Yueh-Shan was enlightened. He then bowed to Ma-Tsu.
·
Mã Tổ lại hỏi: “Ngươi lấy đạo lý gì lễ bái?”—Ma-Tsu
asked: “What principle have you observed that makes you bow?”
·
Dược Sơn thưa: “Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu
trên trâu sắt.”—Yueh-Shan said: “When I was at Shih-T’ou’s place,
it was like a mosquito on an iron bull.”
·
Mã Tổ bảo: “Ngươi đã biết như thế, tự khéo gìn giữ.”—Ma-Tsu
said: “Since you are thus, uphold and sustain it well.”
·
Dược Sơn ở đây hầu Mã Tổ ba năm—Yueh-Shan stayed there
to serve as Ma-Tsu’s attendant for three years.
·
Một hôm Mã Tổ hỏi Dược Sơn: “Ngày gần đây chỗ thấy của
ngươi thế nào?”—One day Ma-Tsu asked Yueh-Shan: “What have you seen
lately?”
·
Dược Sơn thưa: “Da mỏng da dầy đều rớt sạch, chỉ có
một chơn thật.”—Yueh-Shan said: “Shedding the skin completely, leaving
only the true body.”
·
Mã Tổ bảo: “Sở đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp
hết tứ chi. Đã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy chỗ
ở núi đi.”—Ma-Tsu said: “Your attainment can be said to be in accord
with the mind-body, spreading through its four limbs. Since it’s like
this, you should bind your things to your stomach and go traveling
to other mountains.”
·
Dược Sơn thưa: “Con là người gì dám nói ở núi?”—Yueh-Shan
said: “Who am I to speak of being head of a Zen mountain?”
·
Mã Tổ bảo: “Chẳng phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng
đứng, chưa có thường đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi
ích, muốn làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây lâu.”—Ma-Tsu
said: “That’s not what I mean. Those who haven’t gone on a long pilgrimage
can’t reside as an abbot. There’s no advantage to seeking advantage.
Nothing is accomplished by seeking something. You should go on a journey
and not remain in this place.”
·
Dược Sơn từ giả Mã Tổ trở về Thạch Đầu—Yueh-Shan then
left Ma-Tsu and returned to Shih-T’ou.
·
Một hôm sư ngồi trên tảng đá, Thạch Đầu trông thấy bèn
hỏi: “Ngươi ở đây làm gì?” Sư thưa: “Tất cả chẳng làm.” Thạch Đầu
lại hỏi: “Tại sao ngồi nhàn ở đây?” Sư thưa: “Ngồi nhàn rỗi tức làm.”
Thạch Đầu lại hỏi: “Ngươi nói chẳng làm, là chẳng làm cái gì?” Sư
thưa: “Ngàn Thánh cũng không biết.” Thạch Đầu dùng kệ khen:
Tùng
lai cộng trụ bất tri danh
Nhậm
vận tương tương chỉ ma hành
Tự
cổ thượng hiền du bất thức
Tạo
thứ phàm lưu khởi khả minh
(Chung
ở từ lâu chẳng biết chi
Lặng
lẽ theo nhau chỉ thế đi
Thượng
hiền từ trước còn chẳng biết
Huống
bọn phàm phu đâu dễ tri).
One
day, as Yueh-Shan was sitting, Shih-T’ou asked him: “What are you
doing here?” Yueh-Shan said: “I am not doing a thing.” Shih-T’ou said:
“Then you’re just sitting leisurely.” Yueh-Shan said: “If I were sitting
leisurely, I’d be doing something.” Shih-T’ou said: “You say
you’re not doing anything. What is it that you’re not doing?” Yueh-Shan
said: “A thousand sages don’t know.” Shih-T’ou then wrote a verse
of praise that said:
Long abiding together, not knowing its
name,
Just going on, practicing like this,
Since ancient times the sages don’t
know.
Will searching everywhere now make
it known.
·
Thạch Đầu dạy: “Nói năng động dụng chớ giao thiệp.”
Sư thưa: “Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.” Thạch Đầu
nói: “Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.” Sư thưa: “Con trong
ấy như trồng hoa trên đá.” Thạch Đầu ấn khả—Later Shih-T’ou offered
an instruction, saying, “Words do not encroach upon it.” Yueh-Shan
said, “No words does not encroach upon it.” Shih-T’ou said, “Here,
I can stick a needle to it.” Yueh-Shan said, “Here, is like I am growing
flowers on a bare rock.” Shih-T’ou approved Yueh-Shan’s answer.
·
Về sau sư đến ở chỗ Dược Sơn Lễ Châu, đồ chúng theo
học rất đông—Later the masterlived on Mount Yueh Li-Chou, and a sea
of disciples assembled there.
·
Ngày kia một ông viện chủ thỉnh sư thượng đường thuyết
pháp. Tăng chúng hội đông đủ. Sư im lặng giây lâu rồi hạ đường, trở
vào phương trượng đóng cửa lại. Viện chủ vào hỏi: “Hòa Thượng hứa
nói pháp sao bây giờ vào phương trượng?” Dược Sơn nói: “Viện chủ,
kinh thì có ông thầy kinh, luận thì có ông thầy luận, luật thì có
ông thầy luật. Còn trách lão Tăng nỗi gì?”—One day when Yueh-Shan
was asked to give a lecture, he did not say a word, but instead came
down from the pulpit and went off to his room. The abbot came to his
room and asked: “Master, you promised to preach, why you are in your
room?” Yueh-Shan said: “Abbot, in the temple, when talking about sutras,
you have the acarya; talking about commentaries, you have an Abhidharma
specialist; talking about the law, you have a Vinaya specialist. Why
do you blame on me?”
·
Vào tháng hai năm 834, khi sắp thị tịch, sư kêu to:
“Pháp đường ngã! Pháp đường ngã!” Đại chúng đều mang cột đến chống
đở. Sư khoát tay bảo: “Các ngươi không hiểu ý ta.” Sư bèn từ giả chúng
thị tịch, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ. Đồ chúng xây tháp thờ sư bên phía
đông tự viện. Vua sắc phong là Hoàng Đạo Đại Sư, tháp hiệu Hóa Thành—In
the second month of the year 834, Zen master Yueh-Shan called out,
“The Dharma hall is collapsing! The Dharma hall is collapsing!” The
monks grabbed poles and tried to prop up the Dharma hall. Yueh-Shan
lifted his hand and said, “You don’t understand what I mean,” and
passed away. The master was eighty-four years old and had been a monk
for sixty years. His disciples built his memorial stupa on the east
side of the hall. He received the posthumous name “Great Teacher Vast
Way.” His stupa was named “Transforming City.”
Dược Sư: See
Dược Sư Phật and Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức in Appendix A (4).
Dược Sư Phật:
Bhaisajya-Guru-vaidurya-prabhasa (skt)—Bề Sát Xã Lũ Lô—Dược Sư Lưu
Ly Quang Như Lai—Đại Y Vương Phật—Y Vương Thiện Thệ—Phật Dược Sư Lưu
Ly Quang, giáo chủ của nước Tịnh Lưu Ly ở phương đông, có khả năng
chữa lành bá bệnh cho chúng sanh, kể cả bệnh vô minh hay ngu si (theo
Kinh Dược Sư, Đức Phật Thích Ca bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng từ đây
đi sang phương đông qua mười muôn cõi Phật, có một thế giới gọi là
Tịnh Lưu Ly, có Đức Phật hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nầy
Văn Thù Sư Lợi, khi Đức Phật Dược Sư còn là vị Bồ Tát, ngài đã phát
12 đại nguyện lớn, khiến cho các loại hữu tình cầu sao được vậy).
Hình tượng của Ngài thường được đặt bên trái của Đức Thích Ca Mâu
Ni Phật. Xuất xứ của Ngài chưa được biết rõ, nhưng có nhiều kinh liên
hệ tới ngài—The Buddha of Medicine, who heals all diseases, including
the disease of ignorance. His image is often at the left of Sakyamuni
Buddha’s, and he is associated with the east. The history of this
personification is not yet known, but there are several sutras relating
to him. When he was a Bodhisattva, he initiated 12 great vows
to cause living beings to obtain what they wish.
Dược Sư Tam Tôn:
Gồm ba vị tôn quý, Phật Dược Sư ở giữa, bên trái (tả trợ) là Nhật
Quang Biến Chiếu Bồ Tát, bên phải (hữu trợ) là Nguyệt Quang Biến Chiếu
Bồ Tát—The three honoured doctors, with Yao-Shih in the middle, assistant
on his left is the Bodhisattva Sunlight Everywhere-Shining, assistant
on his is the Bodhisattva Moonlight Everywhere-Shining.
Dược Sư Thập Nhị
Nguyện: Bhaishajya-Guru’s Twelve Vows—See Mười Hai Lời Nguyện
Của Dược Sư Lưu Ly Quang Phật in Vietnamese-English Section.
Dược Sư Thập Nhị
Thần Tướng: See Thập Nhị Thần Minh Vương.
Dược Sư Thập Nhị
Thệ Nguyện: See Mười Hai Lời Nguyện Của Dược Sư Lưu Ly Quang Phật
in Vietnamese-English Section.
Dược Thảo: Medicine—Herbs—Medicine
plants.
Dược Thụ Vương Thân:
Bồ Tát Dược Vương (ứng hiện trong lục đạo) để cứu độ chúng sanh—The
body of form which is taken by Bhaisajyaraja Bodhisattva at any time
for healing the sick.
Dược Thượng Bồ Tát:
See Dược Vương Bồ Tát.
Dược Tửu: Medicinal
wine.
Dược Vương: Bhaisajyaraja
(skt).
Dược Vương Bồ Tát:
Bhaisajyaraja-samudgata (skt)—Hai anh em Bồ Tát Dược Vương Bồ Tát
và Dược Thượng Bồ Tát (Tinh Túc Quang và Điện Quang Minh) chuyên trì
hạnh cứu chữa bệnh cho chúng sanh (Dược Vương về sau thành Phật hiệu
là Tịnh Nhãn Như Lai, Dược Thượng Bồ Tát về sau cũng thành Phật hiệu
là Tịnh Tạng Như Lai, có thể là Tịnh Nhãn lo phần chẩn bệnh và Tịnh
Tạng lo phần trị bệnh). Dược Vương Bồ Tát cũng chính là vị đã dùng
tay làm dầu đốt cúng dường cho Phật—Bodhisattva of healing, he whose
office together with his brother , is to heal the sick. He is described
as the younger of the two brothers, the elder of whom is the Bhaisajyaraja
(the elder of the two brothers, who was the first to decide on his
career as Bodhisattva of healing and led his younger brother to adopt
the same course). They are also styled Pure-eyed and Pure-treasury,
which may indicate diagnose and treatment. He is referred to the Lotus
sutra as offering his arms a a burnt sacrifice to his Buddha.
Dược Vương Thụ:
Dược Thụ Vương—The king of healing herbs and trees.
Dược Xoa: See
Dạ Xoa.
Dưới Đất: Under
the ground.
Dưới Gốc Cây:
At the foot of a tree.
Dưới Đáy Biển:
At the bottom of the sea.
Dưới Nước: Under
the water.
Dưới Sông: In
the river.
Dương: Avi (skt).
1)
Con dê: A sheep—A goat—A ram.
2)
Dương gian: This life.
3)
Dương liễu (cây): Willow—Poplar.
4)
Dương mai (bệnh): Syphilis.
5)
Dương tính: Positive—Masculine.
6)
Sức nóng: Heat.
7)
Về phía mặt trời: The side on which the sun shines.
Dương Chi: Nhành
dương liễu, ngày xưa được dùng để làm sạch răng bằng cách nhai hay
chà xát—Willow branch, or twigs used as dantakastha, i.e. cleansing
the teeth by chewing or rubbing.
Dương Diệp: Lá
cây dương liễu. Nếu trẻ khóc thì lấy lá vàng của cây dương mà dỗ,
ví với các pháp môn phương tiện của Phật (chiếc lá dương không phải
là vàng thật, cũng như pháp môn phương tiện của Phật chỉ là phương
tiện đưa chúng sanh đến cứu cánh chứ không phải là cứu cánh)—Willow-leaves,
e.g. yellow willow leaves given to a child as golden leaves to stop
its crying, a parallel to the Buddha’s opportune methods of teaching.
Dương Giác: Sừng
dê được dùng để ám chỉ dục vọng và phiền não trên đời—A ram’s
horn is used for the passions and delusions of life.
Dương Gian: Dương
thế—The world.
Dương Kỳ Phương Hội
Phái: Yang-Qi-Fang-Hui Sect—Phái Thiền có nguồn gốc từ Thiền Sư
Trung Quốc tên Dương Kỳ Phương Hội. Đây là nhánh quan trọng nhất trong
hai nhánh thiền thoát thai từ thiền Lâm Tế sau khi Thiền sư Thạch
Sương Sở Viện thị tịch. Trong truyền thống thiền Lâm Tế người ta gọi
nó là Lâm Tế Dương Kỳ. Phái Dương Kỳ có nhiều thiền sư quan trọng,
trong đó có Vô Môn Tuệ Khai, người sưu tập bộ Vô Môn Quan. Sau nầy
các môn đệ của Vô Môn, nhất là Kakushin, đã du nhập vào Nhật Bản dòng
thiền Lâm Tế Dương Kỳ, hiện vẫn còn tồn tại. Vào cuối thời nhà Tống,
khi Thiền tông bất đầu suy thoái, dòng Lâm Tế Dương Kỳ trở thành nơi
dung hợp cho tất cả các phái Thiền khác cũng đang suy yếu và biến
mất. Dưới thời nhà Minh, Thiền hòa lẫn với Tịnh Độ nên mất đi tính
chất riêng của nó, không còn tinh thần “tâm truyền tâm” nữa—Yang-Qi-Fang-Hui,
a school of Zen originating with the Chinese Ch’an master Yang-Qi-Fang-Hui.
It is one of the two most important lineages into which the Lin-Chih
split after Shih-Shuang Ch’u-Yuan. As a traditional lineage of Lin-Chih
Zen, it is also called the Lin-Chih-Yang-Qi lineage. TheYang-Qi school
produced important Zen masters like Wu-Men-Hui-K’ai, the compiler
of the Wu-Men-Kuan, and his Dharma successor, Kakushin, who brought
the Ch’an of Lin-Chih-Yang-Qi lineage to Japan, where as Zen it still
flourishes today. As Ch’an gradually declined in China after the end
of Sung period, the Lin-Chih-Yang-Qi school became the catchment basin
for all the other Ch'an schools, which increasingly lost importance
and finally vanished. After becoming mixed with the Pure Land school
of Buddhism, in the Ming period Ch’an lost its distinctive character
and ceased to exist as an authentic lineage of transmission of the
Buddha-dharma “from heart-minf to heart-mind.”
** For more information,
please see Phương
Hội Dương Kỳ Thiền Sư.
Dương Kỳ Phương Hội
Thiền Sư: Zen master Yang-Qi-Fan-Hui—See Phương Hội Dương
Kỳ Thiền Sư.
Dương Liễu Quán Âm:
Một trong 33 vị Quán Âm, vị Quán Âm dùng nhành dương liễu làm hình
tam muội da (ý nói lấy sự mềm mại, nhu thuận mà cứu độ chúng sanh)—One
of the thirty-three Kuan-Yins, Kuan-Yin with the willow branch.
Dương Mao Trần:
1)
Hạt bụi trên đầu lông dê: The minute speck of dust that can
rest on the tip of the sheep’s hair.
2)
Số lượng bụi ở trên đầu lông dê bảy lần ít hơn số lượng bụi
ở trên đầu lông trâu—The amount of dust that can rest on the top of
a goat’s hair is seven times less than that of a cow’s hair.
Dương Quang:
1)
Ánh sáng mặt trời: The sun’s light.
2)
Tia nóng mặt trời, tạo thành hoa đốm: Sun flames, or heat,
i.e. the mirage causing the illusion of lakes.
Dương Thạch:
Chữ viết tắt của Yết Ma—An abbreviation for karma, from the radical
of the two words.
Dương Úc Cư Sĩ:
See Đại Niên Cư Sĩ.
Dương Xa: Dương
Thặng—Xe Dê—Theo Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ về nhà lửa đang cháy,
đây là một trong tam xa—According to the Lotus Sutra, chapter of Parables,
in the parable of the burning house, this is the inferior, or sravaka,
one of the three forms of Buddhism.
Dương Viêm: See
Nhiệt Thời Viêm.
Dưỡng:
1)
Nuôi dưỡng: To nourish—To rear—To support.
2)
Ngứa ngái: To itch.
Dưỡng Dục: To
bring up—To rear—To educate.
Dưỡng Đường:
Clinic—Hospital.
Dưỡng Hòa Tử:
Cây dùng để gãy lưng, một từ dùng để chỉ bùa “như ý”—A back-scratcher,
a term for a ceremonial sceptre, or a talisman.
Dưỡng Lão: To
spend one’s remaining days.
Dưỡng Mẫu: Foster
mother.
Dưỡng Phụ: Foster
father.
Dưỡng Thân: To
nourish one’s parents.
Dưỡng Tử: Foster
son.
Dứt: To cease—To
end.
Dứt Bịnh: To
be cured—To recover.
Dứt Bỏ Thị Phi:
To get rid of the mind distinghing of right and wrong.
Dứt Khoát: To
settle a problem once and for all.
Dứt Tình: To
break off relationship with.
---o0o---
Mục Lục Tự điển Phật Học Việt-Anh
| A | Ba
| Be | Bi
| Bo | Bu
| Ca
| Ch
| Co
| Cu | D
|
Đa
| Đe | Đi
| Đo | Đu
|
| E
| G
| Ha | He
| Hi | Ho
| Hy | I
|
K | La | Le
| Li | Lo
| Lu | Ly
|
| Ma
| Me
| Mi | Mo
| Mu, My |Na
| Ne
| Ng | Nh
| Ni
| No
| Nu
|
| O |
Pha | Phe
| Phi | Pho
| Phu |
Q | R | S
| Ta | Te
|Tha | Thă,
Thâ |
| The | Thi
| Tho | Thu
| Ti | To
| Tr | Tu
| Ty | U
| V |
X | Y|
---o0o---
Mục Lục |
Việt-Anh | Anh -Việt | Phạn/Pali-Việt
| Phụ Lục