TỔ ĐÌNH
MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT
HỌC TỪ ĐIỂN
BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
THIỆN PHÚC
K
Kẻ
Ăn Mày: Beggar.
Kẻ
Cầu Nguyện: Those who pray by dedicating of merit or by
merit transference, or sharing one’s own merits and virtues with others.
Kẻ
Cướp: Robber .
Kẻ
Đào Thoát: An escapist.
Kẻ
Lừa Đảo: Swindler.
Kẻ
Thù: Adversary—Enemy.
Kẻ
Trộm: Burglar—Thief
Kẻ
Vạch: To get someone into trouble
Kẻ
Xấu Xa: Demon—Devil—Mara.
Kẻ
Yếu Hèn: The weak.
Kẽ
Tóc Chân Tơ: In detail.
Kém:
Less.
Kém
Quan Trọng: Of less importance.
Kén
Ăn: To be fastidious about one’s food.
Kén
Chọn: To choose—To select.
Keo:
Tên khác của chùa là Trần Quang Tự, tọa lạc tại thôn Dũng Nhuệ, xã
Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa được xây dựng năm 1608
bên bờ sông Hồng Hà, nên bị nước xoáy mòn dần. Năm 1930, Quận Công
Nguyễn Quyên đã cúng dường đất để xây lại ngôi chùa. Trong chùa có
đại hồng chung được đúc vào thời nhà Lê—Another name for Trần
Quang Tự Temple, a famous ancient temple, located in Dũng Nhuệ hamlet,
Duy Nhất village, Vũ Thư district, Thái Bình province. It was built
in 1608 by the bank of the Red River, so it has gradually been
eroded. In 1930, Duke Nguyễn Quyên donated his own land for rebuilding
the temple. The great bell of the temple cast during the Lê dynasty.
Keo
Kiệt: Stingy—Misery.
Kê:
1)
Con gà: Kukkuta (skt)—A cock—A fowl—Chicken—Hen.
2)
Kê cứu: To investigate.
3)
Kê đầu kỉnh lễ: To prostrate oneself.
Kê
Cẩu Giới: Ngoại đạo vùng Bắc Ấn, có loại trí thủ kê giới,
cẩu giới, kê thì suốt ngày đứng một chân, cẩu thì ăn phân nhơ bẩn—Heterodox
sects in northern India follow cock or dog discipline, e.g. standing
on a leg all day, or eating ordure, like certain ascetics.
Kê
Dẫn Bộ: Gokulikas, Kukkulikas, Kukkutikas, or Kaukkutikas
(skt)—Một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, còn gọi là Khôi Sơn Trụ Bộ, Quật
Cự Bộ, Cao Câu Lê Ca Bộ, một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, thành lập
khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập diệt và biến mất ngay sau đó—One
of the twenty Hinayana branches, a branch of the Mahasanghikas which
established around 200 years after the Buddha’s nirvana and early
disappeared.
Kê
Độc: Thân Độc—India—Hindu.
Kê
Khai: To enumerate—To make a list.
Kê
Khương Na: Kikana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật
Học Từ Điển, Kê Khương Na là một dân tộc ở A Phú Hãn, trú ngụ khoảng
giữa miền đông Kandhar và miền nam Ghazna, vào khoảng những năm 630
sau Tây Lịch được cai trị bởi những vị lãnh chúa độc lập, có lẽ theo
niên kỷ của Ả Rập đây là dân tộc Kykanan—According to Eitel in The
Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kikana is a people in
Afghanistan, east of Kandahar, south of Ghazna, ruled 630 A.D. by
independent chieftains, perhaps identical with the Kykanan of Arabic
chroniclers.
Kê
Quý:
1)
Người Tây Trúc gọi nước Cao Ly là Câu Câu Tra-Y Thiết La (Câu
Câu Tra là kê, Y Thiết La là quý)—Indian people called Korea by Kukkutesvara.
2)
Tôn quý loài gà: Honouring or reverencing the cock.
Kê
Tác La: Kesara (skt).
1)
Tóc hay lông: Hair.
2)
Lông bờm của sư tử: Mane of a lion.
3)
Lông quắn: Curly hair.
4)
Tên một loại bảo châu: Name of a gem.
Kê
Thủ: Phủ phục—To make obeisance by prostration.
Kê
Túc Sơn: Kukkutapada (skt).
1)
Núi Chân Gà, nơi tôn giả Ca Diếp nhập diệt ở xứ Ma Kiệt Đà,
nhưng người ta tin ngài hãy còn sống: Cock’s foot mountain, in Magadha,
on which Kasyapa entered into nirvana, but where he is still supposed
to be living.
2)
Còn gọi là núi Lang Tích (dấu chó sói): Also called the Wolf-Track.
3)
Tôn Túc Sơn: Gurupada (skt)—Buddha’s Foot Mountain.
Kê
Viên: Kukkutarama (skt)—Theo Tây Vực Ký, Kukkutarama còn
gọi là Kê Đầu Ma Tự hay Kê Tước Tự, một ngôi chùa trên núi Kê Đầu
do vua A Dục xây (ở phía đông nam cổ thành có ngôi già lam Quật Quật
Tra A Lạm Ma mà đời Đường gọi là Kê Viên, do vua Vô Ưu xây dựng. Vua
Vô Ưu tín ngưỡng Phật pháp, kính cẩn dựng chùa, chăm làm việc thiện,
chiêu tập hàng ngàn Tăng chúng)—According to The Great T’ang Chronicles
of the Western World, Kukkutarama, a monastery on the Kukkuta Mountain,
built by Asoka.
Kế:
1)
Búi tóc: Topknot—Tuft—The hair coil on top.
2)
Cỏ gai: A thistle.
3)
Kế bên: Annex.
4)
Kế thừa: To inherit—To adopt.
5)
Kế tục: Tiếp tục hay tương tục—To continue.
6)
Kế toán: Accounting—To reckon.
Kế
Bảo: Theo Kinh Pháp Hoa, “Kế Bảo” là hạt ngọc báu quý nhất
cài trên mái tóc của vị quốc vương (theo Kinh Pháp Hoa thì có một
người có công to, nhà vua bèn cởi viên minh châu cài trên tóc ban
cho, để ví với việc Đức Phật giảng thuyết Kinh Pháp Hoa cho hạng người
đã ra khỏi sinh tử phân đoạn, mà tinh tấn để lìa hẳn sinh tử biến
dịch)—According to The Lotus Sutra, this is the precious stone worn
in the coiled hair on top of the king’s head. It is the king’s most
prized possession.
Kế
Châu: See Kế Bảo.
Kế
Danh Tự Tướng: Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, đây là sự y
vào vọng chấp mà lập ra danh từ hư giả (chỉ sự suy tính so đo giữa
vật nầy với vật nọ)—According to The Awakening of Faith, this is the
stage of giving names (to seeming things, etc.).
Kế
Đô: Ketu (skt).
1)
Sao kế đô, tên của hai chòm sao nằm bên trái và phải của chòm
sao Aquila: A comet, name of two constellations to the left and right
of Aquila—See Cửu Diệu.
2)
Bất cứ vẻ sáng rực nào: Any bright appearance.
Kế
Độ: Tarka or Vitarka (skt)—Tính toán—Phân biệt—To calculate—To
differentiate—To reckon.
Kế
Hoạch: Plan.
Kế
Lợi Cát La: Kelikila (skt)—Kế Lợi Tích La—Kế Lý Kế La—Tên
của một vị Kim Cang Thủ Bồ Tát—The attendant of a deva, one of the
Vajrapanis.
Kế
Lợi Da: Surya (skt).
1)
Mặt Trời: The sun.
2)
Thần mặt trời: The sun-god.
Kế
Mẫu: Stepmother.
Kế
Ngã Thực Hữu Tông: Kế Ngã Luận—Một trong 16 tông phái ngoại
đạo. Tông nầy vọng chấp vào ngã ly uẩn và phi ngã phi ly uẩn (cho
rằng cái ta là có thực, là thường nhất; do chấp có ta nên chấp có
cuộc sống, từ đó mà sanh ra 5 cơ quan cảm giác)—The sect that reckons
on, or advocates, the reality of personality, one of the sixteen heterodox
sects.
Kế
Sinh Nhai: Means of living.
Kế
Tát La: Kesara (skt)—Tóc—Hair—Filament.
Kế
Tân: Vương quốc cổ Kế Tân, bây giờ là Kashmir, nằm về phía
tây bắc Ấn Độ—Ancient Kashmir kingdom, situated in the north-east
of India—See Kashmir in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Kế
Thừa: To inherit something from someone.
Kế
Tiếp: To succeed.
Kế
Tục: To continue—To follow.
Kế
Vị: To succeed to the throne.
Keà:
Close to—Near to.
Kể:
To count—To mention—To enumerate.
Kể
Trên: Above-mentioned.
Kể
Truyện: To tell story—To relate.
Kệ:
Gatha (skt)—Già Đà—Già Tha—Phúng Tụng (gồm bốn câu với số chữ nhứt
định trong mỗi câu)—Chant—Metrical hymn or chant—Poem—Stanza—Verse.
Kệ
Đà: Hymn—Chant—To hymn.
Kệ
Huệ Năng: The verse of Hui Neng.
Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài,
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm?
Originally Bodhi has no tree,
The bright mirror has no stand.
Originally there is not a single thing,
Where can dust alight?
Kệ
Khai Kinh: Verse for opening a Sutra.
·
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp (Phật pháp rộng sâu
rất nhiệm mầu)
The
unsurpassed, deep, profound, subtle wonderful Dharma.
·
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ (Trăm ngàn muôn kiếp khó
tìm cầu)
In
a hundred thousand million eons, it is difficult to encounter.
·
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì (Con nay nghe được xin
trì tụng)
Now
that I have come to receive and hold it, within my sight and hearing.
·
Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa (Nguyện rõ Như
Lai nghĩa nhiệm mầu)
I
vow to fathom the Thus Come One’s true and actual meaning.
Kệ
Phá Địa Ngục: Stanza that destroys hell:
Nhược
nhơn dục liễu tri.
If
people want to really know.
Tam
thế nhứt thiết Phật
All
Buddhas of all times.
Ưng
quán pháp giới tánh
They should contemplate the nature of
the cosmos.
Nhứt
thiết duy tâm tạo
All
is but mental construction
(Everything
is made from mind).
Kệ
Sám Hối: Verse of Repentance:
Từ vô thỉ con tạo bao nghiệp ác
From beginningless, I had done so
many vicious deeds
Do bởi tham, sân, si,
Only because of Greed, Anger and
Stupidity,
Từ thân, khẩu, ý mà sanh ra
They are coming from body, mouth
and mind
Nay con xin thành tâm sám hối tất cả.
Now I sincerely ask for forgiveness in my
repentance.
Kệ Tán: Dùng câu kệ tán
thán công đức của người khác—To sing in verse the praises of the object
adored.
Kệ
Tha: See Kệ.
Kệ
Thần Tú: The verse of Shen Hsiu.
Thân là cội Bồ đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
The body is a Bodhi tree,
The mind like a bright mirror stand.
Time and again brush it clean,
And let no dust alight.
Kệ
Tụng: Kệ đà—Hymn—Chant.
Kệ
Tứ Liệu Giản Của Đại Sư Vĩnh Minh: Four options or choices
from Yung Ming Master:
Có Thiền có Tịnh, như
cọp mọc sừng, đời nầy làm thầy người, đời sau làm Phật.
To practice bothe Zen
and the Pure Land, one is like a tiger with horns, in the present
life the cultivator is a teacher of man, in the future he will be
a Buddha or a patriarch.
Có Thiền không Tịnh,
mười tu chín lạc đường
To practice Zen without
the Pure Land, nine out of ten seekers of the way will take the wrong
road.
Không Thiền có Tịnh,
vạn tu vạn chứng.
To practice the Pure
Land without the Zen, ten thousand practice, ten thousand will go
to the right way.
Kệ
Tự Tánh Của Lục Tổ Huệ Năng: The verse on the Self-Nature
of the Sixth Patriarch Hui neng.
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.
How unexpected!
The self-nature is pure in itself.
The self-nature is orginally neither produced nor destroyed.
The self-nature is originally complete in itself.
The self-nature is originally without movement,
The self-nature can produce the ten thousand
dharmas.
Kệ
Vô Tướng Của Lục Tổ Huệ Năng: No-Mark Stanza from Hui-Neng
Patriarch—Lục tổ muốn nhắc nhở người tu không nên tìm lỗi người, vì
càng dùng thời gian để tìm lỗi người chúng ta càng xa đạo—Patriarch
Hui-neng wanted to remind the cultivators try not to see anybody’s
faults, but our own because the more time we spend to find other people’s
faults the farther we are away from the Path:
·
Nhược kiến tha nhơn phi (nếu là bậc chân tu, chúng ta
không bao giờ thấy lỗi đời)
He
who treads the path in earnest, see not the mistake of the world.
·
Tự phi khước thị tả (Nếu như thấy lỗi người, mình chê
thì mình cũng là kém dỡ)
If
we find faults with others, we ourselves are also in the wrong.
·
Tha phi ngã bất phi (Người quấy ta đừng quấy).
When
other people are in the wrong, we should ignore it.
·
Ngã phi tự hữu quá (Nếu chê là tự ta đã có lỗi).
For
it is wrong for us to find faults.
·
Đản tự khước phi tâm.
By
getting rid of the habit of fault-finding,
·
Đả trừ phiền não phá (Muốn phá tan phiền não).
We
cut of a source of defilement.
·
Tắng ái bất quan tâm (Thương ghét chẳng để lòng).
When
neither hatred nor love disturb our mind.
·
Trường thân lưỡng cước ngọa (Nằm thẳng đôi chân nghỉ).
Serenely
we sleep.
Kềm
Chế: To refrain.
Kềnh
Càng: Bulky.
Kết:
(A)
Nghĩa của “Kết”—The meanings of “Bond”
·
Trói buộc: To tie a knot—Bound—Tie—Knot—Settle—Wind
up—To form.
·
Trói buộc của luân hồi sanh tử: The bond of transmigration.
(B)
Phân loại “Kết”—Categories of “bonds”
1)
Tam Kết: Three bonds—See Tam Kết.
2)
Ngũ Kết: Five bonds to mortality—See Ngũ Kết.
3)
Ngũ Hạ Phần Kết: The five bonds in the lower desire-realms
or the lower fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết.
4)
Ngũ Thượng Phần Kết: The five higher bonds of desire still
exist in the upper realms of form and formlessness—See Ngũ Thượng
Phần Kết.
5)
Cửu Kết: The nine bonds that bind men to mortality—See Cửu
Kết.
Kết
Án: To condemn—To sentence—To convict.
Kết
Bạn: To make friends.
Kết
Bệnh: Bệnh của sự trói buộc vào dục vọng và sanh tử luân
hồi—The disease of bondage to the passions and reincarnation.
Kết
Cuộc: The end.
Kết
Duyên: Kết duyên (với Phật Pháp) để được độ sau nầy. Căn
bản 84.000 kiếp qua mà Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai đã dạy trong
Kinh Pháp Hoa cho 16 vị đệ tử để trở thành 16 vị Phật, mà Phật Thích
Ca là lần tái sanh thứ 16—To form a cause or basis, to form a connection,
e.g. for future salvation. The basis or condition laid 84,000 kalpas
ago by Mahabhijna-jnanabhibhu in his teaching of the Lotus Sutra to
16 disciples who became incarnate as 16 Buddhas, for the subsequent
teaching of the Lotus scriptures by Sakyamuni, the last of the 16
incarnations, to his disciples.
Kết
Duyên Chúng: Một trong Tứ Chúng, do duyên kiếp trước còn
nông cạn, chưa được độ nên kết nhân duyên đắc đạo sau nầy, với hy
vọng cải thiện nghiệp chướng trong tương lai—The company or multitude
of those who noe become Budhists in the hope of improved karma in
the future, one of the four groups of disciples.
** For more information,
please see Tứ Chúng
(B) (4).
Kết
Giải:
1)
Trói buộc và giải thoát: Bị phiền não trói buộc và giải thoát
tự tại—Bondage and release.
2)
Giải thoát khỏi sự trói buộc: Giác ngộ được lý mà giải thoát—Release
from bondage.
Kết
Giảng: Kết thúc một bài thuyết trình trong buổi bế mạc
(kỳ an cư kiết hạ hay buổi nhóm họp chư Tăng Ni)—Concluding an address,
or the address, i.e. the final day of an assembly.
Kết
Giao: Làm bạn với ai—To form a friendship with someone.
Kết
Giới: See Kiết Giới.
Kết
Hà: Dòng sông trói buộc của khổ đau hay phiền não—The river
of bondage, i.e. of suffering or illusion.
Kết
Hạ: See Kiết Hạ.
Kết
Hợp: To associate—To unite—To combine.
Kết
Kinh: See Kiết Kinh.
Kết
Lậu: Kết và lậu là tên gọi khác của phiền não. Trói buộc
và luân hồi sanh tử là do bởi dục vọng—Bondage and reincarnation because
of the passions.
Kết
Liên: To League—To unite—To ally.
Kết
Liễu: To finish—To conclude—To close—To end.
Kết
Luận: To end—To conclude—To come to a conclusion (an end)—Conclusion.
Kết
Nạp: To admit.
Kết
Nghĩa: To make friends—To be friends with someone.
Kết
Nghiệp: Sự trói buộc của nghiệp, hay nghiệp là kết quả
của sự trói buộc của dục vọng—The bond of karma, the karma resulting
from the bondage to passions or delusions.
Kết
Nguyện:
1)
Kết thúc hay hoàn thành lời nguyện: To conclude a vow.
2)
Ngày bế mạc đại hội an cư kiết hạ: The last day of an assembly
(of a summer retreat).
Kết
Oán: To create enemies.
Kết
Phược: Tên khác của phiền não, dục vọng hay phiền não trói
buộc thân tâm—To tie and knot, i.e. in the bondage of the passions,
or delusion.
Kết
Quả Của Nghiệp: Karmic results—The natural reward or retribution
for a deed, brought about by the law of karma.
Kết
Sanh: Sự trói buộc vào tái sanh hay thân trung hữu chết
đi để thác sanh vào thai mẹ (theo Câu Xá Luận: “lúc lâm chung thì
trung hữu đối với hai tâm niệm trái ngược nhau là yêu và ghét sẽ hiện
khởi, đến khi nhập thai thì đẩy bỏ cái tâm ghét chỉ chừa lại cái tâm
yêu, bảo đây là của mình, rồi từ đó sinh vui mừng, nên các uẩn lớn
thêm lên, thân trung hữu liền mất đi và sinh hữu hay kết sanh đã thành)—The
bond of rebirth.
Kết
Sử: See Kiết Sử.
Kết
Tặc: Những kẻ trói buộc hay những tên giặc, ý nói dục vọng
và phiền não—Binders and robbers, the passions, or delusion.
Kết
Tập Kinh Điển: Đức Phật đã nhập diệt, nhưng giáo lý của
Ngài vẫn còn lưu truyền đến ngày nay một cách trọn vẹn. Mặc dù giáo
huấn của Đức Thế Tôn không được ghi chép ngay thời Ngài còn tại thế,
các đệ tử của Ngài luôn luôn nhuần nhã nằm lòng và truyền khẩu từ
thế hệ nầy sang thế hệ khác. Vào thời Đức Phật còn tại thế, biết chữ
là đặc quyền của giới thượng lưu ở Ấn Độ, vì thế truyền khẩu giáo
lý là một dấu hiệu cho thấy dân chủ được coi trọng trong truyền thống
Phật giáo đến mức cách trình bày giáo pháp bằng văn chương đã bị bỏ
quên. Nhiều người không biết chữ, cho nên truyền khẩu là phương tiện
phổ thông và hữu hiệu nhứt để gìn giữ và phổ biến giáo pháp.
Vì có nhiều khuynh hướng sai lạc về giáo pháp nên ba tháng sau ngày
Đức Thế Tôn nhập diệt, các đệ tử của Ngài đã triệu tập Đại Hội Kết
Tập Kinh Điển Phật Giáo để đọc lại di ngôn của Phật. Lịch sử phát
triển Phật giáo có nhiều Hội Nghị kết tập kinh điển với những hoàn
cảnh vẫn có phần chưa rõ. Lúc đầu các hội nghị nầy có thể là những
hội nghị địa phương chỉ tập hợp vài cộng đồng tu sĩ. Sau đó mới có
những nghị hội chung—The Buddha has passed away, but His sublime teaching
still exists in its complete form. Although the Buddha’s Teachings
were not recorded during His time, his disciples preserved them, by
committing to memory and transmitted them orally from generation to
generation. At the time of the Buddha, literacy was a privilege of
the elite in India, and this another indication of the premium placed
on democracy within the Buddhist tradition that literary formulation
of the teaching was neglected for so long. Many people were not literate,
so word of mouth was the universal medium for preservation and dissemination
of the Dharma. Three months after the Buddha’s Parinirvana, there
were some tendencies to misinterpret or attempts were being made to
pollute His Pure Teaching; therefore, his disciples convened Councils
for gathering Buddha’s sutras, or the collection and fixing of the
Buddhist canon. In the development of Buddhism, several councils are
known, the history of which remains partially obscure. These Councils
were originally probably localassemblies of individual monastic communities
that were later reported by tradition as general councils.
(I)
Hội Nghị Kết Tập Lần Thứ Nhất—The First Council: Ba tháng sau
ngày Đức Phật nhập diệt (vào khoảng năm 543 trước Tây Lịch), do nhận
thấy có khuynh hướng diễn dịch sai lạc và xu hướng suy yếu về giới
luật trong nội bộ Tăng Già sau khi Phật nhập diệt, nên Đại Hội kết
tập kinh điển lần thứ nhất được vua A Xà Thế tổ chức tại hang Pippala,
có sách lại ghi là hang Saptaparni, trong thành Vương Xá thuộc xứ
Ma Kiệt Đà. Dù vị trí và tên của hang vẫn chưa được xác định rõ ràng,
nhưng không có gì nghi ngờ là Hội Nghị thứ nhất đã diễn ra tại thành
Vương Xá. Các học giả đều thừa nhận rằng Hội Nghị Kết Tập lần thứ
nhất nầy chỉ bàn về Kinh Tạng (Dharma) và Luật Tạng (Vinaya), phần
Luận Tạng không được nói đến ở đây. Trong hội Nghị nầy có 500 vị Tỳ
Kheo tham dự, trong đó có ngài Đại Ca Diếp, người được trọng vọng
nhất và là bậc trưởng lão, và hai nhân vật quan trọng chuyên về hai
lãnh vực khác nhau là Pháp và Luật là ngài A Nan và Ưu Ba Li đều có
mặt. Chỉ hai phần Pháp và Luật là được trùng tụng lại tại Đại Hội
lần thứ nhất. Tuy không có nhiều ý kiến dị biệt về Pháp, có một số
thảo luận về Luật. Trước khi Đức Phật nhập diệt, Ngài có nói với ngài
A Nan rằng nếu Tăng Đoàn muốn tu chính hay thay đổi một số luật thứ
yếu cho hợp thời, họ có thể làm được. Tuy nhiên, vào lúc đó ngài A
Nan vì quá lo lắng cho Đức Phật nên quên không hỏi những luật thứ
yếu là những luật nào. Vì các thành viên trong Hội Nghị không đi đến
thỏa thuận về những luật nào thuộc về thứ yếu nên ngài Ma Ha Ca Diếp
quyết định không có luật lệ nào đã được đặt ra bởi Đức Phật có thể
được thay đổi, và cũng không có luật lệ mới nào được đưa ra. Ngài
Đại Ca Diếp nói: “Nếu ta thay đổi luật, người ta sẽ nói đệ tử của
Đức Cồ Đàm thay đổi luật lệ trước khi ngọn lửa thiêu Ngài chưa tắt.”
Trong Hội Nghị nầy, Pháp được chia làm hai phần và mỗi phần
được trao cho một vị trưởng lão cùng với đệ tử của vị ấy ghi nhớ.
Pháp được truyền khẩu từ thầy đến trò. Pháp được tụng niệm hằng ngày
bởi một nhóm Tỳ Kheo và thường được phối kiểm lẫn nhau để bảo đảm
không có sự thiếu sót cũng như không có gì thêm vào. Các sử gia đều
đồng ý truyền thống truyền khẩu đáng tin cậy hơn văn bản của một người
viết lại theo trí nhớ của mình vài năm sau hội nghị. Nhiều người nghi
ngờ hiện thực lịch sử của Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần đầu nầy,
nhưng có thể là việc biên soạn những văn bản Kinh Luật thiêng liêng
đầu tiên diễn ra tương đối sớm. Vào lúc Đại Hội sắp kết thúc, có vị
Tăng tên là Purana được những người tổ chức mời tham gia vào giai
đoạn bế mạc của Đại Hội, Purana đã khước từ và nói rằng ông chỉ thích
nhớ lại những lời dạy của Đức Phật như ông đã từng nghe từ chính kim
khẩu của Đức Phật. Sự kiện nầy cho thấy tự do tư tưởng đã hiện hữu
từ thời khai mở của cộng đồng Phật giáo—Three months after the passing
of the Buddha (in about 543 B.C.), detecting tendencies within the
Sangha toward loss of discipline, as well as misinterpreting His Pure
Teaching, the First Council was organized by King Ajatasatru, and
held at the Pippala cave, some said near the Saptaparni cave, at Rajagriha
in Magadha. Even though the site and name of the cave have not yet
been definitely identified. Nonetheless, there is no dispute about
the fact that it is at Rajagrha that the First Council met. It is
accepted by critical scholars that the First Council settled the Dharma
and the Vinaya, and there is no ground for the view that Abhidharma
formed part of the canon adopted at the First Council. In this Council,
there were 500 Bhiksus, among them Maha-Kasyapa was the most respected
and elderly monk, and two very important persons who specialized in
the two different areas which are sutras and vinaya were present.
One was Ananda and the other was Upali. Only these two sections, the
Dharma and the Vinaya, were recited at the First Council. Though there
were no differences of opinion on the Dharma, there was some discussion
about the Vinaya rules. Before the Buddha’s Parinirvana, he had told
Ananda that if the Sangha wished to amend or modify some minor rules,
they could do so. However, on that occasion Ananda was so overpowered
with grief because the Buddha was about to pass away, he forgot to
ask the Master what the minor rules were. As the members of the Council
were unable to agree as to what constituted the minor rules, Maha-Kasyapa
finally ruled that no disciplinary rule laid down by the Buddha should
be changed, and no new ones should be introduced. Maha-Kasyapa said:
“If we changed the rules, people will say that the Buddha’s disciples
changed the rules even before his funeral fire has ceased burning.”
At the Council, the Dharma was divided into various parts and each
part was assigned to an Elder and his pupils to commit to memory.
The Dharma was then passed on from teacher to pupil orally. The Dharma
was recited daily by groups of people who often cross check with each
other to ensure that no omissions or additions were made. Historians
agree that the oral tradition is more reliable that a report written
by one person from his memory several years after the event. The historicity
of this Council is doubted by many. Nevertheless, it is likely that
the first collection of writings took place relatively early. At the
end of the First Council, a monk named Purana was invited by the organizers
to participate in the closing phases of the council, but he declined,
saying that he would prefer to remember the teachings of the Buddha
as he had heard it from the Buddha himself. This fact indicates the
freedom of thought existed at the time of the beginning of Buddhist
community.
a)
Ngài Đại Ca Diếp, người được mọi người trọng vọng nhất
mà cũng là bậc trưởng lão, là chủ tịch Hội Nghị—Maha Kasyapa, the
most respected and elderly monk, presided at the First Council.
b)
Kế đó, ngài Đại Đức Ưu Ba Li/Upali trùng tụng lại những giới
luật của Phật bao gồm luật cho cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Ngài Ưu Ba
Li đã tụng đọc 80 lần các văn luật trong 90 ngày mới hoàn tất nên
còn gọi là “80 tụng luật.” Đây cũng là giới luật căn bản cho Phật
giáo về sau nầy bao gồm những văn bản sau đây—Then, Venerable Upali
remembered and recited all the rules set forth by the Buddha (rules
of the Order), including all rules for monks and nuns. Venerable Upali
recited eighty times all these rules in 90 days. These rules include:
·
Luật Thập Tụng: Sarvastivada-Vinaya.
·
Luật Tăng Kỳ: Samghika-Vinaya.
·
Luật Tứ Phần: Dharmagupta-Vinaya.
·
Luật Ngũ Phần: Mahissasaka-Vinaya.
c)
Kế đó nữa là ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất của Phật
trong suốt 25 năm, thiên phú với một trí nhớ xuất sắc. Lúc đầu đã
không được xếp vào thành viên Hội Nghị. Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó
vì có sự phản đối của các Tỳ Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc
dù ông nầy chưa đắc quả A La Hán, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức
cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng và luật tạng từ chính Đức
Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp chấp nhận vào Hội Nghị.
A Nan đã trùng tụng lại tất cả những gì mà Đức Phật nói, gồm những
bộ kinh sau đây—Then, Venerable Ananda, the closest disciple and the
attendant of the Buddha for 25 years. He was endowed with a remarkable
memory. First Ananda was not admitted to the First Council. According
to the Cullavagga, later other Bhikhus objected the decision. They
strongly interceded for Ananda, though he had not attained Arhathood,
because of the high moral standard he had reached and also because
he had learnt the Dharma and vinaya from the Buddha himself. Ananda
was eventually accepted by Mahakasyapa into the Council, and was able
to recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines), including
the following sutras:
d)
Năm bộ kinh A Hàm, còn gọi là A Kiệt Ma—Five Agamas.
·
Trường A Hàm: Dirghagama Sutra (skt)—Ghi lại những bài
pháp dài—Collection of Long Discourses.
·
Trung A Hàm: Madhyamaga Sutra (skt)—Ghi lại những bài
pháp dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses.
·
Tăng Nhất A Hàm: Anguttara-agama Sutra (skt)—Ghi lại
những bài pháp sắp xếp theo số—Collection of Gradual Sayings.
·
Tạp A Hàm: Samyuktagama Sutra (skt)—Ghi lại những câu
kinh tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings.
·
Tiểu A Hàm: Khuddaka-agama (skt)—Ghi lại những câu kệ
ngắn—Smaller Collection.
*** For more information, please see A
Nan Đà in Vietnamese-English Section.
(II) Đại
Hội Kết Tập Lần Hai—The Second Council:
(A) Đại
hội kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Xá Vệ (Tỳ
Xá Ly), 100 năm sau ngày Phật nhập diệt. Đại Hội nầy được tổ chức
để bàn luận về một số giới luật (có sự không thống nhứt về giới luật).
Không cần thiết phải thay đổi những giới luật ba tháng sau ngày Đức
Phật nhập diệt vì lẽ không có gì thay đổi nhiều về chính trị, kinh
tế và xã hội trong khoảng thời gian ngắn ngủi nầy. Nhưng 100 năm sau,
một số chư Tăng (theo giáo lý nguyên thủy) nhận thấy cần phải có sự
thay đổi một số giới luật thứ yếu. Các nhà sư thuộc phái Vaisali đã
chấp nhận vàng và bạc của thí chủ cúng dường. Yasha, một môn đồ của
A Nan, còn đưa ra chín điều trách cứ đối với các thành viên của cộng
đồng Vaisali, nhứt là việc ăn uống vào những thời điểm bị cấm, về
việc dùng rượu, về việc các nhà sư cùng một cộng đồng lại làm lễ Bố
Tát một cách phân tán, vân vân. Hội Nghị lần thứ hai được mô
tả cụ thể hơn nhiều trong các văn bản, nói chung được thừa nhận vững
chắc về mặt lịch sử—The Second Council was held at Vaisali 100 years
after the passing of the Buddha. This Council was held to discuss
some Vinaya rules (there was some disunity concerning matter of discipline).
There was no need to change the rules three months after the Buddha’s
Parinirvana because little or no political, economic or social changes
took place during that short interval. But 100 years later, some monks
saw the need to change certain minor rules One hundred years after
the First Council, the Second Council was held to discuss some Vinaya
rules. There was no need to change the rules three months after the
Parinirvana of the Buddha bcause little or no political, economic
or social changes took place during that short interval. But 100 years
later, some monks saw the need to change certain minor rules. The
Second Council is considerably better documented in the texts that
the first and is generally recognized as a historical event. The Vaisali
monks had accepted gold and silver from lay adherents in violation
of the Vinaya rules. Moreover, they were accused by Yasha, a student
of Ananda’s, of nine further violations, including taking food at
the wrong time, separate observance of the Uposatha by monks of a
community, and drinking alcoholic beverages.
(B) Những
nhà sư chính thống cho rằng không có gì nên thay đổi, trong khi những
vị khác thuộc phái Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã khai trừ trưởng
lão Da Xá (Yasha) ra khỏi cộng đồng với nhiều lời buộc tội ngài. Họ
đã đề nghị mười điểm thay đổi như sau—The orthodox monks said that
nothing should be changed, while the monks of the Vajji from Vaisali
expelled Yasha from the community because of his accusations. They
insisted on modifying some rules as follows:
1)
Cho phép đựng muối trong sừng trâu hay các đồ chứa bằng sừng:
Singilonakappa (p)—Gián tiếp cho phép sát sanh để lấy sừng, trong
khi phái chính thống cho rằng việc mang muối đựng trong cái sừng rỗng
bị coi như phạm giới cấm Ba Dật Đề thứ 38, về việc cấm tồn trữ thực
phẩm và giới sát sanh—Allowing monks and nuns to store salt in buffalo’s
horns, while the orthodox monks considered carrying salt in a hollowed
horn. This practice is contrary to Pacittiya 38, which prohibits (forbids)
the storage of food and killing.
2)
Buổi trưa khi mặt trời đã qua bóng hai ngón tay vẫn ăn được:
Dvangulakappa (p)—Vẫn được phép ăn sau giờ ngọ. Việc nầy coi như bị
cấm trong Ba Dật Đề thứ 37 về giới không được ăn sau giờ ngọ—Allowing
monks and nuns to eat in the afternoon: The practice of taking meals
when the shadow is two fingers broad. This practice against Pacittiya
37 which forbids the taking of food after midday.
3)
Được đi qua một làng khác ăn lần thứ hai: Gamantarakappa (p)—Sau
khi ăn rồi, đi đến nơi khác vẫn ăn lại được trong cùng một ngày.
Việc làm nầy coi như bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 35 về giới cấm ăn
quá nhiều—Allowing monks and nuns to eat the second time in a day:
The practice of going to another village and taking the second meal
there on the same day. This practice forbids in Pacittiya 35 which
forbids over-eating.
4)
Cho Bố tát ở riêng trong một khu: Avasakappa (p & skt)—Thực
hiện nghi thức Bố Tát (Uposatha) tại nhiều nơi trong cùng một giáo
khu. Điều nầy trái với các giới luật Mahavagga về sự cư trú trong
một giáo khu—Allow retreats for spiritual refreshment in a private
place: The observance of the Uposatha ceremonies in various places
in the same parish. This practice contravenes the Mahavagga rules
of residence in a parish (sima).
5)
Được phép hội nghị với thiểu số: Anumatikappa (p).
a)
Dù không đủ số quy định như tam sư thất chứng, hội nghị vẫn
có hiệu lực như thường—Allowing ordination to proceed even though
there are not enough three superior monks and seven witnesses (see
Tam Sư Thất Chứng).
b)
Được phép yêu cầu chấp nhận một hành động sau khi đã làm. Đây
là vi phạm kỹ luật—Obtaining sanction for a deed after it is done.
This also amounts to a breach of monastic discipline.
6)
Cho làm theo các tập quán trước: Acinakappa (p)—Đây cũng là
vi phạm kỹ luật—Allowing monks and nuns to follow their customs and
habits (customary practices and precedents): This is also opposed
to the rules.
7)
Cho uống các loại sữa sau bữa ăn: Amathitakappa (p)—Cho phép
uống các loại sữa dù chưa được lọc. Điều nầy trái với Ba Dật Đề thứ
35 về luật ăn uống quá độ—Allowing monks and nuns to drink unrefined
milk after the meal. This practice is in contravention of Pacittiya
35 which prohibits over-eating.
8)
Được uống rượu mạnh hòa với đường và nước nóng: Jalogim-patum
(p)—Việc làm nầy trái với Ba Dật Đề thứ 51, cấm uống các chất độc
hại—Allow monks and nuns to drink the drinking of toddy. This practice
is opposed to Pacittiya 51 which forbids the drinking of intoxicants.
9)
Được ngồi tự do khắp nơi: Adasakam-nisidanam (p)
a)
Được phép ngồi các chỗ rộng lớn, không cần phải theo quy định
ngày trước của Đức Phật—Allowing monks and nuns to sit down wherever
they like to, not to follow rules set forth by the Buddha before.
b)
Được dùng tọa cụ không có viền tua. Việc nầy trái với Ba Dật
Đề thứ 89, cấm dùng tọa cụ không có viền—Allow using a rug which has
no fringe. This is contrary to Pacittiya 89 which prohibits the use
of borderless sheets.
10) Được
giữ vàng bạc: Jataruparajatam (p)—Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni được phép
cất giữ vàng bạc, cũng như được nhận vàng bạc từ đàn na tín thí. Điều
nầy trái với giới luật thứ 18 trong Nissaggiya-pacittiya—Allowing
monks and nuns to store gold and silver, and they are allowed to accept
gold and silver. This practice is forbidden by rule 18 of the
Nissaggiya-pacittiya.
(C)
Đại Đức Da Xá công khai tuyên bố những việc làm nầy là phi
pháp. Sau khi nghe phái Bạt Kỳ phán xử khai trừ mình ra khỏi Tăng
Đoàn, Da Xá (Yasha) liền đi đến Kausambi để tìm kiếm sự bảo hộ của
các nhà sư có thế lực trong các vùng mà Phật giáo bắt đầu phát triển
(Avanti ở phía tây và ở miền nam). Da Xá mời họ họp lại và quyết định
để ngăn chận sự bành trướng của việc chà đạp đạo giáo và bảo đảm việc
duy trì luật tạng. Sau đó Da Xá đi đến núi A Phù, nơi trưởng lão Tam
Phù Đà đang sống để trình lên trưởng lão mười điều đề xướng của các
tu sĩ Bạt Kỳ. Da Xá yêu cầu trưởng lão Tam Phù Đà xem xét tánh cách
nghiêm trọng của vấn đề. Trong khoảng thời gian nầy có sáu mươi vị
A La Hán từ phương Tây đến và họp lại tại núi A Phù, cũng như tám
mươi tám vị khác từ Avanti và miền Nam cũng gia nhập với họ. Các vị
nầy tuyên bố đây là vấn đề khó khăn và tế nhị. Họ cũng nghĩ đến trưởng
lão Ly Bà Đa ở Soreyya, vốn là người nổi tiếng uyên bác và từ tâm.
Nên họ quyết định cùng nhau đến gặp trưởng lão để xin sự hỗ trợ của
ngài—The Venerable Yasha openly declared these practice to be unlawful.
After the sentence of excommunication had been passed on him, he then
went to Kausambi to seek support from influential monks in all areas
to which Buddhism had spread (the western country of Avanti and of
the southern country). He invited them to assemble and decide the
question in order to stop the growth of irreligion and ensure the
preservation of the Vinaya. Next, he proceeded to Mount Ahoganga where
Sambhuta Sanavasi dwelt to show him the ten thesis advocated by the
Vajjian monks. He asked the venerable to examine the question in earnest.
About the same time, some sixty Arhats from the Western Country and
eighty-eight from Avanti and the Southern Country came to assemble
on Mount Ahoganga. These monks declared the question to be hard and
subtle. They thought of the Venerable Revata who was at Soreyya and
was celebrated for his learning and piety. So they proposed to met
him and enlist his support. After a good deal of travelling they met
the Venerable Revata at Sahajati. On the advice of Venerable Sambuta
Sanavasi, Yasha approached the Venerable Revata and explained the
issue to him. One by one, Bhikshu Yasha brought up the ten points
and asked for his opinion. Each one of them was declared to be invalid
by the Venerable Revata.
(D)
Trong khi đó, các tu sĩ Bạt Kỳ cũng chẳng ngồi yên. Họ cũng
đến Câu Xá Di để xin được trưởng lão Ly Bà Đa ủng hộ. Họ dâng cho
ông nhiều lễ vật hậu hỷ nhưng đều bị ông từ chối. Họ lại dụ dỗ được
đệ tử của ông là Đạt Ma thỉnh cầu dùm họ, nhưng trưởng lão vẫn một
mực chối từ. Trưởng lão Ly Bà Đa khuyên họ nên trở về Tỳ Xá Ly là
nơi xuất phát vấn đề để mở ra cuộc tranh luận: Meanwhile, the Vajjian
monks were not idle. They also went to Sahajati in order to enlist
the support of the Venerable Revata. They offered him a lot of presents,
but he refused with thanks. They also induced his disciple, Uttara,
to take up their cause, but he failed. At the suggestion of Revata,
the monks proceeded to Vaisali in order to settle the dispute at the
place of its origin.
(E)
Cuối cùng, nghị hội Vaisali tập hợp 700 nhà sư, tất cả đều
là A La Hán, còn gọi là hội nghị các trưởng lão. Tỳ Kheo A Dật Đa
được chỉ định làm người tổ chức. Trưởng lão Sabbakhami được bầu làm
chủ tịch ủy ban. Từng điểm một của mười điều cho phép của phái Bạt
Kỳ được xem xét kỹ càng. Vì thấy 10 điều thay đổi trên hoàn toàn vô
lý nên một phán quyết của hội nghị đồng thanh tuyên bố việc làm của
các nhà sư Bạt Kỳ là phi pháp. Kết quả là các nhà sư Bạt kỳ ở Tỳ Xá
Ly (Vaisali) đã bị một ủy ban gồm bốn nhà sư thuộc cộng đồng phương
tây và bốn vị thuộc cộng đồng phương đông coi là có tội. Họ
đều chấp nhận sự phán quyết mà không phản kháng. Những thầy tu vi
phạm giới luật coi như đã không tôn trọng luật chính thống và đã bị
khiển trách tùy theo lỗi lầm. Do đó giới luật trong lần kết tập nầy
hầu như không thay đổi. Trong văn bản tiếng Pali và Sanskrit của Luật
Tạng đều có kể lại hội nghị nầy: Finally a council composed of 700
monks, all arhats, also called the Council of the Theras. Bhikshu
Ajita was appointed the seatregulator. The Venerable Sabbakami was
elected president. The ten points were examined carefully one by one.
After seeing these above ten changes were so unreasonable. The unanimous
verdict of the assembly declared the conduct of the Vajjian monks
to be unlawful. As a result, they (Vajjian monks of Vaisali) were
found guilty by a committee composed of four monks from eastern and
four from western regions, respectively. The Vaisali monks accepted
this judgment without any opposition. The erring monks were declared
in violation of the orthodox code of discipline and censured accordingly.
Thus, in this council, rules of monastic discipline have remained
virtually unchanged. Records of this council are found in both the
Pali and Sanskrit versions of the Vinaya-Pitaka.
(F)
Nghị Hội lần thứ hai đánh dấu sự phân phái giữa phe bảo thủ
và phe tự do. Người ta kể lại, nhóm sư Bạt Kỳ đã triệu tập một Hội
Nghị khác có mười ngàn tu sĩ tham dự với tên là Đại Chúng Bộ. Vào
thời đó, dù được gọi là Đại Chúng Bộ, nhưng chưa được biết là Đại
Thừa: The Second Council marked a division between the conservative
and the liberal. It is said that Vajjian monks of Vaisali held
another Council which was attended by ten thousand monks. It was called
The Great Council (Mahasangiti). Even though it was called Mahasanghika,
it was not yet known as Mahayana at that time).
(III)
Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Ba—The Third Council: Hội
nghị thứ ba được tổ chức tại thành Hoa Thị dưới sự bảo trợ của vua
A Dục, một Phật tử tại gia nổi tiếng—The Third Council was held at
Pataliputra, sponsored by King Asoka, a celebrated Buddhist layman.
(A) Nguyên
nhân đưa đến Hội Nghị—Reasons for the Third Concil:
a)
Một nhà sư thuộc thành Hoa Thị tên là Đại Thiên đưa ra luận
điểm cho rằng một vị A La Hán có thể để cho mình bị cám dỗ, nghĩa
là có những sự xuất tinh ban đêm và không trừ bỏ được sự ngu si cũng
như những nghi ngờ về giáo thuyết. Cuối cùng A La Hán có thể tiến
bước theo con đường giải thoát, theo Đại Thiên, nhờ ở một sự giúp
đở bên ngoài và nhờ gia tăng khả năng tập trung, do đó những cơ may
cứu rỗi của người đó là nhờ ở việc lặp đi lặp lai một số âm thanh.
Những ý kiến khác nhau về những luận điểm ấy dẫn tới sự phân chia
các sư thành hai phe: A monk from Pataliputra, Mahadeva, put forward
the following position: An arhat is still subject to temptation, that
is, he can have nocturnal emissions. He is not yet free from ignorance.
In addition, he is still subject to doubts concerning the teaching.
Moreover, according to according to Mahadeva’s view, an arhat can
make progress on the path to enlightenment through the helpof others
and, through the utterance of certain sounds, he can further his concentration
and thus advance on the path. Differing views on these points led
to division of the monks into two camps.
b)
Tự cho mình đông hơn, những người bảo vệ những luận điểm của
Đại Thiên tự gọi mình bằng cái tên Mahasanghika hay cộng đồng lớn,
còn những đối thủ của họ, do những người “Cũ” đại diện, đó là những
vị nổi bậc về đại trí và đại đức, thì tự gọi mình là “Sthavira”: Those
who affirmed these points of Mahadeva’s, and who believed themselves
to be in the majority, called themselves Mahasanghika or Great Community.
Their opponents, represented by the “elders,” who were distinguished
by outstanding wisdom and virtue, called themselves Sthavira.
c)
Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh chóng
phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một đời sống đầy đủ dễ
chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo
Phật giáo. Tuy nhiên, dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng,
cách hành trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý
đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đau
buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi hẻo lánh trong núi A Phù
suốt bảy năm. Số người dị giáo và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn
những tín đồ chân chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một
tự viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu sĩ sùng đạo
từ chối không chịu làm lễ nầy với những người dị giáo. Vua A Dục rất
lo lắng về sự xao lãng nầy của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện
lễ Bố Tát. Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ nầy
đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai mệnh lệnh nhà
vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chịu thực hiện lệnh vua. Hay
tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên
Tư Đế Tu về để tổ chức hội nghị: With the conversion of King Asoka,
the material prosperity of the monasteries grew by leaps and bounds
and the monks lived in ease and comfort. The heretics who had lost
their income were attracted by these prospects to enter the Buddhist
Order. They continued, however, to adhere to their old faiths and
practices and preached their doctrines instead of the doctrines of
the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa
who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there
for seven years. The number of heretics and false monks became far
larger than that of the true believers. The result was that for seven
years no Uposatha or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of
the monasteries. The community of the faithful monks refused to observed
these festivals with the heretics. King Asoka was filled with distress
at this failure of the Sangha and sent commands for the observance
of the Uposatha. However, a grievous blunder was committed by the
Minister who was entrusted with this task. His misunderstood the command
and beheaded several monks for their refusal to carry out the King’s
order. When this sad news reported to Asoka, he was seized with grief
and apologized for this misdeed. He then invited Maggaliputta Tissa
to hold the Third Council.
d)
Do đó mà Hội Nghị thứ ba được tiến hành với nhu cầu thanh khiết
hóa Phật pháp đang lâm nguy do sự xuất hiện của nhiều hệ phái khác
nhau với những luận điệu, giáo lý và cách hành trì đối nghịch nhau:
Thus the Third Council was held by the need to establish the purity
of the Canon which had been imperilled by the rise of different sects
and their rival claims, teachings and practices.
(B) Thấy
thế vua A Dục cho tổ chức Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ ba tại
thành Ba Tra Lợi Phất (Hoa Thị Thành, thủ đô cổ của Tích Lan), khoảng
vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Vua A Dục đã đích thân chọn 60.000
vị Tỳ Kheo tham dự Hội Nghị. Trong khi đó trưởng lão Mục Kiền Liên
Tư Đế Tu đã phụng mệnh vua A Dục chọn ra một ngàn vị Tăng tinh thông
tam tạng kinh điển kết tập chánh pháp. Hội nghị đã bàn thảo trong
chín tháng về những ý kiến dị biệt giữa những Tỳ Kheo của nhiều phái
khác nhau. Tại Đại Hội nầy, sự khác biệt không chỉ hạn hẹp trong Giới
Luật, mà cũng liên quan đến Giáo Pháp nữa. Đây không phải là một hội
nghị toàn thể mà chỉ là một cuộc nhóm họp nhỏ thôi. Lúc kết thúc Hội
Nghị, ngài Mục Kiền Liên Tư Đế Tu (see Mục Kiền Liên Tư Đế Tu), đã
tổng hợp vào một cuốn sách gọi là Thuyết Sự Luận (Kathavatthupakarana),
bác bỏ những quan điểm và lý thuyết dị giáo cũng như những sai lầm
của một số giáo phái. Giáo lý được phê chuẩn và chấp thuận bởi Đại
Hội được biết là Theravada hay Nguyên Thủy. Vi Diệu Pháp được bao
gồm trong Đại Hội nầy—Seeing this division, King Asoka organized the
Third Council (in the Third Century B.C.) at Pataliputra, the old
capital of Ceylon. King Asoka himself assigned 60,000 monks to participate
in this Council. To obey the order of king Asoka, Thera Tissa
thereafter elected a thousand monks who were well versed in the three
Pitakas to make a compilation of the true doctrine. The Council lasted
for nine months to discuss the different opinion among the Bhiksus
of different sects. At this Council the differences were not confined
to the Vinaya but also connected with the Dharma. This was not a general
Council, but rather a party meeting. At the end of this Council, the
President of the Council, Moggaliputtra-Tissa, compiled a book called
the Kathavatthu refuting the heretical, false views and theories held
by some sects. The teaching approved and accepted by this Council
was known as Theravada. The Abhidharma Pitaka was included at this
Council.
·
Bố Tát Thuyết Giới: Upavasatha-Sila.
·
Kết Tập Tam Tạng Kinh, Luật, Luận: Tripitaka, Sutra,
Vinaya, and Abhidharma.
(C) Một
trong những thành quả quan trọng của Hội Nghị lần thứ ba là nhiều
phái đoàn truyền giáo đã được gởi đi khắp các xứ để hoằng dương Phật
pháp. Sau Đại Hội kết tập lần thứ ba, người con của Vua A Dục, ngài
Hòa Thượng Mahinda,và người con gái tên Tăng Già Mật Đa, đã mang Tam
Tạng Kinh Điển đến Sri-Lanka, cùng với những lời bình luận của Hội
Nghị nầy. Họ đã đạt được thành công rực rỡ tại đảo quốc nầy. Những
kinh điển được mang về Sri-Lanka vẫn được giữ gìn cho đến ngày nay
không mất một trang nào. Những kinh điển nầy được viết bằng chữ Pali,
căn cứ vào ngôn ngữ của xứ Ma Kiệt Đà là ngôn ngữ của Đức Phật. Chưa
có gì gọi là Đại Thừa vào thời bấy giờ. Ngoài ra, qua những chỉ dụ
của vua A Dục, chúng ta được biết thêm về những phái đoàn truyền giáo
Phật giáo được nhà vua cử đi đến các nước xa xôi ở Á Châu, Phi Châu
và Âu Châu. Phật giáo đã trở thành một tôn giáo quan trọng của
nhân loại phần lớn là nhờ ở các hoạt động của phái đoàn nầy—One of
the important results of thei Council was the dispatch of missionaries
to different countries of the world for the propagation of Buddhism.
After the Third Council, Asoka’s son, Venerable Mahinda, and the king’s
daughter, Sanghamitta, brought the Tripitaka to Sri-Lanka, along with
the commentaries that were recited at the Third Council. They were
extraordinarily successful in this island. The texts brought to Sri-Lanka
were preserved until today without losing a page. The text were written
in Pali which was based on the Magadhi language spoken by the Buddha.
There was nothing known as Mahayana at that time. Besides, from the
edicts of king Asoka, we know of various Buddhist missions he sent
to far-off countries in Asia, Afirca, and Europe. It is to a large
extent due to these missionary activities that Buddhism became one
of the most important religions of mankind.
(D) Sự
xuất hiện của Đại Thừa—Coming of Mahayana: Giữa thế kỷ thứ nhất trước
Tây Lịch và thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa
xuất hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vào thế kỷ thứ hai sau Tây
Lịch, Đại Thừa được định nghĩa rõ ràng. Ngài Long Thọ triển khai triết
học “Tánh Không” của Đại Thừa và chứng minh tất cả mọi thứ đều là
“Không” trong một bộ luận ngắn gọi là Trung Quán Luận. Vào khoảng
thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, hai ngài Vô Trước và Thế Thân viết nhiều
tác phẩm về Đại Thừa. Sau thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, những nhà
Phật giáo Đại Thừa giữ vững lập trường rõ ràng nầy, từ đó hai từ Đại
Thừa và Tiểu Thừa được nói đến. Chúng ta không nên lẫn lộn Tiểu Thừa
với Nguyên Thủy, vì hai từ nầy hoàn toàn khác nhau. Nguyên Thủy Phật
Giáo nhập vào Sri-Lanka vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, lúc chưa
có Đại Thừa xuất hiện. Phái Tiểu Thừa xuất hiện tại Ấn Độ, có một
bộ phận độc lập với dạng thức Phật Giáo tại Sri-Lanka—Between the
First Century B.C. to the First Century A.D., the two terms Mahayna
and Hinayana appeared in the Saddharma Pundarika Sutra or the Sutra
of the Lotus of Good Law. About the Second Century A.D. Mahayana became
clearly defined. Nagajuna developed the Mahayana philosophy of Sunyata
and proved that everything is void in a small text called Madhyamika-karika.
About the Fourth Century, there were Asanga and Vasubandhu who wrote
enormous amount of works on Mahayana. After the First Century A.D.,
the Mahayanists took a definite stand and only then the terms of Mahayana
and Hinayana were introduced. We must not confuse Hinayana with Theravada
because the terms are not synonymous. Theravada Buddhism went to Sri-Lanka
during the Third Century B.C. when there was no Mahayana at all. Hinayana
sects developed in India and had an existent independent from the
form of Buddhism existing in Sri-Lanka.
(IV)
Hội Nghị lần thứ tư—The Fourth Council:
(A)
Hội nghị nầy dường như chỉ là hội nghị của một phái, phái Sarvastivadin,
hơn là một hội nghị chung thật sự—The fourth council seems also to
have been the synod of a particular school, the Sarvastivadins, more
than a general council.
(B)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư được tổ chức tại thành
Ca Thấp Di La (Kashmir) khoảng năm 70 trước Tây Lịch, dưới sự tổ chức
của Vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka), nhưng lần nầy chỉ có sự tham
dự bởi phái Nhất Thiết Hữu Bộ, chứ không được phái Nguyên Thủy thừa
nhận (Sau thời vua A Dục khoảng 300 năm tức là vào khoảng năm 70 trước
Tây Lịch, miền tây bắc Ấn Độ có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka), rất kính
tin Phật pháp, thường thỉnh chư Tăng vào triều thuyết pháp. Vì thấy
pháp không đồng và luật lệ của nhóm nầy khác với nhóm kia, nên vua
bèn chọn 500 Tăng sĩ kiến thức uyên bác, và triệu thỉnh ngài Hiếp
Tôn Giả (Parsvika) tổ chức hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư.
Hội nghị đề cử Thượng Tọa Thế Hữu (Vasumitra) làm chủ tọa, còn ngài
Mã Minh được mời từ Saketa đến để soạn thảo Luận Thư (commentaries)
đồng thời là Phó chủ tọa, địa điểm là tịnh xá Kỳ Hoàn ở Ca Thấp Di
La (Kashmir). Mục đích kỳ kết tập nầy là giải thích rõ ràng ba tạng
kinh điển, gồm 300.000 bài tụng. Sau đó chế ra bản đồng, đúc chữ in
lại tất cả, cho xây bửu tháp để tàng trử kinh điển. Không phải như
ba lần kết tập trước, lần nầy nghĩa lý kinh điển được giải thích rõ
ràng. Tuy nhiên, ngài Hiếp Tôn Giả Parsvika) là một vị đại học giả
về Hữu Bộ, vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) cũng tin theo Hữu Bộ, nên sự
giải thích trong lần kết tập nầy đều y cứ vào “Nhất Thế Hữu Bộ (Sarvastivadah).”
Chủ đích của Hội Nghị là phân tích lại một phần Vi Diệu Pháp nhằm
ngăn ngừa một số khuynh hướng cải cách bên trong cộng đồng. Nhiều
nguồn tin cho biết có sự tham dự của 500 vị A La Hán và 600 vị Bồ
Tát tại hội nghị nầy. Nghị Hội được triệu tập theo sự đề xuất của
một cao tăng uyên thâm Phật pháp là Hiếp Tôn Giả. Ngài Thế Hữu (Vasumitra)
làm chủ tịch Hội Nghị, trong khi ngài Mã Minh được mời đến từ Saketa,
làm Phó chủ tọa, và cũng là người lo biên soạn quyển Mahavibhasa,
một quyển bình giải về Vi Diệu Pháp. Hội Nghị nầy chỉ giới hạn trong
việc kết tập những lời bình. Có vẻ như là chủ thuyết nào tranh thủ
được sự đồng ý rộng rãi nhất thì được chú ý nhất. Mà dường như các
tu sĩ của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ chiếm đa số. Và rất có thể
là các chi nhánh quan trọng của trường phái Sarvastivada gồm những
hệ phái không chính thống cũng đã tham dự với số lượng khá đông. Không
có chứng cớ là Phật giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy đã tham dự. Tuy nhiên,
do sự bành trướng quan trọng sau đó của phong trào Sarvastivadin,
người ta thừa nhận hội nghị nầy có tầm quan trọng chung như một Đại
Hội Kết Tập Kinh Điển Phật Giáo—The fourth Great Council was held
around 70 B.C. in Kashmir under the patronage of King Kanishka, but
as the doctrine promulgated were exclusively Sarvastivada school.
It is not recognized by the Theravada. The Council was held to discuss
new interpretation of part of the Abhidharma that was intended to
forestall reformatory tendencies. According to various sources, this
Council was attended by 500 arhats as well as 600 Bodhisattvas. King
Kanishka summoned this Council at the instigation of an old and learned
monk named Parsva. The principal role is ascribed to Vasumitra, while
Asvaghosa, who was invited from Saketa to help supervised the
writing of the Mahavibhasa, a commentary on the Abhidharma. There
is no evidence that Mahayana Buddhism was represented in this Council.
However, because of the great importance later attained by the Sarvastivadins,
this synod came to be evaluated as a Council having general authority.
·
Mười muôn (100.000) bài tụng để giải thích Kinh Tạng:
Sutra Pitaka.
·
Mười muôn bài tụng để giải thích Luật Tạng: Vinaya Pitaka.
·
Mười muôn bài tụng để giải thích Luận Tạng: Hiện nay
vẫn còn 200 quyển A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận do Ngài Huyền Trang
dịch—Abhidharma Pitaka.
·
See Ca Ni Sắc Ca in Vietnamese-English Section.
(V) Đại
hội kết tập kinh điển lần thứ năm được vua Mindon của Miến Điện tổ
chức năm 1871 (Buddhist year 2414). Người ta nói có khoảng 2.400 tu
sĩ có học vấn cùng các giáo sư tham dự. Các trưởng lão Jagarabhivamsa,
Nirindabhidhaja và Sumangala Sami luân phiên chủ trì hội nghị. Công
việc kết tập và ghi lại Tam Tạng kép dài trên năm tháng trong hoàng
cung và kinh điển được khắc vào 729 bản đá cẩm thạch và lưu trữ tại
Mandalay. Điều đáng chú ý là nhiều ấn bản khác nhau đã được xử dụng
để đối chiếu trong hội nghị nầy: The fifth council was held in 1871
at the instance of King Mindon of Burma. It is said that about 2,400
learned monks and teachers participated in the Council. The elders
Jagarabhivamsa, Narindabhidhaja and Sumangala Sami presided in turn.
The recitation and recording of the Tripitaka on marble continued
for about five months in the royal palce and the Tipitika was carved
on 729 marble slabs and preserved at Mandalay. It should be noted
that various available editions of the Tripitaka were used for comparison
and references in this Council.
(VI)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ sáu được tổ chức tại Ngưỡng
Quang, thủ đô của Miến Điện vào năm 1954. Có khoảng 2500 Tỳ Kheo uyên
bác trên khắp thế giới (từ Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan, Népal, Cam
Bốt, Thái Lan, Lào, và Pakistan) tham dự, trong đó có khoảng năm trăm
Tỳ Kheo Miến Điện, uyên thâm trong việc nghiên cứu và hành trì giáo
lý của Đức Phật, được mời đảm nhận việc kiểm lại văn bản tam tạng
kinh điển Pali. Hội nghị khai mạc năm 1954, và hoạt động liên tục
đến ngày trăng tròn Vaisakha năm 1956, nghĩa là trong dịp kỷ niệm
2.500 năm ngày Đức Phật nhập Niết Bàn: The sixth Great Council was
held in Rangoon in 1954. About 2,500 learned bhikkhus of the various
countries of the world (from India, Burma, Ceylon, Nepal, Cambodia,
Thailand, Laos, and Pakistan), among which 500 bhikshus from Burma,
who were well versed in the study and practice of the teachings of
the Buddha, were invited to take the responsibility for re-examining
the text of the entire Pali canon. The Great Council was inaugurated
in 1954, was to go on till the completion of its task at the full
moon of Vaiskha in 1956, that is, 2,500th anniversary of the Buddha’s
mahaparinirvana.
** Nhiều người cho rằng Đại Hội
Kết Tập lần thứ năm và sáu là không cần thiết vì Kinh Điển đã hoàn
chỉnh mỹ mãn sau lần kết tập thứ tư. Ngoài ra, còn có nhiều Hội Nghị
khác ở Thái Lan và Tích Lan, nhưng không được coi như là Nghị Hội
đúng nghĩa—Many people believed that the fifth and the sixth councils
were not necessary because after the Fourth Council, all Tripitaka
scriptures were collected satisfactorily. Besides, there were many
other Councils in Thailand and Ceylon, but they were not considered
Councils in the true sense of the term.
·
Hội nghị được triệu tập dưới triều vua Devanampiya Tissa
(247-207 trước Tây Lịch). Hội nghị được chủ tọa bởi tôn giả Arittha.
Hội nghị nầy được tổ chức sau khi phái đoàn truyền giáo của Hòa Thượng
Ma Thẩn Đà, con vua A Dục, đến Tích Lan. Theo lời kể thì có sáu vạn
A La Hán tham dự. Thượng Tọa Arittha (người Tích Lan, đại đệ tử của
Ma Thẩn Đà thuộc dòng Thera Simhala) tuyên đọc Pháp điển: A Council
was held during the reign of King Devanampiya Tissa (247-207 B.C.)
under the presidentship of Venerable Arittha Thera. This Council was
held after the arrival in the island of Buddhist missionaries, headed
by Thera Mahinda, a son of Emperor Ashoka. According to tradition,
sixty thousand Arhats took part in the assembly. Venerable Thera Arittha,
a Simhalese Bhikshu, a great disciple of Thera Mahinda in the line
of Simhalese Theras, recited the Canon.
·
Theo Sangitisamva thì một Hội Nghị được triệu tập dưới
triều vua Mahanama vào năm 516 Phật Lịch. Trong hội nghị nầy chỉ có
các bài luận giải được dịch từ tiếng Simhala (Tích Lan) ra tiếng Ma
Kiệt Đà (pali) bởi tôn giả Bhadhanta Busshaghosa: As mentioned in
the Sangitivamsa, another Council was held during the reign of King
Mahanama in 516 Buddhist calendar in which only the commentaries were
translated from Sinhalese into Magadhi (Pali) by Bhadanta Buddhaghosa.
·
Một hội nghị khác diễn ra tại Sri-Lanka vào năm Phật
Lịch 1587 dưới triều vua Parakramabahu. Hội nghị nầy diễn ra trong
hoàng cung và kéo dài một năm. Các đại trưởng lão tuyên tụng lại luận
tạng của các Đại Trưởng Lão dưới sự chủ trì của tôn giả Đại Ca Diếp:
Another Council was held in 1587 Buddhist Calendar in the reign of
King Parakramabahu. The conference took place in the royal palce and
lasted for one year. The Council was presided by Venerable Mahakapsyapa,
and it is said to have revised only the commentaries of the tripitaka
of the Mahatheras.
·
Một Hội Nghị khác đã diễn ra tại Thái Lan trong khoảng
những năm 2000 hay 2026 Phật Lịch, và kéo dài một năm. Nhằm
xây dựng Phật giáo trên một nền tảng vững chắc, vua Sridharmacakravarti
Tilaka Rajadhiraja, vị vua trị vì miền Bắc Thái Lan, đã triệu tập
hội nghị nầy tại Chieng-Mai, lúc đó là kinh đô nước này: Another Council
took place in Thailand either in 2,000 or in 2,026 Buddhist
Calendar, and it lasted for one year. In order to establish Buddhism
on a firm basis, King Sridharmacakravarti Tilaka Rajadhiraja, the
ruler of Northern Thailand called this Council in Chieng-Mai, his
capital.
·
Một hội nghị khác ở Thái Lan, diễn ra vào năm 2331 Phật
Lịch, sau một cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và một nước láng giềng.
Kinh đô cũ của Thái là Ayuthia bị thiêu rụi và nhiều bộ sách cùng
tam tạng cũng ra tro. Lại thêm Tăng chúng bị rối loạn và đạo đức sa
sút vì tình trạng thù địch kéo dài. Thế nên vua Rama I cùng hoàng
đệ của ông triệu tập hội nghị để lấy lại niềm tin của mọi người. Dưới
sự bảo trợ của vương triều, có 218 trưởng lão và 32 học giả cư sĩ
họp lại làm việc liên tục trong một năm để kết tập bộ tam tạng: Another
Council was held in Thailand in 2331 Buddhist Calendar. After a war
with its neighboring country, the old capital Ayuthia was destroyed
by fire and many books and manuscripts of the Tripitaka were reduced
to ashes. Moreover, the Sangha was disorganized and morally weakened
by reason of prolonged hostility. Thus, King Rama I and his brother
called for a Buddhist Council to restore the faith from everyone.
Under the royal patronage, 218 elders and 32 lay scholars assembled
together and continued the recitation of the Tripitaka for about a
year.
Kết
Thán: Tán thán phần kết của bài kinh hay đoạn kinh—A sigh
of praise at the close of a passage of a sutra.
Kết
Thân: To join by marriage.
Kết
Thúc: See Kết luận.
Kết
Tóc Xe Tơ: To get married.
Kết
Trụ: Làm dấu kim cang ái trụ, như dấu hiệu của Đức Tỳ Lô
Giá Na để kiểm soát quỷ thần—Đây là một phương pháp của Mật Tông—To
make the sign of the Vajra armour and helmet, i.e. of Vairocana, in
order to control the spirits—A method of the esoteric sects.
Kêu
Án: To convict—To sentence—To condemn.
Kêu
Ca: To complain.
Kêu
Cứu: To call (cry) for help.
Kêu
La: To yell—To shout.
Kêu
Na: To beseech.
Kêu
Oan: To claim one’s innocence.
Kêu
Rêu: To backbite.
Kêu
Van: See Kêu nài.
Kích
Bác: To criticize—To find fault with.
Kiêm:
Cả hai—Both—Also.
Kiêm
Đản Đối Đới: Bốn thời kỳ đầu của giáo thuyết Phật Đà được
tông Thiên Thai định nghĩa là Kim Đản Đối Đới (bốn thời kỳ nầy đều
nói về tướng)—The first four of the five periods of Buddha’s teaching
defined by the T’ien-T’ai sect.
1)
Kim: Thời Hoa Nghiêm nói về Viên Giáo và Biệt Giáo—Combined
teaching, including the complete and differentiating doctrines, the
period of Avatamsaka Sutra.
2)
Đản: Thời A Hàm chỉ nói về Tạng Giáo Tiểu Thừa—Sole, i.e. Hinayana
only, that of Agamas.
3)
Đối: Thời Phương Đẳng, bốn giáo Tạng Thông Biệt Viên được thuyết
giảng đối chiếu với nhau—Comparative, all four forms of doctrines
being compared, the period of the Vaipulya Sutras.
4)
Đới: Thời Bát Nhã Viên giáo được hé mở để hoàn thiện những
giáo thuyết ở Tạng Thông Biệt—Inclusive, that of the Prajna, when
the perfect teaching was revealed as the fulfilment of the rest.
Kiêm
Lợi: Cả hai cùng có lợi (cả mình lẫn người đều được lợi
lạc)—Mutual benefit; to benefit self and others.
Kiếm:
1)
Lưỡi Kiếm: A sword (a two-edged sword).
2)
Tìm kiếm: To search for—To look for.
Kiếm
Ba: Kampa or Bhukampa (skt)—Chấn Địa Thiên—Deva of earthquakes.
Kiếm
Chác: To make profit
Kiếm
Chuyện: To find fault with—To seek/pick a quarrel
with.
Kiếm
Lâm Địa Ngục: Asipattra (skt)—Một trong mười sáu tiểu địa
ngục, địa ngục rùng kiếm—One of the sixteen small hells, the hell
of the forest of swords, or sword-leaf trees.
Kiếm
Luân Pháp: Một hệ thống kiếm xoay để hàng phục ma quân—A
system of revolving swords for subduing demons.
Kiếm
Ma Xá Đề: Kiếm Ma Xá Đế.
1)
Ma quân: A spirit or demon.
2)
Con đẻ của dục vọng không kềm chế được: The ungovernable, son
of Kama (Love and Lust).
Kiếm
Sơn: Kiếm Lâm Địa Ngục, and Địa Ngục in Vietnamese-English
Section.
Kiếm
Thụ Địa Ngục: See Kiếm Lâm Địa Ngục.
Kiềm
Chế: To subdue—To master one’s passions—To overcome.
Kiềm
Chế Dục Vọng: To dominate one’s passions.
Kiềm
Hãm: To check—To control.
Kiềm
Tỏa: To restrain—To bind.
Kiểm:
To check—To revise.
Kiểm
Duyệt: To censor—Censorship.
Kiểm
Soát: Samyama or Sannama (p)—Control—Restraint—Self-control.
Kiểm
Soát Các Căn: Samyatendriyah (p)—Control of senses.
Kiểm
Soát Và Quân Bình: Checks and balances
Kiểm
Tra: To examine—To inspect.
Kiên:
1)
Vai: Shoulder.
2)
Kiên định: Drdha (skt)—Firm—Firmly fixed—Reliable.
Kiên
Chí: Persevering—Constant—Patient
Kiên
Cố: Vững chắc không thay đổi hay không bị lay chuyển—Firm
and sure.
Kiên
Cố Huệ: Trí huệ không gì lay chuyển được—Strong in wisdom.
Kiên
Cố Lâm: Rừng cây Sa La nơi Đức Phật nhập diệt (vì rừng
cây Sa La không hề tàn dù hạ hay dù đông nên gọi là Kiên Cố Lâm)—The
grove of Sala trees, in which Sakyamuni died.
Kiên
Cố Ý: Ý chí vững chắc không gì lay chuyển được—Firm-willed.
Kiên
Cố Ý Bồ Tát: Kiên Cố Ý Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—Firm-Willed
Bodhisattva in the Garbhadhatu.
Kiên
Định: To be determined.
Kiên
Gan: Persevering—Patient.
Kiên
Hạ: Vai kề vai—Shoulder by shoulder—One next to another.
Kiên
Lao: Chỉ sự vững chắc của đất—Firm and stable; that which
is stable, the earth.
Kiên
Lao Địa Thần: Còn gọi là Kiên Lao Địa Thiên, hay Kiên Lao
Địa Kỳ, tên của vị Nữ Thần Đại Địa, tức là đất vững bền và Thần kiên
cố—The earth-goddess, or deity, or spirit.
Kiên
Mãn Bồ Tát: Dhrtiparipurna (skt)—Vị Bồ Tát kiên cố viên
mãn, về sau thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Phật—The firm and complete
bodhisattva, who is to be Buddha Padma-vrsabha-vikramin, attending
on Padmaprabha.
Kiên
Nhẫn: Persevering—Patient.
Kiên
Pháp: Ba việc bảo đảm cho những người tín tâm vào tái sanh
(ý nói nếu quên đi thân mệnh, vứt bỏ của cải thế tục mà tu đạo thì
sẽ có được cái thân vô cực, cái mệnh vô cùng, và cái tài vô tận)—The
three things assured to the faithful in reincarnation.
1)
Thân tướng hảo: Người tu đạo sẽ được cái thân vô cực—A good
body.
2)
Trường Thọ: Mệnh vô cùng—A long life.
3)
Tài sản vô biên: Tài vô tận—Boundless wealth.
Kiên
Quyết: Firm—Determined.
Kiên
Thân: See Kim Cang Thân.
Kiên
Thệ Sư Tử: Sư Tử Kiên Thệ, hay thệ nguyện xả thân của sư
tử khi đã ngộ đạo. Đức Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp khi còn ở nhân
vị đã nói về công đức của áo cà sa cho sư tử Kiên Thệ lông vàng nghe.
Nghe xong sư tử bèn thể nguyện xả thân—The firmly vowing lion, i.e.
Sakyamuni in a previous incarnation.
Kiên
Thực: Kiên thật—Firm and solid.
Kiên
Thực Tâm: Tâm kiên thật không gì có thể thay đổi hay lay
chuyển được—Firm heart.
Kiên
Trí:
1)
Trí huệ không có gì có thể thay đổi hay lay chuyển được: Firm
knowledge or wisdom.
2)
Tên của Kim Cang Thần: Name of Vajrapani—See Vajrapani in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Kiên
Trì: To persevere.
Kiên
Tuệ: See Kiên Ý.
Kiên
Ý: Sthiramati (skt)—Còn gọi là Kiên Tuệ—Firm mind, also
called firm wisdom.
1)
Tâm ý hay trí tuệ kiên cố không gì có thể thay đổi hay lay
chuyển được: Firm mind or wisdom.
2)
Bồ Tát Sa La Mạt Để, thuộc Phật Giáo Đại Thừa, xuất hiện sau
khi Đức Phật nhập diệt khoảng 700 năm: Name of Sthramati Bodhisattva,
an early Indian monk of the Mahayana, about 700 years after the Buddha’s
nirvana.
3)
Bồ Tát Tất Xỉ La Mạt Để, soạn bộ Nhập Đại Thừa Luận: Sthiramati
Bodhisattva who composed The Commentaries on Entering Mahayana.
Kiến:
(A)
Nghĩa của Kiến—The meanings of “Kiến.”
1)
Giáo lý: Theory—Doctrine.
2)
Kiến lập:
·
Kiến lập cơ sở: To found—To set up—To establish—To build
a school, a market, a house, etc.
·
Kiến lập môn phái: To found or to set up a school of
thought or practice.
3)
Kiến Giải (thấy): Darsana (skt)—Nại Lạt Xả Nang—Suy nghĩ tìm
tòi để hiểu rõ mà chọn lựa (khẳng định sự lý, kể cả ý nghĩa chính
đáng và không chính đáng)—Seeing—Discerning—Views—Opinions—Judgment—Thinking—Reasoning—Discriminating—Selecting
truth.
4)
Niềm tin: Belief.
5)
Thấy: Seeing—Thấy bằng—Seeing by:
a)
Cái thấy của phàm phu—The seeing of ordinary people: Dassanam
(p)—Darsana (skt).
·
Quan sát: Observing.
·
Chú ý: Noticing.
·
Khảo sát: Examining.
·
Trầm ngâm suy tưởng: Contemplating.
b)
Cái thấy của bậc Thánh nhân—The seeing of saintly people: Darsayati
(p)—Drisdarsam (skt).
·
Thấy bằng trực tâm: Seeing with the mind.
·
Thấy bằng trực giác: Seeing by divine intuition.
(B) Phân
Loại Kiến—Categories of “Kiến.”—For more information, please see Nhị
Kiến, Ngũ Kiến Thô Thiển, Ngũ Kiến Vi Tế, Tà Kiến and Hữu Kiến.
Kiến
Ái: Tất cả mọi mê hoặc về lý như ngã kiến tà kiến, cũng
như tất cả mọi mê hoặc về tham, sân, si đều là gốc rễ của khổ đau
phiền não—Views and desires are the root of all suffering, i.e. the
illusion that the ego is a reality and the consequent desires and
passions.
** For more information,
please see Kiến
Hoặc Tư Hoặc and Tam Hoặc.
Kiến
Chánh:
1)
Thấy đúng theo Chánh Pháp: Seeing correctly.
2)
Tên của một đệ tử Đức Phật, nghi ngờ về hậu thế: Name of a
disciple of the Buddha who doubted a future life.
Kiến
Chánh Kinh: Một vị đệ tử của Phật tên là Kiến Chánh, nghi
ngờ về hậu thế. Nhân đó Phật đã đưa ra nhiều thí dụ để bác bỏ những
thiên kiến mê chấp (đoạn kiến và thường kiến) của Tỳ Kheo Chánh Kiến—A
Bodhisattva name “Correct Vision,” a disciple of the Buddha who doubted
a future life, to whom the Buddha is said to have delivered the contents
of the Correct Vision Sutra.
Kiến
Chân: Tattva-dris (skt)—Perceiving truth—Thấy được chân
tánh tuyệt đối của vạn hữu—To behold truth or ultimate reality.
Kiến
Chấp: View-attachment.
Kiến
Chí Bộ La: Kancipura (skt)—Kiến Chí Thành—Kinh đô của Dravida,
bây giờ là Conjevaram, khoảng chừng 48 dậm về phía tây nam Madras—Capital
of Dravida, the modern Conjevaram, about 48 miles south-west of Madras.
Kiến
Chính: See Kiến Chánh.
Kiến
Chướng: Các loại tà kiến dấy lên gây chướng ngại cho Bồ
Đề Tâm—The obstruction of heterodox views to enlightenment.
Kiến
Đà Ca: Kanthaka (skt)—Ngựa “kiền trắc” mà Thái tử Tất Đạt
Đa đã cỡi ra khỏi kinh thành để xuất gia (người ta nói con ngựa nầy
là hóa thân của Đế Thích)—The horse on which Sakyamuni rode when he
left home.
Kiến
Đại: Kiến tính bao trùm khắp pháp giới, một trong thất
đại như sắc tính bao trùm khắp pháp giới—Visibility or perceptibility
as one of the seven elements of the universe.
Kiến
Đạo:
1)
Con đường của sự thấy biết chân lý: Darsanamarga (skt)—Ditthimagga
(p)—The path of insight.
2)
Ditthapada (p)—Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh tử,
như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát (bậc đã thấy được chân lý)—Theory,
the way or stage of beholding the truth, i.e. that of the Sravakas
and the first stage of Bodhisattva (one who has seen the Truth).
** For more information,
please see Tam Đạo
(B).
Kiến
Đế: Chứng ngộ chân lý—The realization of correct views.
1)
Bậc Thánh chứng quả Dự Lưu trong Tiểu Thừa: The Hinayana stage
of one who entered the stream of holy living.
2)
Bồ Tát Kiến Địa trong Đại Thừa (trên bậc sơ địa): The Mahayana
stage after the first Bodhisattva stage.
Kiến
Địa: Thấy được chân lý Tứ Đế, vị thứ tư trong thập địa,
tương đương với quả vị “Dự Lưu” trong Tiểu Thừa—The stage of insight—The
discernment of reality of the four Noble Truths, the fourth in the
ten stages of progress toward Buddhahood, agreeing with the fruit
of stream-entry of Hinayana.
** For more information,
please see Thập Địa
Bồ Tát Tam Thừa.
Kiến
Điên Đảo: Mắt nhận biết ngoại cảnh điên đảo hư ảo mà cho
là thực, một trong ba điên đảo—To see things upside down—To regard
illusion as reality, one of the three subversions (subverters).
** For more information,
please see Tam Điên
Đảo.
Kiến
Độc: Chất độc hay sự độc hại của tà kiến—The poison of
wrong views.
Kiến
Giải: Samakhya (skt)—Comprehension—Understanding.
Kiến
Hành: Rational behaviour—See Ái Hành.
Kiến
Hiệu: Effective.
Kiến
Hoặc: Các loại phiền não và cám dỗ khởi lên từ tà kiến—Perplexities
or illusions and temptations arise from false views or theories—Delusive
views—Delusions of views.
Kiến
Hoặc Tư hoặc: Ảo tưởng đưa đến tà kiến—Illusory or misleading
views and thoughts:
1)
Kiến Hoặc: Các loại vọng kiến, phân biệt tà vạy, gây ra những
mê hoặc—Delusions in the visible world.
2)
Tư Hoặc: Lấy tình cảm mê chấp tham, sân, si, mà nghĩ cảm về
vạn hữu trên thế gian—Illusions in the mental or moral world.
** For more
information, please see Tam
Hoặc.
Kiến
Huệ: Do sự tu tập thiền định mà được phát trí tuệ về các
thứ kiến chấp—The wisdom of right views, arising from dhyana meditation.
Kiến
Kết: Phiền não do tà kiến gây ra khiến chúng sanh lăn trôi
trong luân hồi sanh tử, một trong cửu kết—The bond of heterodox views,
which fastens the individual to the chain of transmigration, one of
the nine attachments.
** For more information,
please see Cửu Kết
and Cửu Phược.
Kiến
Lập: Samaropa (skt).
·
Xây dựng—Thành lập—Sáng lập—To build—To establish—To
errect—To set up—To found a school, sect, thought or practice.
·
Sự khẳng định hay sự thiết lập lý trí, trái lại với
đối lập: Assertion, or theory-making. Samaropa stands against refutation
(apavada).
Kiến
Lập Trí: Pratishthapikabuddhi (skt)—Cái trí nhờ đó một
mệnh đề được thiết lập—The intelligence whereby a proposition is set
up.
Kiến
Lậu: Ảo tưởng tà kiến cho rằng những thứ giả hợp là có
thật—The illusion of viewing the seeming as real.
Kiến
Nghị: Motion.
Kiến
Phân Biệt: Drishtivikalpa (skt)—Các thứ kiến giải dựa vào
sự phân biệt nhị biên về hiện hữu –Views based on the dualistic discrimination
of existence.
Kiến
Phật: Thấy báo thân và ứng thân của Phật—Beholding Buddha—To
see Buddha.
1)
Hàng phàm phu và nhị thừa, do cái biết phân biệt nên chỉ thấy
được ứng thân của Phật: Due to clinging to discrimination, ordinary
people and Hinayana see only the nirmanakaya or body of incarnation
of the Buddha.
2)
Bồ Tát và Đại Thừa, không còn phân biệt nên thấy cả ứng thân
và báo thân Phật: Bodhisattvas and Mahayana, without clinging to discrimination,
see both the body of incarnation (nirmanakaya) and the spiritual body
or body in bliss (sambhogakaya) of the Buddha.
3)
Những người không có duyên lành (không trồng căn lành) ở kiếp
trước không thấy cả hai thứ ứng thân và báo thân: Those who did not
cultivate good roots in their past lives, see neither nirmanakaya
nor sambhogakaya of the Buddha.
Kiến
Phi Kiến: Những cái dễ thấy dễ biết và những điều sâu sắc
huyền diệu—The visible and the invisible—Phenomenal and noumenal.
Kiến
Phược: Phiền não do tà kiến (cho những thứ giả hợp là có
thật) gây ra, trói buộc con nguời vào vòng sanh tử—The bond of the
illusion of heterodox opinions which binds men and robs them of freedom
(mistaking the seeming for the real).
** For more information,
please see Cửu Kết
and Cửu Phược.
Kiến
Quốc: To found (build up) a state.
Kiến
Sơ: Tên của một ngôi chùa tọa lạc tại làng Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Theo Thiền Uyển Tập Anh và
Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, chùa được xây vào trước năm 820
bởi Thiền Sư Cẩm Thành người huyện Tiên Du. Trước kia sư tu ở chùa
Phật Tích, sau được một ông phú hộ họ Nguyễn mời về Kiến Sơ lập chùa.
Đến năm 820, bên Tàu là đời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn Thông,
trụ trì chùa Hòa An, thuộc tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc, sang nước
ta, đến làng Phù Đổng, được Thiền Sư Cảm Thành tôn làm Thầy, mời ở
lại trụ trì chùa Kiến Sơ. Từ đó Kiến Sơ trở thành trung tâm của Thiền
Phái Vô Ngôn Thông. Hiện tại trong chùa vẫn còn tượng Lý Công Uẩn
và mẹ ông ở hai bên điện thờ Tam Bảo. Trong điện thờ Tổ có gác chuông
với kiến trúc nổi bậc và chiếc khánh bằng đá cổ, đường kính 2 mét
3, chiếu cao sáu tấc, bề dầy 17 phân. Kiến Sơ là một trong những ngôi
chùa cổ của Việt Nam được xây cất trước thế kỷ thứ 5, chùa đã được
trùng tu nhiều lần—Name of a temple, located in Phù Đổng village,
Gia Lâm district, Hà Nội province, North Vietnam. According to Thiền
Uyển Tập Anh and Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, the temple was
built before 820 by Ch’an Master Cẩm Thành from Tiên Du district.
He previously practised Buddhism at Phật Tích Pagoda, then was requested
by a rich landlord, whose last name was Nguyễn, to move to Kiến Sơ
temple and built it. In 820, during the T’ang dynasty, Ch’an Master
Wu Yun T’ung, Head of Hòa An Temple in Kuang-Chou province, in China,
arrived in Vietnam. He went to Phù Đổng village and later became Ch’an
Master Cẩm Thành’s teacher. He, then, was invited to stay and appointed
to be head of Kiến Sơ Temple. Since then, the temple has become the
center of the Wu-Yun-T’ung Sect. At present, the statues of Lý Công
Uẩn and his mother are placed on the left and right sides of the temple’s
Buddhist Trinity. Inside the Patriarch Hall is a remarkably architectural
bell tower and an old stone gong, 2.3 meters wide, 0.60 meter high,
0.17 meter thick, has still been kept in the temple. Kiến Sơ is one
of the most ancient temples in Vietnam which was constructed before
the fifth century. It has been rebuilt many times—See Cảm Thành.
Kiến
Tâm Kiến Tánh: Seeing (beholding) the Mind, beholding the
Nature.
Kiến
Tánh: Nhìn thấy được Phật tánh hay nhìn thấy bản tánh thật
của chính mình. Về mặt từ nghĩa, “kiến tánh” và “ngộ” có cùng một
ý nghĩa và chúng thường được dùng lẫn lộn với nhau. Tuy nhiên khi
nói về sự giác ngộ của Phật và chư tổ, người ta thường dùng chữ “ngộ”
hơn là “kiến tánh” vì ngộ ám chỉ một kinh nghiệm sâu hơn. Đây là một
câu nói thông dụng trong nhà Thiền—To behold the Buddha-nature within
oneself or to see into one’s own nature. Semantically “Beholding the
Buddha-nature” and “Enlightenment” have virtually the same meaning
and are often used interchangeably. In describing the enlightenment
of the Buddha and the patriarchs, however, it is often used the word
“Enlightenment” rather than “Beholding the Buddha-nature.” The term
“enlightenment” implies a deeper experience. This is a common saying
of the Ch’an (Zen) or Intuitive School.
Kiến
Tánh Thành Phật: Thấy được tự tánh và thành Phật—To see
one’s own nature and become a Buddha—To behold the Buddha-nature to
reach the Buddhahood or to attain enlightenment.
Kiến
Tạo: To build—To errect—To construct.
Kiến
Thiết: See Kiến Tạo.
Kiến
Thủ: Kiến chấp tà vạy, một trong tứ thủ—Clinging to heterodox
views, one of the four kinds of clinging.
** For more information,
please see Tứ Thủ.
Kiến
Thủ Kiến: Drstiparamasra (skt).
·
Những tranh cãi do chấp vào ý kiến cố chấp vào thiên
kiến của mình, một trong ngũ Kiến—Wrong views caused by attachment
to one’s own erroneous understandings—To hold heterodox doctrines
and be obsessed with the sense of the self.
·
Kiến thủ kiến (khư khư bảo thủ ý kiến của mình)—Conservative
standpoint: Lối nầy là khuynh hướng của những người giữ lấy ý mình
và chống lại sự thay đổi. Không ý thức được sự sai quấy, mà vẫn giữ
ý, không thèm nghe người khác; hoặc vì tự ái hay vì cứng đầu
ngang ngạnh cứ tiếp tục giữ cái sai cái dở của mình. Chẳng hạn như
ở Việt Nam người ta có thói quen đốt giấy vàng mã theo phong tục của
Trung Hoa trong đám tang. Kỳ thật, đám tang theo nghi thức Phật giáo
thật đơn giản. Thân bằng quyến thuộc tề tựu về tụng Kinh A Di Đà để
hộ niệm cho người chết thoát khổ. Phật tử, nhất là chư Tăng Ni thích
được hỏa táng hơn là địa táng vì cách nầy vừa đở tốn kém lại vừa hợp
vệ sinh hơn. Hơn nữa, theo thời gian đất chôn sẽ tăng một cách đáng
kể làm giảm đi đất dành cho sự canh tác và xây cất các công thự tiện
ích khác—That is the tendency of those who maintain their point of
view or resist and oppose change. For example, there are some out-dated
customs still practiced in Vietnam such as using Chinese money papers
and burning them at funeral ceremonies. In fact, Buddhist funeral
rites are simple. Relatives and friends recite the Amitabha Sutra
to help free the dead from suffering. Buddhists, especially monks
and nuns, prefer cremation to burial, since the first mode is
more economic, and hygienic than the second one. Moreover, with time,
the burial grounds would extend considerably, reducing thus the land
reserved for cultivation and other utilities.
** For more information,
please see Ngũ Kiến
Thô Thiển and Ngũ Kiến Vi Tế.
Kiến
Thủ Sứ: The trials of delusion and suffering from holding
heterodox doctrines.
Kiến
Thức: Learning—Knowledge.
Kiến
Thức Phàm Phu: Worldly knowledge.
Kiến
Thức Phân Biệt Của Phàm Phu: Kiến thức biện biệt của phàm
phu, phân biệt ta và người, đúng và sai—Differentiating knowledge—For
ordinary beings, it is the everyday mind continually making distinction
between self and others, right and wrong—Provisional wisdom.
Kiến
Thức Rộng: Wide knowledge.
Kiến
Tính: See Kiến Tánh.
Kiến
Tranh: Cố chấp nơi ý kiến sai lầm của mình mà tranh cãi—Wrangling
on behalf of heterodox views; striving to prove them.
Kiến
Trọc: See Kiến Trược.
Kiến
Trược: Drsti-kasaya (skt)—Tà kiến khởi lên làm vẩn đục
Chánh Pháp, một trong ngũ trược—Wrong views which cause corruption
of doctrinal views, one of the five corruptions.
** For more information,
please see Ngũ
Trược.
Kiến
Tu: Kiến hoặc và tu hoặc (kiến hoặc là mê hoặc về nghĩa
lý mà bậc kiến đạo phải dứt bỏ; tu hoặc là mê hoặc về sự việc mà người
tu phải loại trừ)—Wrong views and wrong views in practice (heterodoxy).
Kiến
Tuệ: See Kiến Huệ.
Kiến
Tư: Views and thoughts—See Kiến Hoặc and Tư Hoặc.
Kiến
Tư Giới: The realm of view and thought.
Kiến
Tướng: Chuyển Tướng—Theo Khởi Tín Luận, do cái nghiệp tướng
thứ nhất mà chuyển hóa thành các tướng có thể thấy được—The state
or condition of visibility, which according to the Awakening of Faith,
arises from motion.
Kiến
Văn:
1)
Thấy và nghe—Experience—Knowledge—Learning—Seeing and hearing.
2)
Thấy Phật bằng mắt và nghe Phật pháp bằng chính tai của mình—Beholding
the Buddha with the eyes and hearing his truth with the ears.
Kiến
Võng: Lưới bủa của tà kiến (trói buộc không cho thân tâm
ta giải thoát khỏi luân hồi sanh tử)—The net of heterodox views, or
doctrines, which binds men and rob them of freedom.
Kiến
Vương Trai: Lễ cúng Trai Tăng ba ngày sau khi có người
chết, khi mà vong linh người chết đang chầu Diêm Vương (Lễ Kiến
Diêm Vương)—The service on the third day when the deceased goes to
see King Yama.
Kiến
Xứ: Ngay nơi tà kiến khởi sanh luân hồi—The state of wrong
views—The state of wrong views gives rise to transmigration.
Kiền
Đạt Bà: Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Kiền
Trắc: Kanthaka (skt & p)—Tên con ngựa mà Đức Phật đã
dùng để cỡi khi Ngài rời bỏ cung điện để đi xuất gia—The name of the
steed (horse) on which Sakyamuni Buddha was mounted when he left his
palace to renounce the world (rode away from home).
Kiện:
1)
Bò thiến: A gelded bull, an ox.
2)
Chốt khóa hay chốt bánh xe: The bolt of a lock.
3)
Khóa lại: To lock.
4)
Kiện cáo: To sue—To have a law-suit against someone.
5)
Mạnh mẽ: Strong—Sturdy—Hard—Unwearied.
6)
Một loại động vật nửa người nửa báo: A creature half man, half
leopard.
Kiện
Cáo: Law suit—Case.
Kiện
Dũng Tọa: Cách ngồi kiết già của Đức Phật, hai bàn chân
tréo lên hai đùi—The heoric posture of the Buddha with his feet on
his thighs soles upward.
Kiện
Đà La: Gandhara (skt)—Tên vương quốc cổ Kiện Đà La ở vùng
bắc Ấn Độ—Name of an ancient kingdom, north of India.
Kiện
Đà Lê: Gandhara (skt)—Loại mật chú cho ta khả năng bay
được—A spell that gives power to fly.
Kiện
Đạt: Gandha (skt).
1)
Hương thơm: Smell—Scent.
2)
Một loại cây làm nhang thơm: A tree producing incense.
Kiện
Địa: Khanda (skt)—See Kiện Độ.
Kiện
Độ: Khanda (skt).
1)
Một miếng, một mảnh, một phần, một chương sách—A piece, a fragment,
a portion, a section, a chapter.
2)
Quy luật tự viện: Monastic rules.
Kiện
Đức: See Kiền Trắc.
Kiện
Hoàng Môn: Cung điện của quan thái giám—Palace eunuchs.
Kiện
Khang: To be in good health—See Kiện (4).
Kiện
Nam:
1)
Người bị thiến: Pandaka (skt)—A eunuch by castration (deprive
of testes, or ovaries; render impotent).
2)
Thời kỳ thứ tư trong năm thời kỳ của bào thai, tức là 47 ngày
sau khi thọ thai (thời kỳ kiên hậu): Ghana (skt)—The fourth in the
five periods of a foetus, a foetus of forty-seven days.
3)
Vững chắc: Solid—Compact—Firm.
Kiện
Từ: Kiến Chi—Kiến Từ—Kiền Từ—Thiển Thiết Bát hay chiếc
bát cạn bằng sắt, loại bát sắt nhỏ, một trong 8 vật cần có của một
vị Tỳ Kheo—A bowl, small almsbowl, one of the eight requisites of
monks and nuns (attha-parikkhara).
** For more information,
please see Tám Món
Cần Dùng Của Phật.
Kiêng:
To abstain from—To forbear—To be on a diet.
Kiêng
Cữ: Abstinence—Forbearance—Abstention---To abstain.
Kiêng
Dè: To economize—To save.
Kiêng
Nể: To have regard and consideration for—To respect.
Kiêng
Thịt: To abstain from eating meat.
Kiêng
Tránh: To abstain
Kiếp:
Kalpa (skt).
(I)
Nghĩa của Kiếp—The meanings of Kalpa:
1)
Một khoảng thời gian rất dài: Aeon—Life—An infinitely long
time.
2)
Khoảng thời gian một ngày một đêm trên cõi Trời Phạm Thiên
(tương đương với 4 tỷ 320 triệu năm): The length of a day and night
of Brahma (4.320.000.000 years).
3)
Khoảng thời gian từ lúc vũ trụ được thành lập, đến hoại diệt
rồi lại được thành lập: A period of time between the creation and
recreation of a world or universe.
4)
Lấy áo trời vỗ vào một tảng đá dài 40 dậm, cứ mỗi trăm năm
lại vỗ một lần, cứ thế cho đến khi áo trời rách nát, tiểu kiếp vẫn
chưa hết—To pass a heaven cloth over a solid rock 40 li in size once
in a hundred years, when finally the rock has been thus worn away
a kalpa will not yet have passed.
(II) Phân
loại Kiếp—Categories of Kalpas:
(A) Phân
loại theo Phương cách, có ba loại—Methodologically speaking, there
are three types of kalpas:
1)
Tiểu Kiếp: Small kalpa—See Tiểu Kiếp.
2)
Trung Kiếp: Middling Kalpa—See Trung Kiếp.
3)
Đại Kiếp: Mahakalpa—See Đại Kiếp.
(B) Phân
loại theo sự cấu tạo vụ trụ—Có bốn loại kiếp—Categories based on the
formation of the universe—The kalpa is divided into four parts:
1)
Thành Kiếp: The period of world formation.
2)
Trụ Kiếp: The period of world-continuation (stability or development).
3)
Hoại Kiếp: The period of the world-dissolution.
4)
Không Kiếp: The period of void.
Kiếp
Ba: Kalpa (skt)—See Kiếp.
Kiếp
Bất Hạnh: A wretched life
Kiếp
Bố Đảm: Kapotana or Kebudhana (skt)—Vương quốc cổ, bây
giờ là Kebud, về phía Bắc của Samarkand—An ancient kingdom, the modern
Kebud, north of Samarkand.
Kiếp
Bố La: Karpura (skt)—Hương long não—Camphor, described
as dragon-brain scent.
Kiếp
Con Người Ngắn Ngủi: The shortness of our lifespan on earth.
Kiếp
Diệm: Kalpa-flames—See Kiếp Hỏa.
Kiếp
Độc: Kiếp bất tịnh, khi mà tuổi thọ giảm và bệnh hoạn hoành
hành chúng sanh—The impure or turbid kalpa, when the age of life is
decreasing and all kinds of diseases afflict men.
Kiếp
Hải: Số lượng kiếp rất nhiều, ví như lượng nước biển—The
ocean of kalpas, great in number.
Kiếp
Hỏa: Kiếp Diệm—Kiếp Tận Hỏa—Kiếp Thiêu—Hỏa tai trong thời
hoại kiếp, một trong đại tam tai (kiếp hỏa tai sẽ đốt hết từ mặt đất
cho đến cõi sơ thiền)—The fire in the kalpa destruction, one of the
three great calamities.
Kiếp
Hôi: Kiếp tro, thời kỳ chỉ toàn những tro, ngay sau sự
tàn phá của kiếp hỏa—Kalpa-ash, the ash after the fire kalpa of destruction.
Kiếp
Kiếp: Generations after generations.
Kiếp
Luân Hồi: In Samsara.
Kiếp
Nầy Và Nhơn Quả: Kiếp nầy và nhơn quả theo Kinh Nhân Quả—Present
life and cause and effect according to Cause and Effect Sutra.
1) Kiếp Nầy Canh Cô Quạnh Quẻ Cũng
Vì Kiếp Trước Hay Hãm Hại Người Khác: Being all alone in this
life is the consequence of harming other people with a wicked mind
in previous life.
2) Kiếp Nầy Câm, Điếc, Đui
Mù Cũng Vì Kiếp Trước Hay Phỉ Báng (Người Tụng Đọc) Kinh Điển Đại
Thừa: Being dumb, deaf, or blind in this life is the consequence
of slandering (people who read or recite) Mahayana sutras in previous
life.
3) Kiếp Nầy Chẳng Tu Còn Đợi Đến
Kiếp Nào ? If we do not cultivate in this life, then when
will we do so ?
4)
Kiếp Nầy Có Xe Có Ngựa Vì
Tiền Kiếp Hay Sửa Cầu Vá Lộ: Having the previlege to ride on
a horse or travel in luxurous sedan cars in this life is the consequence
of one’s contribution made to public welfare by building the bridges
and repairing the roads in his previous life.
5)
Kiếp Nầy Con Cháu Đầy Đàn
Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Phóng Sanh Lợi Vật: Having so many children
and grandchildren in this life is the consequence of setting free
birds, animals as well as doing good deeds to other beings in previous
life.
6)
Kiếp Nầy Được Kính Trọng Nể
Vì Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Kính Trọng Nể Vì Người Khác: Being
respectful in this life is the consequence of paying respect to other
people in previous life.
7)
Kiếp Nầy Hay Gây Hờn Chuốc
Não Cho Người, Kiếp Sau Sẽ Bị Cọp Beo Rắn Hãm Hại: To create
hatred and afflictions to other people in this life, next life will
be harmed by tigers, bears or snakes.
8)
Kiếp Nầy Hay Nói Thị Phi,
Kiếp Sau Câm Điếc Không Ra Một Lời: Frequent gossip in this
life, will be born dumb and deaf in the next life.
9)
Kiếp Nầy Giàu Có Với Quần
Là Áo Lụa Cũng Vì Tiền Kiếp Hay Cúng Dường Vải Và Áo Cho Chư Tăng
Ni: Being so rich as to wear in silk fabrics or in satin dress
in this life is the consequence of one’s offerings of robes to the
monks and nuns in his previous life.
10)
Kiếp Nầy Hại Người Để Hưởng Lợi Thì
Kiếp Sau Làm Thân Trâu Ngựa Để Đền Trả Và Cuối Cùng Bị Giết Làm Thịt:
To benefit oneself by bringing harm to others, next life will become
a buffalo or a horse to pay retribution and at the end of the life
will be killed for meat.
10) Kiếp Nầy Hạnh Phúc Vì Kiếp Trước Không
Làm Khổ Người Khác: Being happy in this life is the consequence
of not causing physical or mental harm or damage to any being in previous
life.
11)
Kiếp Nầy Hay Khinh Miệt Người, Kiếp
Sau Sanh Vào Chỗ Hạ Tiện Cho Người Miệt Khinh: To look down
upon other people in this life, will be reborn in the mean and poor
family and looked down by other people in the next life.
12)
Kiếp Nầy Hay Ly Gián Đố Kỵ Kẻ Khác,
Kiếp Sau Hôi Thúi Không Ai Tới Gần: To be jealous of others
or to cause disputes among other people, will have a body with bad
odour (nobody dares to come near) in the next life.
13)
Kiếp Nầy Không Đau Ốm Bịnh Hoạn Cũng
Nhờ Kiếp Trước Hay Giúp Đở Thuốc Men Cho Người Nghèo: Being
free from illness in this life is the consequence of donating medicines
to the poor in previous life.
14)
Kiếp Nầy Không Tin Phật Pháp, Kiếp
Sau Câm Điếc Để Không Nghe Gì: Don’t believe in the Buddhist
doctrines in this life, will be dumb and deaf (not be able to
read and hear) in the next life.
15)
Kiếp Nầy Làm Thân Làm Tôi Tớ Người
Cũng Vì Kiếp Trước Hay Hành Hạ Tôi Tớ Hay Nợ Nần Không Trả:
Working as a servant in this life is the consequence of ill-treating
servants or not paying debts in previous life.
16) Kiếp Nầy Làm Thân Trâu Ngựa
Cũng Vì Kiếp Trước Ác Độc Và Giựt Nợ: Becoming a cow or horse
in this life is the consequence of wicked deeds and not paying debts
in previous life.
16)
Kiếp Nầy Lường Gạt Giựt Tiền Chùa,
Kiếp Sau Phải Làm Thân Trâu, Bò, Heo Chó Để Đền Trả: To deceive
the monks and nuns to get the money from the temple in this life,
will become a buffalo, a cow, a pig or even a dog to pay retribution
in the next life.
17)
Kiếp Nầy Ngược Đãi Súc Vật, Kiếp Sau
Sanh Thân Súc Vật Đền Trả: To maltreat animals, will be reborn
as animals to pay retribution in the next life.
18)
Kiếp Nầy Nhà Cao Cửa Rộng Nhờ Tiền
Kiếp Hay Cúng Dường Gạo Thóc Cho Chùa: Being so rich as to
be able to live in luxurious life is the consequence of offerings
rice to the temples in previous life.
19)
Kiếp Nầy No Cơm Ấm Áo Vì Tiền Kiếp
Hay Giúp Đở Người Nghèo: Being sufficient with food and dress
in this life is the consequence of giving alms to the poor in one’s
previous life.
20) Kiếp Nầy Nói Xấu Người Tu, Kiếp
Sau Mang Thân Làm Thằn Lằn Tắc Lưỡi Mỗi Đêm: To slander the
monks and nuns (not to slander the Triratna) in this life, will be
reborn as a lizard to click the tongue every night.
20)
Kiếp Nầy Phú Quí Thịnh Vượng Vì Tiền
Kiếp Hay Xây Chùa Cất Miễu Cũng Như Dựng Nhà Chẩn Tế: Being
sufficient with luck, nobility and prosperity in this life is the
consequence of one’s generous offerings made in the construction of
the temples and monasteries as well as building of the shelters for
the needy in previous life.
21)
Kiếp Nầy Thấy Nạn Mà Cười, Kiếp Sau
Hoạn Nạn Triền Miên Một Đời: To feel happy when seeing the
misfortunes of others in this life, will be in constant troubles and
sicknesses in the next life.
22)
Kiếp Nầy Thấy Nguy Không Cứu, Kiếp
Sau Phải Mang Thân Tù Đày: To refuse to rescue others when
they are in danger, will have the bad fate of staying in prison in
the next life.
23)
Kiếp Nầy Thông Minh Đại Trí Cũng Nhờ
Tiền Kiếp Hay Tụng Kinh Niệm Phật: Being full of great intelligence
and wisdom in this life is the consequence of praying and reciting
Amitabha Buddha’s name in previous life.
24)
Kiếp Nầy Trường Thọ Cũng Nhờ Kiếp
Trước Hay Phóng Sanh Lợi Vật: Enjoying longevity in this life
is the consequence of setting free animals as well doing good deeds
to other people in previous life.
25)
Kiếp Nầy Tướng Mạo Khôi Ngô Cũng Nhờ
Kiếp Trước Hay Thành Tâm Dâng Hoa Cúng Phật: Being so beautiful
and dignified in outer aspects in this life is the consequence of
sincere offerings flowers to the Buddha (statue or image) in previous
life.
26)
Kiếp Nầy Vinh Hiển Làm Quan Cũng Vì
Tiền Kiếp Đắp Vàng Tượng Phật: Holding the position of high
ranking officer in this life is the consequence of one’s decorating
the statue of the Buddha with gold leaf in his previous life.
27)
Kiếp Nầy Vu Oan Giá Họa Cho Người,
Kiếp Sau Sẽ Bị Người Vu Oan Giá Họa Để Hãm Hại: To bring harm
to others by spreading false rumours, will be harmed by false rumours
in the next life.
Kiếp
Người: Human life (condition).
Những lời Phật dạy trong
Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings on Human Life in the Dharmapada
Sutra:
1)
Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được nghe
Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó—It is difficult to
obtain birth as a human being; it is difficult to have a life of mortals;
it is difficult to hear the Correct Law; it is even rare to meet the
Buddha (Dharmapada 182).
2)
“Mùa mưa ta ở đây, đông hạ ta cũng ở đây,” đấy là tâm tưởng
của hạng người ngu si, không tự giác những gì nguy hiểm—Here I shall
live in the rainy season, here in the winter and the summer. These
are the words of the fool. He fails to realize the danger (of his
final destination) (Dharmapada 286).
3)
Người đắm yêu con cái và súc vật thì tâm thường mê hoặc, nên
bị tử thần bắt đi như xóm làng đang say ngủ bị cơn nước lũ lôi cuốn
mà không hay—Death descends and carries away that man of drowsy mind
greedy for children and cattle, just like flood sweeps away a sleeping
village (Dharmapada 287).
4)
Một khi tử thần đã đến, chẳng có thân thuộc nào có thể thế
thay, dù cha con thân thích chẳng làm sao cứu hộ—Nothing can be saved,
nor sons, nor a father, nor even relatives; there is no help from
kinsmen can save a man from death (Dharmapada 288).
Kiếp
Người Hữu Hạn: Human life is limited.
Kiếp
Người Mong Manh Ngắn Ngủi: Human life is uncertain and
ephemeral.
Kiếp
Sau: Future life.
Kiếp
Sơ: Thời kỳ đầu của Thành Kiếp hay lúc mới hình thành của
thế giới—The beginning of the kalpa of formation.
Kiếp
Tai: Những thời kỳ tai họa của lửa, gió, nước trong thời
hoại kiếp (sau thành kiếp là hoại kiếp, cuối hoại kiếp có ba tai nạn
hỏa tai, phong tai, và thủy tai lan tràn phá hoại hết thế giới)—The
calamity of fire, wind and water during the kalpa of destruction.
Kiếp
Tân Na: Kapphina (skt)—Kiếp Thí Na—Kiếp Tỷ Na—Kiếp Tỳ Nô—Một
đệ tử của Phật Thích Ca, tên trong Tăng đoàn là Đại Kiếp Tân Na. Ngài
rất giỏi về tinh tú, sau nầy sẽ thành Phật danh hiệu Phổ Minh Như
Lai—A disciple of Sakyamuni, whose monastic name was Mahakappina.
He was very good at astronomy and constellations. He is to be reborn
as Samantaprabhasa Buddha.
Kiếp
Tận Hỏa: See Kiếp Hỏa.
Kiếp
Thiêu: See Kiếp Hỏa.
Kiếp
Thủy: Đại thủy tai sanh ra vào thời hoại kiếp, một trong
tam đại tai—The flood in the kalpa of destruction, one of the three
great calamities.
Kiếp
Trước: Past life.
Kiếp
Tỳ La: Kapila (skt).
1)
Hoàng xích: Màu vàng đỏ hay nâu—Brown.
2)
Vị Thánh Kiếp Tỳ La, người sáng lập ra Số Luận và trường phái
Số Luận: The sage Kapila, founder of the classical Samkhya
philosophy and the school of that name.
Kiếp
Tỳ La Phạt Thốt Đổ: Kapilavastu (skt)—Nước Kiếp Tỳ La Phạt
Thốt Đô hay Kiếp Tỳ La Quốc, trước kia là Ca Tỳ La Vệ hay Ca La, đây
là xứ sở của vua cha Tịnh Phạn của Đức Phật Thích Ca. Đất nước nầy
bị tiêu diệt ngay khi Đức Phật còn tại thế. Theo truyền thuyết thì
xứ nầy khoảng 100 dậm về phía Bắc của thành Ba La Nại, tây bắc của
Gorakhpur bây giờ—Capital of the principality occupied by the Sakya
clan; destroyed during Sakyamuni’s life, according to legend; about
100 miles due north of Benares, northwest of present Gorakhpur.
Kiếp
Tỳ La Thiên: Tên của một loại chư thiên hay một loại quỷ—Deva
or demon, called Kapila, or Kumbhira, or Kubera.
Kiếp
Tỳ Tha: Kapittha (skt).
1)
Tăng Khư Thi: Một vương quốc cổ ở Trung Ấn—An ancient kingdom
of Central India.
2)
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một vị
Bà La Môn đối xử tệ với Phật tử, sau đó tái sanh làm một loài cá,
và cuối cùng được Đức Thích Ca chuyển hóa: According to Eitel
in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is a Brahman
of Vrji who ill-treated the Budhists of his time, was reborn
as a fish, and was finally converted by Sakyamuni.
Kiếp
Tỳ Xá Dã: Nơi mà bây giờ người ta gọi là Kashmir—Said to
be presently Kashmir.
Kiết:
1)
Da dê—Deer-skin.
2)
Thiến: To castrate.
3)
Tốt: Sri (skt)—Auspicious—Lucky—Fortunate.
Kiết
Ấn: Phép truyền trao của Mật Giáo (người nhận Kết Ấn phải
phát Bồ Đề Tâm và phải thụ nhận phép quán đảnh)—A binding agreement
sealed as a contract, employed by the esoteric sects.
Kiết
Bệnh: See Kết Bệnh.
Kiết
Bố La: Karpura (skt)—Long não—Dragon-brain scent—Camphor.
Kiết
Địa Lạc Ca: Khadiraka (skt)—Vòng thứ ba trong bảy vòng
quanh núi Tu-Di—The third of the seven circles or concentric mountains
around Meru (Sumeru).
Kiết
Già: Padmasana (skt)—Thế ngồi hoa sen, theo kiểu ngồi của
Phật Tổ Thích Ca, hai chân tréo nhau, bàn chân ngửa lên—The Buddha’s
sitting posture with legs crossed and soles upward—To sit cross-legged.
a)
Hàng Ma Kiết Già: Chân trái tréo lên chân phải—The left leg
is over right, the left hand is over the right hand for being subduing
of demons.
b)
Cát Tường Kiết Già: Chân phải tréo lên chân trái, bàn tay phải đặt
trên bàn tay trái—The right leg is over left for blessing, the right
hand is being placed over the left one.
Kiết
Già Bà Sa: Khadga-visana (skt)—Kiết Già Tỳ Sa Nã—Sừng tê giác—A rhinoceros’
horn.
Kiết
Già Phu Tọa: See Kiết Già.
Kiết
Giới:
1)
Kết thành giới luật để hộ trì—Bound by the commandments.
2)
Bàn thờ Phật được đặt tại một nơi cố định, hay một vùng cố
định trong tự viện: A fixed place, or territory; a definite area;
to fix a place for a monastery, or an altar;
3)
Một số nhất định cho buổi họp chúng Tăng: A determined number,
e.g. for an assembly of monks.
4)
Kiết Giới Ngũ Tướng: It is a term specially used by the esoteric
sects for an altar and its area, altar being of five different shapes.
·
Phương Tướng: A square shape.
·
Viên Tướng: A round shape.
·
Cổ Tướng: Rectangular shape.
·
Bán Nguyệt Tướng: Semi-circle.
·
Tam Giác: Triangle.
Kiết
Giới Ngũ Tướng: The five different shapes of an altar—See Kiết Giới (4).
Kiết
Giới Nhị Bất Định: Aniyata (skt)—Hai giới quan hệ tới vấn đề tình dục, nhưng
sự vi phạm lại mơ hồ không rõ—Two offences which are connected with
activities of sex, but the violation is not clear—See Nhị Bất Định
Giới.
Kiết
Giới Thập Tam Tăng Tàn: Sanghadisesa (skt)—Mười ba giới Tổn Hại Tăng Tàn khiến cho
Tăng Ni phạm phải bị tạm thời trục xuất khỏi giáo đoàn—Thirteen offences
which entail upon a monk temporary expulsion from the Order—See Thập
Tam Giới Tăng Tàn.
Kiết
Giới Tứ Ba La Di: Parajika (skt)—See Tứ Đọa.
Kiết
Hà: A river of bondage (suffering
or illusion).
Kiết
Hạ: Chấm dứt kỳ an cư kiết
hạ—The end of the summer retreat.
Kiết
Kinh: Chấm dứt bài—The end
of a sutra.
Kiết
La Nã Tô Phạt Lạt Na: Karnasuvarna
(skt)—See Yết La Nã Tô Phạt Lạt Na.
Kiết
Lật Đà: Grdhra
(skt)—Linh thứu (kênh kênh)—Vulture.
Kiết
Lợi La: Một trong những vị
Thế Tôn trong nhóm Kim Cang giới—One of the honourable ones in the
Vajra-dhatu groups.
Kiết
Lợi Vương: Kaliraja (skt)—Tiền
kiếp của Kiều Trần Như, khi còn làm quốc vương ông đã cắt tay chân
của Ksanti-rsi vì những thê thiếp của ông đã lạc vào thiền thất của
vị nầy. Do sự tự tại của vị ẩn sĩ nầy mà ông đã cải đổi và người ta
đoán rằng về sau nầy ông sẽ là đệ tử của Phật Thích Ca—A former incarnation
of Kaundinya, when as king he cut off the hands and feet of Ksanti-rsi
because his concubines had strayed to the hermit hut. He was converted
by the hermit’s indifference, it was predicted that he would become
a disciple of Buddha.
Kiết
Ma: Karma (skt)—See Yết Ma.
Kiết
Nghiệp: See Kết Nghiệp.
Kiết
Nhật: A good or an auspicious
day.
Kiết
Ni Ca: Kanaka (skt).
1)
Tên của một vài loại cây màu vàng: Name of several yellow plants.
2)
Táo gai: Thorn apple.
3)
Một loại đàn hương: A species of sandalwood.
Kiết
Nô Bộc: Kanabhuj or
Kanada (skt)—Người sáng lập trường phái Triết Lý Ấn Độ Vaisasika—Founder
of Vaisesika school of Indian philosophy.
Kiết
Phược: See Kết Phược.
Kiết
Sử: Fetters.
1)
Kiết và sử, hai tên gọi khác nhau của phiền não, kiết là trói
buộc thân tâm kết thành quả khổ, sử là theo đuổi và sai sử chúng sanh—The
bondage and instigators of the passions, two other names for afflictions.
2)
Theo Thanh Tịnh Đạo, kiết sử là mười pháp khởi từ sắc tham;
gọi là kiết sử vì chúng trói buộc các uẩn trong đời nầy với các uẩn
đời kế tiếp, hoặc trói buộc nghiệp với quả, hoặc trói buộc hữu tình
vào đau khổ. Vì bao lâu cái nầy còn hiện hữu thì cái kia không chấm
dứt: The fetters are the ten states beginning with greed for the fine-material,
so called because they fetter aggregates in this life to aggregates
of the next, or karma to its fruit, or beings to suffering. For as
so long the ones exist there is no cessation of the others—See Ngũ
Hạ Phần Kết, and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.
**
For more information, please see Sử (3).
Kiết
Tặc: See Kết Tặc.
Kiết
Tập: The collecting and fixing
of the Buddhist canon. The first assembly was presided by Kasyapa
(Ca Diếp), Ananda for the Sutras (Kinh) and the Adhidharma ,
and Upali for the Vinaya (Luật)—See Kết Tập.
Kiết
Thán: See Kết Thán.
Kiết
Thất: Retreats.
Kiết
Thất Định Kỳ: Periodic retreats.
Kiết
Tra Bố Đảm Na: See Yết Tra Bố Đảm Na.
Kiết
Tường: See Cát Tường.
Kiết
Xác: Very poor.
Kiệt:
1)
Đơn vị tương đương với một phần 32.000 do tuần—A unit equivalent
to the 32,000th part of a yojana.
2)
Kiệt sức: Exhausted—Used up—Finished.
3)
Kiệt xuất: Utmost.
Kiệt
Chi: See Tăng Kỳ Chi.
Kiệt
Đà La: Khadira or Karavira (skt)—Loại gỗ cứng—Hard wood.
Kiệt
Liệt:Very famous.
Kiệt
Lực: To be exhausted.
Kiệt
Quệ: Exhausted.
Kiệt
Sức: To be burned out—To be worn out—To be exhausted.
Kiệt
Tác: Masterpiece.
Kiệt
Xoa: Một nơi trên núi Karakoram mà theo ngài Pháp Hiền,
nơi đây các vương triều đã từng tổ chức những cuộc cúng dường Trai
Tăng hay những chúng hội thật vĩ đại. Theo Eitel trong trung Anh Phật
Học Từ Điển, thì đây là vùng Khasa, nơi trú ngụ của một bộ tộc cổ
Kasioi trong vùng Paropamisus; trong khi những học giả khác thì cho
rằng đây có lẽ là những vùng bây giờ là Kashmir, Iskardu, hay Kartchou—A
place said to be in Karakoram mountains, where according to Fa-Hsien
formerly great assemblies were held under royal patronage and with
royal treatment. Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist
Terms, gives it as Khasa, and says an ancient tribe on the Paropamisus,
the Kasioi of Plotemy; others give different places, i.e. Kashmir,
Iskardu, Kartchou.
Kiệt
Xuất: Outstanding
Kiêu:
1)
Sự kiêu ngạo (cậy vào sự việc trôi chảy hay tài của mình mà
sanh lòng kiêu ngạo): Arrogant—Haughty—Proud—Boastful—Bragging—Self-indulgent—Indulgent.
2)
Tưới nước: To sprinkle—To water.
Kiêu
Đàm Di: Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English
Section.
Kiêu
Khang: Hầm hố của ngã mạn cống cao—The pit of pride and
arrogance.
Kiêu
Mạn: Kiêu mạn là tên một loại phiền não, một trong ngũ
thượng phần kết—Arrogance and pride, a kind of klesa, one of the five
higher bonds of desire—See Ngũ Thượng Phần Kết.
Kiêu
Ngạo: See Kiêu.
Kiêu
Phạm Ba Đề: Gavampati (skt)—Còn gọi là Ca Phạm Ba Đề, Cấp
Phòng Bát Để, Kiêu Phạm Bát Đề, Kiều Phạm Ba Đề, hay Kíp Phòng Bát
Để, dịch là Ngưu Thi hay Ngưu Vương, là tên một vị Tỳ Kheo có cái
miệng cứ nhai tới nhai lui như trâu nhai lại vì tội của đời quá khứ
(theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, tiếng Phạn Gavampati dịch là Ngưu Vương.
Ngài do ở đời quá khứ có ngắt một nhánh lúa ném xuống đất, nên trong
500 đời phải làm kiếp trâu để đền bù, nay tuy mang thân người, nhưng
có hình tướng và tiếng nói giống như loài trâu)—Interpreted as chewing
the cud; lord of cattle, etc. (with the feet and cud-chewing characteristic
of an ox) A man who became a monk, born with a mouth always ruminating
like a cow because of former oral sins; he had spilled some grains
from an ear of corn he plucked in a former life.
Kiêu
Tát La: Kosala (skt)—See Kiều Tát La
Kiêu
Thi: See Kiêu Thi Ca.
Kiêu
Thi Ca: Kausika or Kusika (skt).
1)
Còn gọi là Kiêu Chi Ca, họ của Đế Thích (trong Đại Trí Độ Luận,
theo Kinh Tạp A Hàm: “Vị Tỳ Kheo lại bạch với Đức Phật rằng: Bạch
Thế Tôn, do duyên gì mà ngài Đế Thích Đề Hoàn lại có tên là Kiêu Thi
Ca? Đức Phật nói với vị Tỳ Kheo rằng: Ngài Thích Đề Hoàn ấy khi còn
là người có họ là Kiêu Thi Ca. Vì nhơn duyên ấy mà ngài có tên là
Kiêu Thi Ca.”)—Kausika, of the family of Kusika, family name of Indra.
This story is mentioned in the Maha-Prajna Sastra.
2)
Có người cho rằng Đức Phật A Di Đà cũng có họ Kiêu Thi Ca:
One account says Amitabha was of the same family name.
Kiêu
Thưởng Di: Kausambi (skt)—Một thành phố cổ nằm bên bờ sông
Hằng, nằm bên dưới Doab. Có nhiều người cho rằng đây là vùng Kusia
gần Kurrah, nhưng Kusia bây giờ là làng Kosam nằm bên bờ nhánh sông
Jumna, khoảng 30 dậm bên trên vùng Allahabad—An ancient city on the
Ganges, in the lower part of Doab. It has been identified by some
with Kusia near Kurrah, but is the village of Kosam, on the Jumna,
30 miles above Allahabad.
Kiêu
Trần Na: Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như.
Kiêu
Trần Như: Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như.
Kiêu
Xa: Proud and luxurious
Kiêu
Xa Da: Kauseya (skt)—Cao Thế Da—Kiêu Xá—Vải làm bằng lụa
thô—Cloth made of wild silk.
Kiếu
Hoán: See Khiếu Hoán.
Kiều:
1)
Cầu: Bridge—Cross-beam.
2)
Kiều Diễm: Beautiful.
Kiều
Diễm: Charming—Graceful.
Kiều
Đàm Ni: Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English
Section.
Kiều
Lương: Nhẫn nại—A bridge, trampled on by all but patiently
bearing them, a synonym for patience, or endurance.
Kiều
Mỵ: Beautiful.
Kiều
Nhi: Beloved daughter.
Kiều
Nữ: See Kiều Nhi.
Kiều
Phạm Ba Đề: Gavampati (skt)—See Kiêu Phạm Ba Đề.
Kiều
Tát La: Kosala (skt)—Còn gọi là Câu Sa La, Câu Tát La,
hay Cư Tát La.
1)
Bắc Kiều Tát La: Uttarakosala (skt)—Một vương quốc cổ mà bây
giờ là vùng Oude, nằm về miền Trung Ấn Độ (theo Truyện Pháp Hiển,
Bắc Kiều Tát La là tên một vương quốc cổ ở miền Trung Ấn, khác với
nước Nam Kiều Tát La. Đây là một trong 16 vương quốc lớn thời Đức
Phật còn tại thế, thủ phủ là thành Xá Vệ, nơi Đức Phật đã lưu trú
trong một thời kỳ dài)—Northern Kosala—An ancient kingdom in Central
India, the modern Oude. Its capital is Sravasti, where the Buddha
and his order stayed for a long period of time—See Xá Vệ Quốc.
2)
Nam Kiều Tát La: Daksinakosala (skt)—Vương quốc cổ mà bây giờ
thuộc về các tỉnh trung tâm Ấn Độ (theo Tây Vực Ký thì ngài Huyền
Trang cho rằng vùng nầy là vùng Trung Ấn. Theo Truyện Pháp Hiển, đây
là nước Đạt Thân hay Nam Kiều Tát La, để phân biệt với Bắc Kiều Tát
La, còn gọi là Đại Kiều Tát La. Đây là nơi mà ngài Long Thọ đã từng
lưu trú, được vua Sa Đa Bà Ha rất kính trọng. Nhà vua đã cho xây một
ngôi chùa lớn năm tầng tại Bạt La Vị La. Vị trí thủ phủ của nước nầy
ngày nay chưa ai định rõ)—Southern Kosala—An ancient kingdom, also
in Central India, part of the present Central Provinces.
Kiều
Trần Như: Kaundinya (skt).
1)
Ajnata-Kaundinya (skt)—Kondanna (p)—Tên của một trong năm
vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Ông là người trẻ tuổi nhất trong
tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh đến lễ quán đảnh Thái Tử
sơ sinh. Ông nguyên là thái tử xứ Ma Kiệt Đà, là cậu của Đức Phật,
và cũng là bạn cùng tu khổ hạnh với Đức Phật khi Ngài mới xuất gia
(Nhóm ông Kiều Trần Như có năm người, trước kia theo làm bạn tu khổ
hạnh với Đức Phật. Sau khi thấy Đức Phật thọ nhận bát sữa của nàng
Mục Nữ cúng dường, cho rằng Đức Phật đã thối tâm trên đường tìm đạo
giải thoát nên họ đã ly khai với Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo,
năm vị nầy lại gặp Đức Phật tại vườn Lộc Uyển/Mrgadava trong thành
Ba La Nại/Varanasi, được Phật thuyết giảng về Tứ Diệu Đế để độ họ
trở thành những vị Tỳ Kheo đầu tiên. Đây là năm vị đệ tử đầu tiên
của Đức Phật)—Name a prince of Magadha, uncle and one of the first
five disciples of Sakyamuni. He was the youngest and cleverst of the
eight brahmins who were summoned by King Suddhodana to name the infant
prince. He used to practise ascetic practices with Prince Siddhartha
when he just left home.
2)
Vyakarana-Kaundinya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật
Học Từ Điển, thì Vyakarana-Kaundinya là vị tôn giả, xuất thân từ một
gia đình Bà La Môn giàu có trong thành Ca Tỳ La Vệ, sanh ra trước
Đức Phật. Người đã được Đức Phật bảo rằng một Đức Phật quả là quá
thiêng liêng để mà để lại bất cứ xá lợi nào trên trần thế nầy—According
to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vyakarana-Kaundinya,
son of a very wealthy Brahman family near Kapilavastu, and was born
before the Buddha. He was the one, who was told by the Buddha that
a Buddha is too spiritual to leave any relics behind.
Kim:
1)
Kim Tinh: Sukra (skt)—Venus.
2)
Vàng hay quý kim: Hiranya (skt)—Y Lại Nã—Gold or any precious
metal.
3)
Bây giờ: Now—The present—At present.
4)
Màu sặc sỡ: Suvarna (skt)—Tô Phạt Thích—Of a good or beautiful
colour—Golden—Yellow.
Kim
Ba: The moonlight.
Kim
Cang: Vajra (skt)—Diamond or adamantine—Biểu tượng năng
lực tâm linh vô thượng được so sánh với viên ngọc quý nhất, kim cương
với sự trong suốt và sáng ngời của nó, các màu khác được phản chiếu
trong ấy, mà nó vẫn giữ được tính không màu sắc của nó. Nó có thể
cắt đứt được mọi vật rắn khác, trong khi một một thứ gì có thể cắt
đứt được nó—The symbol of the highest spiritual power, which is compared
with the gem of supreme value, the diamond, in whose purity and radiance
other hues are reflected while it remains colorless, and which can
cut every other material, itself is being cut by nothing.
(A) Nghĩa
của Kim Cang—The meanings of Vajra:
1)
Kim Cang chùy của vua Trời Đế Thích: The thunderbolt of Indra,
often called the diamond club.
2)
Biểu tượng của mặt trời: A sun symbol.
3)
Một trong thất bảo: One of the seven precious stones (saptaratna).
(B) Ba
đặc tánh của Kim Cang—Three special natures of diamond:
1)
Cứng rắn: Solid—Firm.
2)
Chiếu sáng: Bright—It has brilliance.
3)
Sắc bén: Sharp—It is piercing—Trong Phật giáo, kim cang có
thể cắt đứt mọi phiền não, khiến cho chúng sanh có được đại trí để
tiến đến tâm Bồ đề—In Buddism, vajra can cut off all afflictions of
living beings so that they can open great wisdom and advance to bodhi-mind.
Kim
Cang Bảo Giới: Nhất Tâm Kim Cang Bảo Giới hay Đại Thừa
giới trình bày trong Kinh Phạm Võng—The Mahayana rules according to
the Brahma Net sutra.
** For more information,
please see Bốn Mươi
Tám Giới Khinh.
Kim
Cang Bảo Tạng: Theo Kinh Niết Bàn, Bảo Tạng Kim Cang gồm
Niết Bàn và Bồ Đề tâm, là nguồn tâm của mọi chúng sanh—According to
the Nirvana Sutra, the “Diamond” treasury, i.e. nirvana and the pure
bodhi-mind, as the source of the mind of all sentient beings.
Kim
Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa: Vajracchedika Prajnaparamita—See
Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa in Appendix A (6).
Kim
Cang Bất Hoại:
1)
Tánh chất bất hoại của kim cương: The indestructibility of
the diamond.
2)
Kim Cang thân bất hoại của Đức Phật: The diamond indestructible
body of the Buddha.
Kim
Cang Bồ Tát: There are several Vajra-bodhisattvas:
1)
Kim Cang Nhân Bồ Tát: Vajrahetu bodhisattva.
2)
Kim cang Thủ Bồ Tát: Vajrapani bodhisattva.
3)
Kim Cang Bảo Bồ Tát: Vajraratna bodhisattva.
4)
Kim Cang Tạng Bồ Tát: Vajragarbha bodhisattva.
5)
Kim Cang Châm Bồ Tát: Vajrasuci bodhisattva.
6)
Kim Cang Tướng Bồ Tát: Vajrasena bodhisattva.
7)
Kim Cang Tác Bồ Tát: Vajrapasa bodhisattva.
8)
Kim Cang Câu Bồ Tát: Vajrankusa bodhisattva.
9)
Kim Cang Hương Bồ Tát: Vajradhupa bohisattva.
10) Kim
Cang Quang Bồ Tát: Vajratejah bodhisattva.
11) Kim
Cang Pháp Bồ Tát: Vajradharma bodhisattva.
12) Kim
Cang Lợi Bồ Tát: Vajratiksna bodhisattva.
Kim
Cang Bộ: Vajrapani (skt)—Nhóm Kim Cang trong Kim Cang Giới
hay Thai Tạng Giới (các vị tôn tay cầm chày Kim Cang nêu cao trí của
Đức Như Lai, 13 vị tôn trong Kim Cang Thủ bên trái của Đức Đại Nhật
Như Lai) —Groups of the same in the Vajradhatu or Garbhadhatu mandalas.
Kim
Cang Bộ Bồ Tát: Vajrapani-bodhisattva (skt)—Kim Cang Bộ
Tát Đỏa—Vị Bồ Tát trong Kim Cang Bộ như Bồ tát Phổ Hiền—Vajrapani-bodhisattva,
especially P’u-Hsien (Samantabhadra).
Kim
Cang Câu Vương: The Vajra Hook King.
Kim
Cang Châm: Vajrasena (skt)—Kim kim cang—The straight vajra.
Kim
Cang Chúng: Quyến thuộc của chư Kim Cang Thần—The retinue
of the Vajradevas.
Kim
Cang Chử: Chày Kim Cang rất bén—The Vajra or thunderbolt.
It is generally sharp as such, but has various other forms.
1)
Một loại vũ khí của binh lính Ấn Độ: The Vajra is also interpreted
as a weapon of Indian soldier.
2)
Mật giáo và những tông phái khác dùng Kim Cang Chử như một
biểu tượng của trí tuệ và sức mạnh để chặt đứt phiền não và khắc phục
ma chướng: It is employed by the esoteric sects, and others, as a
symbol of wisdom and power over illusion and evil spirits.
3)
Độc Cổ Kim Cang Chữ: Khi thẳng thì Kim Cang Chử được gọi là
“Độc Cổ”—When straight as a sceptre it is one limbed vajra.
4)
Tam Cổ Kim Cang Chử: Khi có ba chia thì gọi là “tam cổ”—When
it has three prongs, it is called “three-pronged” vajra.
5)
Ngũ Cổ Kim Cang Chử: Khi có năm chia thì gọi là “ngũ cổ”—When
it has five prongs, it is called “five-pronged” vajra.
6)
Cửu Cổ Kim Cang Chử: Khi có chín chia thì gọi là “cửu cổ”—When
it has nine prongs, it is called “nine-pronged” vajra.
Kim
Cang Dạ Xoa: Vajrayaksa (skt).
1)
Vị Thần Hộ Pháp thường được đặt ngay cổng của các chùa. Kim
Cang Dạ Xoa hay Phẫn nộ Minh Vương, là một trong năm vị Minh Vương,
người hộ trì Phật pháp, nhưng lại là kẻ thù của ma quỷ. Vị nầy có
ba mặt sáu tay hay một mặt bốn tay, trụ tại phương Bắc, là vị Phẫn
Nộ Tôn Bất Không Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc trong ngũ trí Như
Lai (ngũ Phật) của Kim Cang Giới—The guardian spirits represented
on the temple gates. One of the five kings of hells or messengers
and manifestation of Vairocana. The fierce maharaja as an opponent
of evil, he is one of the guardians of Buddhism. He has either
three faces and six arms, or one face and four arms. He is a fierce
guardian of the north in the region of Amoghasiddhi in the Vajradhatu—See
Ngũ Phật.
2)
Vị Bồ Tát có răng nanh: A Bodhisattva with the fangs.
Kim
Cang Diệt Định: Kim cang diệt định là giai đoạn sau cùng
của Bồ Tát với trí tuệ bất hoại—Diamond meditation, the last stage
of a bodhisattva, characterized by firm and indestructible knowledge,
penetrating all reality.
Kim
Cang Dụ Định: Vajra-meditation—See Kim Cang Định and Kim
Cang Tam Muội.
Kim
Cang Đài: Diamond Lotus.
Kim
Cang Đàm: Hỏa Viện—Giới Ấn—Mật Phong Ấn—Vòng tròn lửa ngăn
cấm sự xâm nhập của ma quỷ—Diamond-blaze, acircle of fire to forbid
the entry of evil spirits.
** For more information,
please see Hỏa Ấn,
Hỏa Giới, and Hỏa Viện.
Kim
Cang Đảnh:
1)
Vương miện Kim Cang: The vajra (diamond) apex or crown.
2)
Tên gọi chung các kinh của Mật Giáo: A general name of the
esoteric doctrine and sutras of Vairocana.
Kim
Cang Đảnh Kinh: Kim Cang Đảnh Kinh là kinh chính của Kim
cang Đảnh Tông, một trong ba bộ kinh chính của Chân Ngôn Giáo—Vajra-crown
sutra, the authority for the Vajra-Crown sect, one of the three main
sutras of the Shingon.
Kim
Cang Định: Vajrasamadhi (skt)—Kim Cang Dụ Định—Kim Cang
Tam Muội—Thiền định của Bồ tát ở ngôi tối hậu. Người tu hành và đắc
phép thiền định nầy sẽ được trí bền vững, sắc bén và bất hoại như
kim cương, có thể cắt đứt tất cả phiền não và tà kiến thiên lệch—Vajra-meditation—Samadhi
as a state of great stability, that of the last stage of the Bodhisattva,
characterized by firm, indestructible knowledge, penetrating all reality;
attained after all remains of illusion and wrong views have been cut
off.
** For more information,
please see Kim Cang
Tam Muội.
Kim
Cang Đoạn: Vajracchedika (skt)—Cắt đứt Kim Cang, một đoạn
văn ngắn trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa—Diamond cutter, a short paragraph
in the Perfection of Wisdom Sutra (Prajnaparamita Sutra)—See Kinh
Kim Cang in Appendix G.
Kim
Cang Đồng Tử: Vajrakumara (skt).
1)
Kim Cang Sứ Giả của chư Phật và chư Bồ Tát: A Vajra-messenger
of the Buddhas or Bodhisattvas.
2)
Hóa thân của Đức Phật A Di Đà thành một đứa trẻ tay cầm kim
cương chùy, mặt có vẻ phẫn nộ: An incarnation of Amitabha in the form
of a youth with fierce looks holding a vajra.
Kim
Cang Giới: Vajradhatu (skt).
·
Kim Cang giới là một phần tử của vũ trụ; nó là TRÍ ĐỨC
bất hoại của Đức Tỳ Lô Giá Na; nó khởi lên từ trong Thai Tạng Giới—The
Diamond or Vajra realm, element of the universe; it is the wisdom
of Vairocana in its indestructibility and activity; it arises from
the Garbhadhatu (the womb of all things).
·
Kim Cang Giới được diễn dịch là “Trí” giới—Vajradhatu
is interpreted as the realm of intellection.
·
Kim cang giới tiêu biểu cho thế giới tâm linh của sự
toàn giác: The Vajradhatu represents the spiritual world of complete
enlightenment.
·
Mật Giáo coi Kim Cang Giới là Pháp Thân, trong khi Hiển
Giáo thì coi nó như là Hóa Thân: The esoteric Dharmakaya doctrine
as contrasted with the exoteric Nirnamakaya.
·
Kimg Cang Giới là yếu tố thứ sáu của tâm, nó biểu hiệu
bằng một hình tam giác mũi chúi xuống và mặt trăng tròn tượng trưng
cho trí tuệ hay sự hiểu biết—It is the sixth element of “Conscious
mind,” and is symbolized by a triangle with the point downwards and
by the full moon, which represents “wisdom” or “understanding.”
·
Kim Cang Giới tương ứng với “quả.”—Vajradhatu corresponds
to fruit or effect.
·
Kim Cang giới là vũ trụ được nhìn như là sự thể hiện
của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na mà hình ảnh của Ngài được phản chiếu trong
tâm của mọi chúng sanh: Vajradhatu is the universe viewed as the manifestation
of Vairocana Buddha whose image is reflected in the heart of every
being.
Kim
Cang Giới Ngũ Bộ: Five divisions of the Vajradhatu represented
by five Dhyani-Buddhas:
1)
Trung Đài Đại Nhựt Như Lai: Vairocana in the center.
2)
Đông Độ A Súc Bệ Phật: Aksobhya in the east.
3)
Nam Phương Bảo Sanh Phật: Ratnasambhava in the south.
4)
Tây Phương A Di Đà Phật: Amitabha in the west.
5)
Bắc Phương Bất Không Thành Tựu: Amoghasiddhi or Sakyamuni in
the north.
** For more information,
please see Ngũ Phật
Kim
Cang Giới Thai Tạng Giới: Vajradhatu and Garbhadhatu (skt).
(I)
Kim Cang Giới: Vajradhatu (skt)—See Kim Cang Giới.
(II) Thai
Tạng Giới: Garbhadhatu (skt).
1)
Thai Tạng Giới là kho chứa mọi lý luận của trí: Garbhadhatu
is the womb or store of the Vairocana reason or principles of the
wisdom.
2)
Nơi tồn chứa tất cả mọi LÝ LUẬN của Tỳ Lô Giá Na bất hoại trí—The
womb or store of the Vairocana reason or principles of the Vairocana’s
indestructible wisdom—The womb or store of all things.
3)
Thai Tạng Giới được diễn dịch như là chất liệu căn bản của
Kim Cang Giới—Garbhadhatu is interpreted as the substance underlying
the Vajradhatu (realm of intellection).
4)
Thai Tạng Giới tương ứng với nhân: Garbhadhatu corresponds
to the cause.
Kim
Cang Hộ Bồ Tát: Vị Bồ Tát bảo hộ che chở cho con người
với lòng đại bi như một chiếc nón sắt bao bọc—The Bodhisattva Vajra
pala, who protects men like a helmet and surrounds them like mail
by his great pity.
Kim
Cang Huệ: Trí tuệ thấu rõ lý của thực tướng mà phá vỡ chư
tướng hay trí tuệ ảo giác—Diamond-wisdom, which by its reality overcomes
all illusory knowledge.
Kim
Cang Khẩu: Lời nói hay giáo thuyết xuất ra từ kim khẩu
của Phật bền vững như kim cương bất hoại—Diamond mouth (of a Buddha)—The
diamond-like firmness of the Buddha doctrine.
Kim
Cang Kinh: Vajracchedika-prajnaparamita-sutra—Kim cang
Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh, tóm lược cô đọng của Kinh Bát Nhã
Ba La Mật Đa Kinh, trước tiên được dịch sang Hoa ngữ bởi ngài Cưu
Ma La Thập, sau đó có nhiều bản dịch khác—The Diamond Sutra, a condensation
of the Prajnaparamita; first translated into Chinese Kumarjiva, later
by others.
** For more information,
please see Kinh Kim
Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Kim
Cang Linh: Chuông Kim Cang có công dụng làm tăng sự chú
tâm và phấn chấn người nghe—The diamond or vajra bell for attracting
the attention of the objects of worship, and stimulating all who hear
it.
Kim
Cang Linh Bồ Tát: Vajra-ghanta (skt)—Vị Bồ Tát tay cầm
chuông trong Kim Cang Mạn Đồ La—A Bodhisattva holding a bell in the
Vajradhatu mandala.
Kim
Cang Luân:
1)
Kim Cang Pháp Luân: Bánh xe Pháp Kim cang—The diamond or vajra
wheel.
2)
Kim Cang Thừa: Vajrayana (skt)—Symbolical of the esoteric sects.
3)
Kim luân của tầng đất thấp nhất: The lowest of the circles
beneath the earth.
Kim
Cang Luân Sơn: See Kim Cang Vi Sơn.
Kim
Cang Luân Tọa: See Đại Nhân Đà La Tọa.
Kim
Cang Lực: Sức mạnh như kim cương, sức mạnh không ai chống
nổi—Vajra-power—Irresistible strength.
Kim
Cang Lực Sĩ: See Kim Cang Thần, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim
Cang Mật Tích.
Kim
Cang Mạn Đồ La: See Kim Cang Giới, and Kim cang Giới Ngũ
Bộ.
Kim
Cang Mật Tích: Mật Tích Kim Cang—Mật Tích Lực Sĩ—Kim Cang
Lực Sĩ—Kim Cang Thủ—Chấp Kim Cang—Những vị tay cầm chày kim cang thể
hiện đại uy ủng hộ Phật pháp. Đức Đại Nhật Như Lai lấy các vị Kim
Cang Mật Tích nầy làm nội quyến; lấy các vị Phổ Hiền, Văn Thù làm
đại quyến hay ngoại quyến. Cũng như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lấy các
vị Thanh Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên…, làm nội quyến, lấy các
vị Bồ Tát làm đại quyến—The deva-guardians of the secrets of Vairocana,
his inner or personal group of guardians in contrast with the outer
or major group of P’u-Hsien, Manjusri, etc. Similarly, Sariputra,
or Maudgalyayana, the sravakas, etc., are the inner guardians of Sakyamuni,
the Bodhisattvas being the major group.
Kim
Cang Môn: Cổng Kim Cang trong Thai Tạng Mạn Đồ La—The diamond
door of the Garbhadhatu mandala.
Kim
Cang Ngữ Ngôn: See Kim Cang Niệm Tụng.
Kim
Cang Niệm Tụng: Kim cang Ngữ Ngôn—Niệm thầm—Silent repetition.
Kim
Cang Phan: Vajraketu (skt)—Cờ treo trên cột đầu rồng—A
flag hung to a pole with a dragon’s head.
Kim
Cang Phan Bồ Tát: Vajraketu Bodhisattva (skt)—Vị Bồ Tát
cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer,
one of the sixteen in the Vajradhatu group.
Kim
Cang Pháp Giới Cung: Cung điện của Thai Tạng Giới, nơi
trụ của Đức Đại Nhật Như Lai (kim cương là thực tướng của Như Lai,
pháp giới là trí thể của thực tướng. Pháp thân của Đức Đại Nhật Như
Lai trụ ở trí thể của thực tướng)—The palace or shrine of Vairocana
in the Garbhadhatu.
Kim
Cang Phật: Vajra-buddha (skt)—Đức Đại Nhật Như Lai, có
lúc chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni như là hóa thân của chân lý, trí tuệ và
thanh tịnh—Vairocana, the Sun-Buddha; sometimes applied to Sakyamuni
as embodiment of the Truth, of Wisdom, and of Purity.
Kim
Cang Phật Tử: Con của Kim Cang Phật hay con của Đức Đại
Nhật Như Lai, từ dùng để chỉ những người mới được làm phép gia nhập
vào Mật Giáo—Son of the Vajra-buddha, i.e. of Vairocana, a term applied
to those newly baptized into the esoteric sect.
Kim
Cang Quán: Phép Kim Cang quán là phép quán xuyên qua chân
lý—The diamond insight or vision which penetrates into reality.
Kim
Cang Quyền: Nắm tay Kim Cang hay hai tay nắm lại và để
ngay trước ngực (có bốn loại quyền: nắm tay thông thường, để ngón
cái nằm thẳng, đặt ngón cái vào lòng bàn tay, nắm tay lại với nhau)—Vajra-fist—The
hands doubled together on the breast.
Kim
Cang Quyền Bồ Tát: Một trong những vị Bồ Tát trong nhóm
Kim Cang—One of the Bodhisattvas in the Diamond group.
Kim
Cang Sát: Vajraksetra (skt)—Tên gọi các chùa hay tự viện—Buddhist
monastery or building.
Kim
Cang Tác: Vajrapasa (skt)—Dây thòng lọng kim cang trong
tay của Bất Động Minh Vương—The diamond lasso or noose in the hand
of the subduer of demons (Arya-achlanatha-raja) and others.
Kim
Cang Tác Bồ Tát: Kim Cang Tác Bồ Tát trong Kim cang Giới
Mạn Đồ La, người mang lưới từ bi quấn lấy tâm hồn của chúng sanh hữu
tình—Vajrapasa-bodhisattva in the Vajradhatu mandala, who carries
the snare of compassion to bind the souls of the living.
Kim
Cang Tam Muội: Vajravimbopama (skt)—Tam muội thông suốt
các pháp giống như Phật tánh chân như. Đây là loại tam muội cao nhất
mà người tu Phật có thể đạt được. Nhờ tam muội nầy mà người tu có
thể đoạn diệt cái hình thức vi tế nhất của phiền não—A samadhi on
the idea that all things are of the same Buddha-nature. This is the
highest samadhi attainable by the Buddhist yogin who by this destroys
the subtlest form of the klesa.
** For more information,
please see Kim Cang
Định.
Kim
Cang Tạng: Vajragarbha (skt).
1)
Kho Tạng Kim Cang: The Diamond treasury.
2)
Vị Bồ Tát trong Kinh Lăng Già: The Bodhisattva in the Lankavatara
sutra.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát: Vajra Treasury Bodhisatva.
Kim
Cang Tạng Vương:
1)
Kiếp kế tiếp của Kim cang Tạng Bồ Tát: A form of the next entry
of the Vajra Treasury Bodhisattva.
2)
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Sakyamuni Buddha.
Kim
Cang Tát Đỏa: Vajrasattva-mahasattva (skt)—Kim Cang Thủ.
1)
Bí Mật Chủ Phổ Hiền, vị tổ thứ hai trong tám vị tổ Chân Ngôn,
vị tổ thứ nhất là Đức Đại Nhật Như Lai: A form of P’u-Hsien (Samantabhadra),
reckoned as the second of the eight patriarchs of the Shingon, Vairocana
was the first.
2)
Các vị Chấp Kim Cang Thần, hay các vị Bồ Tát, đặc biệt chỉ
ngài Kim Cang Nguyệt Luân ở Đông độ của Kim Cang Mạn Đồ La: All vajra-beings,
or vajra-bodhisattvas; especially those in the moon circle in the
east of the Diamond mandala.
3)
Ngài Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Bồ tát (tiền thân của Đức Phật
Thích Ca): Sakyamuni in a previous incarnation as a vajrasattva.
4)
Tất cả chúng hữu tình đều là “Kim cang Tát Đỏa” vì tất cả đều
có Phật tính: All beings are vajrasattva, because of their Buddha-nature.
5)
Tất cả những người sơ cơ tín hành đều là Kim Cang tát Đỏa:
All beginners in the faith and practice are vajrasattva.
6)
Tất cả quyến thuộc của Ngài A Súc Bệ Phật đều là Kim Cang Tát
Đỏa: All the retinue of Aksobhya are vajrasattva.
7)
Bất cứ vị Đại Phổ Hiền (bất cứ ai thành tựu mười thệ nguyện
lớn đều là trưởng tử Như Lai, và đều được gọi là Phổ Hiền) nào cũng
đều là Kim Cang Tát Đỏa: Any Great P’u-Hsien is a vajrasattva.
Kim
Cang Tâm: Cái tâm lớn của Bồ Tát bền vững và bất hoại như
kim cương—Diamond heart, that of a bodhisattva, i.e. infrangible,
unmoved by illusion.
Kim
Cang Tâm Điện: Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện hay
Kim Cang Giới Mạn Đà La, nơi trụ của Phật Tỳ Lô Giá Na—The shrine
of the indestructible diamond-brillant heart—The Vajradhatu (mandala)
in which Vairocana dwells.
Kim
Cang Thân: Kiên Thân (thân kiên cố)—Chân Thân (thân chân
thật)—Thân kim cang bất hoại của Phật—Golden body—The diamond body,
the indestructible body of Buddha.
Kim
Cang Thần:
1)
Vị Thần hộ pháp (bảo hộ chư Tăng)—The guardian spirits
of the Buddhist order.
2)
Tượng hộ pháp lớn nơi cổng các tự viện: The large idols at
the gate (entrance) of Buddhist monasteries.
** For more
information, please see Kim
Cang Thủ, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim
Cang Mật Tích.
Kim
Cang Thể: Thân thể bền vững như kim cương, nói về công
đức của Phật thân (thân của Như Lai là thể kim cương. Mọi thứ ác đều
đã cắt đứt, mọi điều vui sướng đều đã huân tập)—The diamond body,
that of Buddha and his merit.
Kim
Cang Thiên: Vị Trời hộ pháp trong nhóm Kim Cang Giới—The
vajra-deva in the Vajradhatu group.
Kim
Cang Thủ: Vajrapani (skt)—
1)
Vị Thần tay cầm Kim Cang Chùy: A holder (protector) of the
vajra.
2)
Hình ảnh hay dấu hiệu Kim Cang Chùy: Any image or symbol of
a Vajra.
** For more
information, please see Đại
Thắng Kim Cang and Kim Cang Mật Tích.
Kim
Cang Thủy: Nước Kim Cương, tên một thứ nước mà người thọ
giới phải uống khi làm nghi thức quán đảnh trong Mật Giáo—Diamond
or Vajra-water, drunk by a person who receives the esoteric baptismal
rite.
Kim
Cang Thừa:Vajrayana (skt)—Tên khác của tông phái Chân Ngôn,
giáo pháp sắc bén như kim cương. Kim Cang Thừa thường được gọi đơn
giản là Phật Giáo Tây Tạng và nó được chia ra làm bốn tông phái chính:
Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa và Gelugpa—The Diamond Vehicle, another
name of the Shingon. The Vajrayana is simply often called Tibetan
Buddhism, and it is divided into four main sects: Nyingmapa, Kagyupa,
Sakyapa and Gelugpa.
1)
Nyingmapa: Giáo phái Nyingmapa là giáo phái cổ nhất của Phật
giáo Tây Tạng, được ngài Liên Hoa Sinh hay Đạo sư Rinpoche sáng lập
vào thế kỷ thứ 8 dưới triều vua Trisong Detsen: The Nyingmapa sect
is the oldest Tibetan Buddhism, founded by Padmasambhava or Guru Rinpoche
in the 8th century under the reign of King Trisong Detsen (742-797).
2)
Kagyupa: Phái Kagyupa được thành lập bởi Marpa Chokyi Lodoe,
một dịch giả Tây Tạng nổi tiếng vào thế kỷ 11 và vị đại đệ tử của
ngài là ngài Milarepa vào thế kỷ thứ 12: The Kagyupa sect was founded
by Marpa Chokyi Lodoe (1012-1099), a famous Tibetan translator in
the 11th century and his outstanding disciple Milarepa (1040-1123)
in the 12th century.
3)
Sakyapa: Phái Sakyapa được vị dịch giả Tây Tạng là Drogmi
Sakya Yeshe sáng lập vào thế kỷ thứ 11: The Sakyapa sect was founded
by the Tibetan translator Drogmi Sakya Yeshe (992-1074) in the 11th
century.
4)
Gelugpa: Phái Gelugpa là phái trẻ nhất và đông nhất trong
các phái Tây Tạng, được ngài Tông Khách Ba hay Je Rinpoche sáng lập
vào thế kỷ thứ 14: The Gelugpa sect, the youngest and largest among
the schools of Tibetan Buddhism, was founded by Thongkhapa (1357-1419)
or Je Rinpoche in the 14th century.
Kim
Cang Tọa: Vajrasana (skt).
1)
Kim Cang Tòa nơi Đức Phật ngồi khi đắc Chánh Đẳng Chánh Giác—Bodhimanda—Buddha’s
seat on attaining enlightenment—The Diamond throne.
2)
Dáng vẻ lúc ngồi: The posture or manner of sitting.
Kim
Cang Trí:
1)
For more information, please see Tự Giác
Thánh Trí.
3)
Kim Cang Trí Pháp Sư—Dharma Master Vajrabodhi:
·
Tên của một vị sư người Tây Ấn, đến
Trung Quốc vào khoảng năm 619 sau Tây Lịch, dưới thời nhà Đường; người
ta nói ông chính là người đầu tiên giới thiệu Du Già Luận và là sơ
tổ của Mật Tông tại Trung Quốc, nhưng có thuyết lại cho rằng chính
A Mục Khư Bạt Triết La mới chính là Sơ Tổ Mật Tông Trung Quốc—Name
of an Indian monk who came to China around 619 A.D., during the T’ang
dynasty; he is said to have introduced the Yogacara system and founded
the esoteric school, but this is attributed to Amoghavajra.
·
Kim Cương Trí (Vajrabodhi 663-723): Ông là người Nam
Ấn, học đạo tại Na Lan Đà. Năm 15 tuổi ông sang Tây Ấn và học tập
Nhân Minh Luận trong bốn năm với Pháp Xứng (Dharmakirti), nhưng trở
về Na Lan Đà để thọ đại giới. Trong sáu năm, ông chuyên học Luật (Vinaya)
và trung Quán Luận (Madhyamika) với Santabodhi, ba năm kế đó ông nghiên
cứu Du Già Luận (Yogacara) của Vô Trước, Duy Thức Luận (Vijnaptimatra)
của Thế Thân và Biện Trung Biên Luận (Madhyanta-vibhanga) của An Huệ
(Sthiramati) với Jinabhadra tati Ca Tỳ La Vệ, vùng Bắc Ấn. Rồi bảy
năm sau nghiên cứu Kim Cang Đảnh (Vajra-sekhara) và các kinh Mật giáo
khác với Long Trí (Nagabodhi) ở Nam Ấn. Sau cùng, ông đáp thuyền theo
đường Nam Hải đến Lạc Dương vào năm 720. Ông dịch thuật nhiều kinh
điển quan trọng của Mật giáo, như Kim Cang Đảnh, vân vân. Năm
741, trong lúc ở Trường An, ông được phép trở về Ấn Độ nhưng mất trên
đường về Lạc Dương: Vajrabodhi came from South India, became a novice
at Nalanda. At the age of fifteen he went to West India and studied
logic for four years under Dharmakirti, but came again to Nalanda
where he received full ordination at twenty. For six years he devoted
himself to the study of Discipline (Vinaya) text and the Middle
Doctrine (Madhyamika) under Santabodhi; for three years he studied
the Yogacara by Asanga, the Vijnaptimatra by Vasubandhu and the Madhyanta-vibhanga
by Sthiramati under Jinabhadra, at Kapilavastu, North India; and for
seven years he studied the Diamond Head (Vajra-sekhara) and other
mystical texts under Nagabodhi, in South India. At last, he sailed
to the southern sea and reached Lo-Yang, China, in 720. He translated
several important mystical texts, such as the Vajra-sekhara. In 741,
while in Ch’ang-An, he obtained permission to return to India,
but on his way he died in Lo-Yang.
Kim
Cang Trí Tam Tạng: Vajrabodhi (skt)—Bạt Viết La Bồ Đề—See
Kim Cang Trí (2).
Kim
Cang Trượng: See Kim Cang Chử.
Kim
Cang Tuệ: Diamond wisdom—See Kim Cang Huệ.
Kim
Cang Tử: Rudraksa (skt)—Hạt kim cang để làm chuỗi—A seed
similar to a peachstone used for beads.
** For more information,
please see Ác Xoa,
and Ác Xoa Tụ.
Kim
Cang Tự: Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong ấp Bình Cang,
xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, Nam Việt Nam. Chùa Kim
cang được dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 17 và đã được trùng tu nhiều
lần. Trong chùa hiện còn bản Kinh Kim Cang bằng chữ Hán được khắc
trên gỗ—Name of a pagoda located in Bình Cang hamlet, Bình Thạnh village,
Thủ Thừa district, Long An province, South Vietnam. Kim Cang Pagoda
was built in the middle of the nineteenth century and has been rebuilt
many times. The copies of the Diamond Sutra in Chinese character,
engraved in wood, has still been kept in the pagoda.
Kim
Cang Vi Sơn:
1)
Núi Thiết Vi bao quanh thế giới: The concentric iron mountains
about the world.
2)
Núi Tu Di: The Sumeru.
3)
Kim Sơn, tên của một ngọn núi trong huyền thoại: Golden Mountain,
name of a fabulous mountain.
Kim
Cang Viêm: See Hỏa Giới and Hỏa Viện.
Kim
Cang Vương: Cái thù thắng (mạnh nhất và tốt nhất) của kim
cang—The Vajra-king, i.e. the strongest, or finest, e.g. a powerful
bull.
Kim
Cang Vương Bảo Giác: Ngọc Ma Ni nẩy nở trong Vô Thượng
Giác, đức hiệu của Như Lai Chánh Giác—The diamond royal-gem enlightenment,
i.e. that of the Buddha.
Kim
Cang Vương Bồ Tát: Một trong 16 vị Bồ Tát trong Kim Cang
Giới—The Diamond King Bodhisattva, one of the sixteen bodhisattvas
in the Diamond realm.
Kim
Chi Ngọc Diệp: Gold branches and jade leaves—Noble.
Kim
Cốt: Xá lợi của Đức Phật—Golden bons, i.e. Buddha’s relics.
Kim
Cương: See Kim Cang.
Kim
Đại Vương: Vị Thần bảo hộ khách lữ hành, Thiên Thủ Quán
Âm—Protector of travellers, shown in the train of the 1,000-hand Kuan-Yin.
Kim
Đề: Kanthaka-asvaraja (skt)—Tên của con ngựa Kiến Trắc
mà Đức Phật đã cỡi đi trong đêm xuất gia—Name of the steed on which
Sakyamuni left his home.
Kim
Địa: Kim Điền—Tự viện Phật giáo (do tích trưởng giả Tu
Đạt lấy vàng mua Kỳ Viên)—A Buddhist monastery.
Kim
Địa Quốc: Suvarnabhumi (skt)—Một nước về phía nam thành
Hoa Tử, vua A Dục đã gửi đoàn truyền giáo Phật giáo đến hoằng pháp
tại đây—A country south of Sravasti, to which Akosa sent missionaries.
Kim
Gia: Trường phái mà mình đang theo—The present school—My
school or sect.
Kim
Hà: See Kim Sa Hà.
Kim
Kê: Gà vàng và hạt thóc trong miệng. Đem gà vàng ví với
lời sấm của Tổ Bồ Đề Đạt Ma—The golden cock or fowl, with a grain
of millet in its beak, a name for Bodhidharma.
Kim
Khẩu: The golden mouth of the Buddha.
Kim
Khẩu Quỷ: Châm khẩu quỷ—Quỷ có cổ nhỏ như cây kim—Needle-mouth
ghosts, with mouth so small that they cannot satisfy their hunger
or thurst.
Kim
Khu: See Kim Thân.
Kim
Lai: The present and the future.
Kim
Lan Cà Sa: See Kim Lan Y.
Kim
Lan Y: Kim Sắc Y—Kim Lan Cà Sa—Áo cà sa dệt bằng sợi vàng—A
kasaya or robe embroidered with gold; a golden robe.
Kim
Liên:
1)
Hoa sen vàng: Golden lotus bloom.
2)
Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong làng Nghi Tàm, xã Quảng
An, huyện Từ Liên, Hà Nội, Bắc Việt Nam. Nguyên xưa là chùa Đống Long,
dựng từ thời nhà Trần (1225-1413) trên một nền nhà cũ, nơi công chúa
Từ Hoa, con gái vua Lý Thần Tông ra đời. Về sau chỗ nầy lập trại trồng
dâu nuôi tằm nên gọi là làng Nghi Tàm. Năm 1639, chùa được tu sử lại,
gọi là chùa Đại Bi, đến năm Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771), lại được trùng
tu, và chùa được mang tên Kim Liên từ đó. Vào năm 1792, chùa lại được
trùng tu và nhiều lần về sau nầy nữa. Chùa hiện nay được coi như là
di sản kiến trúc thời Tây Sơn. Cổng tam quan của chùa có kiến trúc
gỗ độc đáo, đượm dáng vẻ cung đình. Nổi bậc còn có những bức chạm
trỗ hình rồng và hoa nổi trên mặt gỗ hết sức tinh xảo: Name of an
ancient temple, located in Nghi Tàm hamlet, Quảng An village, Từ Liêm
disrict, Hanoi, North Vietnam. Its old name was Đống Long Temple,
built in the Trần dynasty (1225-1413) on an old floor of a house where
Princess Từ Hoa, King Lý Thần Tông’s daughter, was born. The house
was once turned into a plantation for growing mulberry and silk worms.
This is why the village is called Nghi Tàm. In 1639, the temple was
repaired and renamed Đại Bi. In the thirty-second Lê Cảnh Hưng
year (1771), it was rebuilt again, and given the present name, Kim
Lien Temple. In 1792, it was restored on the larger scale and has
been resconstructed many times. At present, Kim Liên Temple is an
architectural artistic vestige of the Tây Sơn dynasty. The three-entrance
gate is of distinctive wooden structure styled Vietnamese royal palace.
Distinguished from the three-entrance structure are the skillfully
carved wooden bas-reliefs representing the image of flowers and dragons.
Kim
Liên Tịch Truyền: Zen Master Kim Liên Tịch Truyền (1745-1816)—Thiền
sư Kim Liên, người Việt Nam, quê ở Thượng Phước, Bắc Việt. Ngài xuất
gia từ thuở bé tại chùa Vân Trai. Sau dó ngài đến chùa Liên Tông và
trở thành đệ tử của ngài Từ Phong Hải Quýnh. Hầu hết cuộc đời ngài
hoằng pháp tại miền Bắc Việt Nam. Ngài thị tịch năm 1816, thọ 70 tuổi—A
Vietnamese Zen master from Thượng Phước, North Vietnam. He left home
and stayed at Vân Trai Temple when he was very young. Later he went
to Liên Tông Temple and became a disciple of Zen Master Từ Phong Hải
Quýnh. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North
Vietnam. He passed away in 1816, at the age of 70.
Kim
Luân:
1)
Nơi thấp nhất của thế giới là phong luân; phong luân dựa vào
hư không (bề dầy là 16 ức do tuần, bền vững như kim cương). Trên phong
luân có thủy luân (sâu 8 ức do tuần). Trên thủy luân có kim luân (dầy
3 ức 2 vạn do tuần do có hình bánh xe nên gọi là kim luân). Trên kim
luân là địa luân (gồm 9 núi 8 biển)—The metal circle on which the
earth rests, above the water circle which is above the wind or air
circle which rests on space.
2)
Kim Luân là một trong bảy báu vật của Chuyển Luân Thánh Vương—The
cakra or wheel or disc, emblem of sovereignty, one of the seven precious
possessions of a Cakra-King—See Tứ Luân (D).
Kim
Luân Phật Đảnh: See Đại Thắng Kim Cang.
Kim
Luân Phật Đảnh Tôn: Đại Xí Thạnh Quang—The Great Blazing
Perfect Light.
Kim
Luân Vương: A Golden-wheel (cakra) king—See Tứ Luân (D).
Kim
Mao Quỷ: Ghosts with needle hair, distressing to themselves
and others.
Kim
Mao Sư Tử:
1)
Sư tử lông vàng mà ngài Văn Thù Sư Lợi cỡi—The lion with golden
hair on which Manjusri rides.
2)
Sư Tử lông vàng cũng là tiền thân của Đức Phật: A previous
incarnation of the Buddha.
Kim
Môn: Golden door (gate).
Kim
Ngân: Gold and silver.
Kim
Ngọc: Gold and jade.
Kim
Ngôn: Lời vàng của Phật—Golden words, i.e. those of Buddha.
Kim
Nhân: Tượng Phật bằng kim loại hay bằng vàng—A image of
Buddha of metal or gold.
Kim
Ô: The sun.
Kim
Phật: See Kim Nhân.
Kim
Quang: Golden light.
Kim
Quang Đồng Tử: Kim Quang Minh Cổ—Người trẻ tuổi dòng Thích
Ca trong thành Ca Tỳ La Vệ, có thân hình đẹp đẽ như ánh kim quang,
xuất gia và gia nhập Tăng đoàn của Đức Phật—Golden Light Drum—A youth
of the Sakya tribe in Kapilavastu, who had a beautiful golden light
body, left home and joined the Order.
Kim
Quang Minh: Ánh sáng vàng chói sáng—The golden light.
Kim
Quang Minh Kinh: Suvarna-prabhasa-uttamaraja (skt)—Kim
Quang Minh Kinh được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ sáu và hai bản
dịch khác về sau nầy (có 3 bản dịch: Đàm Vô Sám đời Bắc Lương, Nghĩa
Tịnh đời Đường, Thiên Thai Trí Giả). Kinh được sơ tổ tông Thiên Thai
là ngài Trí Giả dịch và dùng cho tông phái mình—Golden Light Sutra,
translated in the sixth century and twice later, used by the founder
of T’ien-T’ai.
Kim
Quang Minh Nữ: Phu nhân của Kim Quang Đồng Tử—Wife of Golden
Light Drum—See Kim Quang Đồng Tử.
Kim
Quang Phật Sát: Cảnh giới thấp nhất của Phật Giới—The lowest
of the Buddha-ksetra.
Kim
Quang Tự: Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim
Quang ban đầu có tên là Tường Quang, là một ngôi chùa do dì
của Vua Thành Thái là bà Nguyễn Thị Lựu xây dựng năm 1871. Bốn năm
sau khi lên ngôi, vua Thành Thái đã sắc tứ biển ngạch đổi tên
là Kim Quang Tự, và cấp tiền để phụng thờ tiên tổ. Hoàng Thái Hậu
Từ Minh, thân mẫu của vua Thành Thái ban tiền để thếp vàng tượng Phật
và mở rộng nhà Tăng cũng như hậu liêu. Sau cơn bão lịch sử năm 1904,
chùa bị hư hại nặng, nên nhà vua cấp tiền trùng tu, qui mô chùa lại
một lần nữa đổi mới. Năm 1962, sư Bích Phong chùa Qui Thiện đôn đốc
trùng tu. Năm 1963 sư Toàn Lạc xây cổng tam quan, trùng tu bình phong,
làm cho cảnh chùa trở nên uy nghi hơn. Chùa Kim Quang gắn liền với
họ ngoại của vua Thành Thái. Ảnh của hai vị vua Thành Thái và Duy
Tân đã được thờ trên án thờ phía sau chùa. Chùa Kim Quang là nơi lưu
niệm của hai vì vua yêu nước—Name of an ancient temple in Huế, Central
Vietnam. The temple’s original name was Tường Quang. It was built
in 1871 by one of king Thành Thái’s aunts, Mrs. Nguyễn Thị Lựu.
In 1892, four years after he came to the throne, king Thành Thái officially
recognized the temple and renamed it Kim Quang, and allotted land
for the use of the temple to keep up worship services. The Từ Minh,
the king’s mother, granted money for the statues to be gilted and
the staff house as well as the house enlarged. After the historic
storm in 1904, the temple was badly damaged, so the king granted money
for an overall reconstruction. The structure of the temple once more
changed for the better. In 1962, Venerable Bich Phong from Qui Thiện
temple supervised the reconstruction of the temple. In 1963, Venerable
Toàn Lạc built the three-entrance gate, restored the screen wall,
giving the temple a more impressive appearance. Kim Quang temple was
closely linked with the maternal family of king Thành Thái. Portraits
of king Thành Thái and king Duy Tân were positioned on the altar in
the back room of the temple. Kim Quang temple is also a souvenir to
the above two patriotic kings.
Kim
Quy: Con rùa vàng mà cả thế giới phải tựa vào—The golden
tortoise on which the world rests.
** For more information,
please see Kim
Luân.
Kim
Sa: Cát vàng—Golden sand.
Kim
Sa Hà: Một dòng sông tưởng tượng ở Niết Bàn—An imaginary
river in the Nirvana.
Kim
Sát:
1)
Kim Tháp: A golden pagoda.
2)
Cửu Kim Luân đặt trên đỉnh tháp: The nine golden circles on
top of a pagoda.
Kim
Sắc: Có màu vàng—Golden coloured.
Kim
Sắc Ca Diếp: Tên của Ngài Đại Ca Diếp. Ngài có tên Kim
Sắc Ca Diếp do bởi tương truyền ngài nuốt ánh sáng, nên thân tỏa ra
kim sắc—Name of Mahakasyapa, as he is said to have swallowed light,
hence his golden hue.
Kim
Sắc Khổng Tước Vương: Vị Thiên Thần hỗ trợ người tu hành,
là quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm—The golden-hued peacock king,
protector of travellers, in the retinue of the 1,000-hand Kuan-Yin.
Kim
Sắc Nữ: Công chúa Kim Sắc Nữ, người mà người ta nói rằng
đã ưng chịu Thái Tử Tất Đạt Đa vì màu da của Ngài giống màu da “kim
sắc” của bà—The princess of Varanasi, who is said to have ben offered
in marriage to Sakyamuni because he was of the same colour as herself.
Kim
Sắc Thế Giới: Cõi trời Kim Sắc hay cõi Tịnh Độ của ngài
Văn Thù Sư Lợi—The golden coloured heaven of Manjusri.
Kim
Sắc Vương: Tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—A previous
incarnation of the Buddha.
Kim
Sắc Y: See Kim Lan Y.
Kim
Sơn:
1)
Núi Thiết Vi hay Tu Di: Metal or golden mountain or Sumeru.
2)
Thân Phật: The Buddha’s body.
** For more information,
please see Thất Kim
Sơn.
3)
Tên một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim Sơn trước đây tên
là Bửu Sơn, rồi Ngọc Sơn. Không ai biết chùa được xây dựng từ đời
nào, nhưng hiện nay tại sân Bảo Tàng Cổ Vật Huế vẫn còn một tấm bia
đá chùa Bửu Sơn đề năm 1667. Năm 1904, cơn bão lớn đã làm cho chùa
sụp đổ. Qua năm 1908, vua Duy Tân cho đem tượng Phật và pháp khí về
chùa Thiên Mụ. Trên nền cũ chỉ dựng lại một nhà từ đường để thờ những
vị Tăng quá cố. Vào khoảng cuối thập niên 1970s, chùa được tái thiết,
vẫn tọa lạc trên ngọn đồi tròn thuộc làng Bảo Hựu, cuối một dãy đồi
thấp về phía tây của Huế—Name of an ancient temple in Huế, Central
Vietnam. The temple was first named Bửu Sơn, then Ngọc Sơn. No one
knows when the temple was built; however, there is still a stele of
the temple positioned in the yard of the Museum of Historic Antiques
of Huế which dated 1667. In 1904, a big storm badly damaged
the temple. In 1908, king Duy Tân ordered to dismantle the temple
and to transfer Buddha statues and ritual instruments to Thiên
Mụ temple. On the old side, only a worhsip house was built for the
worship of the dead monks. In the 1970s, the temple was rebuilt on
the the round hill at Bảo Hựu village, at one end of a range of low
hills west of Huế.
Kim
Sơn Vương: Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà—Buddha, especially
Amitabha.
Kim
Tạng: Kim Tạng là tạng chứa châu báu vàng bạc, như là Phật
tánh trong mỗi chúng sanh—Golden treasury, i.e. the Buddha-natue in
all the living.
Kim
Tạng Vân: Khi Hiền Kiếp mới hình thành, giữa bầu trời Quang
Âm đầy mây kim sắc (sắc vàng), mang lại trận mưa đầu tiên—The first
golden treasury cloud when a new world is completed, arising in the
abhasvara heaven and bringing the first rain.
Kim
Thai: See Kim Cang Giới Thai Tạng Giới.
Kim
Thân: Thân Kim Sắc của Đức Phật—The golden body or person,
that of Buddha—The whole body of the Buddha.
Kim
Thóc Như Lai:
1)
Kim Thóc Như Lai: Hạt thóc vàng Như Lai—The golden grain Tathagata.
2)
Danh hiệu của Duy Ma Cật trong một tiền kiếp: A title
of Vimalakirti in a previous incarnation.
Kim
Thời: Present time.
Kim
Thủy: Nước vàng, ám chỉ trí tuệ—Golden water, i.e. wisdom.
Kim
Tiên:
1)
Thần Tiên: Golden rsi or immortal.
2)
Người tu Tiên (đạo Lão): Taoist genii.
3)
Tiếng tôn xưng để gọi Đức Phật: A venerable term for Buddha.
4)
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Tuy không phải
là tổ đình của một hệ phái nào nhưng chùa Kim Tiên là một ngôi chùa
được xây dựng rất sớm ở Huế. Hòa Thượng Bích Phong là vị sư đầu tiên
trùng tu chùa Kim Tiên vào khoảng thế kỷ 17. Sau đó chùa trở thành
phế tích, chỉ còn là một mái thảo am. Đến khoảng giữa triều Gia Long,
Hòa Thượng Đức Hóa tái thiết lại mái thảo am. Mấy mươi năm sau, dưới
triều Tự Đức, chùa được Hòa Thượng Thánh Thông Nhất Trí, một Tăng
Cang của triều đình tại chùa Thiên Mụ trùng tu chùa trên qui mô rộng
lớn hơn, và giao cho Hòa Thượng Tâm Chính Hải Từ trụ trì. Năm 1888,
Hòa Thượng Hải Từ với sự trợ giúp của Hòa Thượng Diệu Giác đã tái
thiết ngôi chùa lần nữa. Năm 1930, chùa được Hòa Thượng Thanh Đức
Tâm Khoan, Tăng Cang chùa Diệu Đế trùng tu lần nữa. Sau đó Hòa Thượng
Hưng Mãn Trừng Gia trùng tu lại chánh điện, tái thiết phương trượng,
xây dựng lại Tăng xá, hậu liêu. Ngày nay, dù chùa đã trải qua nhiều
cuộc trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính—Name od an
old temple in Huế, Central Vietnam. Though it is not a temple that
has relations with a certain venerable patriarch of a Buddhist sect,
Kim Tiên was one of the oldest temples in Huế. Most Venerable Bích
Phong was the first monk who rebuilt the temple in the seventeenth
century. Sometime later, the temple became a ruin, only a thatched
small temple survived. In the middle of King Gia Long'’ reign,
Most Venerable Đức Hóa Đạo Thành rehabilitated the thatched temple
in a small structure. Several decades later, during the reign of king
Tự Đức, the temple was rebuilt on a larger scale by Most Venerable
Tánh Thông Nhất Trí, who was a royal-recognized monk of Thiên Mụ Temple.
In 1888, with the help of Most Venerable Diệu Giác, Most venerable
Tâm Chính Hải Từ rebuilt the temple again. In 1930, Most Venerable
Thanh Đức Tâm Khoan, a royal-recognized monk from Diệu Đế temple rebuilt
the temple again. Though it has been rebuilt so many times, it still
maintains its ancient architectural style.
Kim
Tinh:
1)
Sukra (skt)—The planet Venus.
2)
Tóc của Phật: The Buddha’s hair.
Kim
Trượng: Đức Phật lấy cây gậy và mảnh áo xé (thụ ký việc
chia thành 18 bộ Tiểu Thừa trong giấc mơ của vua Tần Bà Sa La thấy
một chiếc áo bị xé làm 18 mảnh, một cây gậy vàng gẫy thành 18 đoạn.
Ông lo sợ bèn hỏi Đức Phật. Đức Phật nói: “Sau khi ta diệt độ hơn
100 năm sẽ có vị vua tên A Dục uy danh lẫy lừng. Lúc ấy về Luật thì
chia làm 18 môn phái khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn là tu giải thoát)—The
golden staff broken into eighteen pieces and the skirt similarly torn,
seen in a dream by king Bimbisara (eighteen divisions of Hinayana
as in a dream of King Bimbisara).
Kim
Tự Tháp: Pyramid.
Kim
Tỳ La: Kumbhira (skt)—Kim Ba La-Cấm Tỳ La.
1)
Cá Sấu—A crocodile—Alligator.
2)
Vua Dạ Xoa, quy-y và trở thành vị hộ pháp: A Yaksa-king, who
was converted and became a guardian of Buddhism.
Kim
Tỳ La Đà Ca Tỳ La: Kampilla (skt)—Kim Tỳ La Thần—Kim Tỳ
La Đại Tướng.
1)
Quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm: The retinue of 1,000-hand
Kuan-Yin.
2)
Kim Tỳ La Tỳ Kheo: Một vị sư Ấn Độ: An Indian monk.
Kim
Văn: Modern literature.
Kim
Viên: Thuật ngữ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ “viên giáo”
của Pháp Hoa, so với Tích Viên trước đó—A T’ien-T’ai term indicating
the “perfect” teaching, that of the Lotus, as compared with the old
“perfect” teaching which preceded it.
Kim
Xí Điểu Vương: Garuda-raja (skt)—Ca Lâu La Vương.
1)
Vua của loài chim Kim Xí (Loài chim thù thắng nhất trong các
loài chim Kim Xí), bạn đồng hành của thần Visnu—The king of birds,
with golden wings, companion of Visnu.
2)
Kim Xí Điểu Vương còn được dùng để ví với các bậc đại nhân,
trong khi tiểu nhân được ví với loài quạ: Garuda-raja or king of birds
are used to compare with the great people, while the crow are used
to compare with the wicked people.
3)
Kim Xí Điểu Vương còn để chỉ Đức Phật: The king of birds is
a symbol of the Buddha.
Kín:
Secret.
Kinh:
1)
Gai: Thorns.
2)
Sutras (skt)—Sutta (p)—Prayer book—Nghĩa đen của tiếng Phạn
là “sợi chỉ xâu các hạt châu.” Kinh là Thánh Thư của Phật giáo, tức
là những cuộc đối thoại có định hướng, những bài thuyết pháp của Phật
Thích Ca Mâu Ni. Người ta nói có hơn vạn quyển, nhưng chỉ một phần
nhỏ được dịch ra Anh ngữ. Các kinh Tiểu Thừa được ghi lại bằng tiếng
Pali hay Nam Phạn, và các kinh Đại Thừa được ghi lại bằng tiếng Sanskrit
hay Bắc Phạn. Đa số các tông phái Phật giáo được sáng lập theo một
kinh riêng từ đó họ rút ra uy lực cho tông phái mình. Phái Thiên Thai
và Pháp Hoa (Nhật Liên Tông ở Nhật—Nichiren in Japan) thì dùng Kinh
Pháp Hoa; Tông Hoa Nghiêm thì dùng Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, Thiền
Tông không liên hệ với kinh nào cả, điều nầy cho phép các thiền sư
tự do sử dụng các kinh tùy ý khi các thầy thấy thích hợp, hoặc có
khi các thầy không dùng bộ kinh nào cả. Có một câu quen thuộc trong
nhà Thiền là “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền,” nghĩa là không
theo ngôn ngữ văn tự, giáo lý biệt truyền ngoài kinh điển. Điều
nầy chỉ có nghĩa là với Thiền Tông, chân lý phải được lãnh hội trực
tiếp và không theo uy thế của bất cứ thứ gì ngay cả uy thế của kinh
điển—Literally sutra means a thread on which jewles are strung. The
sutras are Buddhist scriptures, that is, the purported dialogues and
sermons of sakyamuni Buddha. There are said to be over ten thousand,
only a fraction of which have been translated into English. The so-called
Hinayana were originally recorded in Pali, the Mahayana in Sanskrit.
Most Buddhist sects are founded upon one particular sutra from which
they derive their authority. The T’ien-T’ai and Lotus Sects from the
Lotus sutra; the Hua-yen from the Avatamsaka Sutra. The Zen sects,
however, is associated with no sutra, and this gives Zen masters freedom
to use the scriptures as and when they see fit or to ignore them entirely.
There is a familiar statement that Zen is a special transmission
outside the scriptures, with no dependence upon words and letters.
This only means that for the Zen sect, truth must be directly grasped
and not taken on the authoriry of any thing, even the sutras.
Kinh
A Di Đà: Sukhavati Vyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh chủ
yếu của trường phái Tịnh Độ. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang
Hán tự—Sutra of Amitabha—Short form of Amitabha Sutra. One of the
three basic sutras of the Pure Land sect. It was translated into Chinese
by Kumarajiva. This is the short form of Amitabha Sutra.
** See Kinh A Di Đà trong phần Appendix A.
Kinh
A Di Đà Bổn Nguyện: Longer Sukhavativyuha Sutra—Longer
Amitabha Sutra—See Tây Phương Cực Lạc và Kinh A Di Đà.
Kinh
A Di Đà Tiểu Bổn: Sukhavati-vyuha (skt)—Kinh A Di Đà Tiểu
Bổn là một bản toát yếu hay trích yếu của Đại phẩm Đại Vô Lượng Thọ
Kinh (Sukhavati-Vyuha). Bộ chót trong số ba kinh, Quán Vô Lượng Thọ
Kinh (Amitayr-dhyana-sutra) cho chúng ta biết nguyên lai của giáo
lý Tịnh Độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. Nguyên do Đức Phật
thuyết Kinh A Di Đà là khi thái tử A Xà Thế nổi loạn chống lại
vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà vua nầy. Hoàng hậu Vi Đề Ha
cũng bị giam vào một nơi. Sau đó Hoàng Hậu thỉnh Đức Phật chỉ
cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xãy ra như
vậy. Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy
tất cả các Phật độ, và bà chọn quốc độ của Đức Phật A Di Đà coi như
là tối hảo. Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ nầy để sau cùng
được thác sanh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài,
và đồng thời giảng giáo pháp của Phật A Di Đà. Đức Phật đã căn dặn
ngài A Nan như sau: “Này A Nan! Hãy ghi nhớ bài thuyết pháp nầy và
lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo nầy, ta gọi đấy
là Kinh A Di Đà.” Đối tượng của bài thuyết pháp nầy của Phật là sự
tôn thờ Phật A Di Đà, và từ đó chúng ta cũng thấy rằng giáo thuyết
của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cuối cùng cũng không khác với giáo thuyết
của Phật A Di Đà. Kinh A Di Đà Tiểu Bổn là giáo tụng chính yếu của
tông Tịnh Độ. Theo Tịnh Độ tông, việc chuyên tâm niệm Phật là cần
thiết để đào sâu đức tin, vì nếu không có đức tin nầy thì không bao
giờ có sự cứu độ trọn vẹn—The smaller text of Sukhavati-vyuha is a
résumé or abridged text of the larger one. The last of the three texts,
the Amitayur-dhyana Sutra, tells us the origin of the Pure Land doctrine
taught by Sakyamuni Buddha. The reason for the Buddha to preach this
sutra was from the following story, Ajatasatru, the prince heir-apparent
of Rajagriha, revolted against his father, King Bimbisara, and imprisoned
him. His consort, Vaidehi, toow was confined to a room. Thereupon
the Queen asked the Buddha to show her a better place where no such
calamities could be encountered. The World-Honored One appeared
before her and showed all the Buddha lands and she chose the Land
of Amitabha as the best of all. The Buddha then taught her how to
meditate upon it and finally to be admitted there. He instructed her
by his own way of teaching and at the same time by the special teaching
of Amitabha. That both teachings were one in the end could be seen
from the words he spoke to Ananda at the conclusion of his sermons.
“Oh Ananda! Remember this sermon and rehearse it to the assembly on
the Vulture Peak. By this sermon, I mean the name of Amitabha."
” From this we can see that the object of the sermon was the adoration
of Amitabha. Thus, we see that Sakyamuni Buddha’s teaching was after
all not different from that of Amitabha. The smaller Sakhavati-vyuha
is the main text for reciting of the Pure Land Sect. With the Pure
Land, the devotional repetition of the Buddha's name is a necessary
action of the pious to deepen the faith, without which salvation will
never be complete.
** For more information,
please see Kinh A Di
Đà in Appendix A.
Kinh
A Dục Vương: Asokaraja Sutra (skt)—Kinh nói về vua A Dục,
vị vua thứ ba của triều đại Mauryan của xứ Ma Kiệt Đà, thuộc Trung
Ấn. Một quân vương Phật tử đã cải từ Ấn giáo sang đạo Phật sau
cuộc trường chinh—The sutra written about the life of King Asoka,
a Buddhist ruler and the third king of the Maurya Dynasty of Magadha,
in central India. He converted from Hinduism to Buddhism after a long
period of war and conquest.
Kinh
A Hàm: Agamas (for Hinayana).
Kinh
Bát Châu Tam Muội: Pratyutpannabuddhasammukha-Vasthitasamadhi-Sutra—Kinh
nói về trạng thái tâm linh được dùng để quán tưởng các vị Phật hay
quán chư Phật hiện tiền Tam muội. Kinh được Ngài Chi Lô Ca Sám dịch
sanh Hán tự—The sutra shows ways of contemplations of any Buddhas.
The sutra was translated into Chinese by Lokaksema.
Kinh
Bát Đại Nhân Giác: Sutra on the Eight Awakenings of Great
People.
(A) Lịch
sử và công năng của Kinh Bát Đại Nhân Giác—History and usage of the
Sutra on the Eight Awakenings of Great People:
a)
Sa môn An Thế Cao, người Parthia, dịch từ Phạn sang Hán vào
khoảng năm 150 sau Tây Lịch (đời Hậu Hán) tại Trung Tâm Phật Giáo
Lạc Dương . Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch từ Hán sang Việt vào khoảng
thập niên 70s. Nguyên văn bản kinh bằng Phạn ngữ không biết còn lưu
truyền tới ngày nay hay không. Kinh nầy thích hợp với cả hai truyền
thống Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa—Shramana An Shi Kao, a Partian
monk, translated from Sanskrit into Chinese in about 150 A.D. (during
the Later Han Dynasty). Most Venerable Thích Thanh Từ translated from
Chinese into Vietnamese in the 1970s. The original text of this sutra
in Sanskrit is still extant to this day. This sutra is entirely
in accord with both the Theravada and Mahayana traditions.
b)
Kỳ thật, từng điều trong tám điều giác ngộ của các bậc vĩ nhân
trong kinh nầy có thể được coi như là đề tài thiền quán mà hàng Phật
tử chúng ta, đêm lẫn ngày hằng giữ thọ trì, chí thành tụng niệm ghi
nhớ, tám điều giác ngộ của các bậc vĩ nhân—In fact, each of the eight
items in this sutra can be considered as a subject of meditation which
Buddhist disciples should at all times, by day and by night, with
a sincere attitude, recite and keep in mind eight truths that all
great people awaken to.
c)
Tám Chơn Lý mà chư Phật, chư Bồ Tát và các bật vĩ nhân đã từng
giác ngộ. Sau khi giác ngộ, các vị ấy lại tiến tu vô ngần từ bi đạo
hạnh để tăng trưởng trí huệ. Dùng thuyền Pháp Thân thong dong dạo
chơi cõi Niết Bàn, chỉ trở vào biển sanh tử theo đại nguyện cứu độ
chúng sanh. Các bậc nầy lại dùng tám Điều Giác Ngộ để khai lối dắt
dìu chúng sanh, khiến cho ai nấy đều biết rành sự khổ não của tử sanh
sanh tử, để từ đó can đảm xa lìa ngũ dục bợn nhơ mà quyết tâm tu theo
Đạo Thánh—Eight Truths that all Buddhas, Bodhisattvas and great people
awaken to. After awakening, they then energetically cultivate the
Way. By steeping themselves in kindness and compassion, they grow
wisdom. They sail the Dharma-body ship all the way across to Nirvana’s
other shore, only to re-enter the sea of death and rebirth to rescue
all living beings. They use these Eight Truths to point out the right
road to all beings and in this way, help them to recognize the anguish
of death and rebirth. They inspire all to cast off and forsake the
Five Desires, and instead to cultivate their minds in the way of all
Sages.
d)
Nếu là Phật tử phải nên luôn trì tụng kinh nầy, hằng đêm thường
trì tụng và nghĩ tưởng đến tám điều nầy trong mỗi niệm, thì bao nhiêu
tội lỗi thảy đều tiêu sạch, thong dong tiến vào nẻo Bồ Đề, nhanh chóng
giác ngộ, mãi mãi thoát ly sanh tử, và thường trụ nơi an lạc vĩnh
cửu—If Buddhist disciples recite this Sutra on the Eight Awakenings,
and constantly ponder its meaning, they will certainly eradicate boundless
offenses, advance toward Bodhi, quickly realize Proper Enlightenment,
forever be free of death and rebirth, and eternally abide in joy.
(B) Hình
thức của kinh—The form of the sutra: Xét về phương diện hình thức
thì kinh văn rất đơn giản. Kinh văn rất cổ, văn thể của kinh thuộc
loại kết tập như Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Kinh Lục Độ Tập. Tuy nhiên,
nội dung của kinh rất sâu sắc nhiệm mầu—The form of the sutra is very
simple. The text form is ancient, just like the Forty-Two Chapters
and the Sutra on the Six Paramitas. However, its content is extremely
profound and marvelous.
(C) Nội
dung của kinh—The content of the Sutra:
1)
Điều Giác Ngộ thứ nhất—The First Awakening:
·
Đời vô thường quốc độ bở dòn—The world is impermanent,
countries are perilous and fragile.
·
Tứ đại khổ không—The body’s four elements are a source
of pain; ultimately, they are empty.
·
Năm ấm vô ngã có còn chi đâu—The Five Aggregates (Skandhas)
are not me.
·
Đổi đời sanh diệt chẳng lâu—Death and rebirth are simply
a series of transformations.
·
Giả dối không chủ lý mầu khó tin—Misleading, unreal,
and uncontrollable.
·
Tâm là nguồn ác xuất sanh—The mind is the wellspring
of evil.
·
Thân hình rừng tội mà mình chẳng hay—The body is the
breeding ground of offenses.
·
Người nào quán sát thế nầy—Whoever can investigate and
contemplate these truths,
·
Lần hồi sanh tử sớm chầy thoát ra—Will gradually break
free of death and rebirth.
2)
Điều Giác Ngộ thứ hai—The Second Awakening:
·
Tham dục nhiều, khổ thiệt thêm nhiều—Too much desire
brings pain.
·
Nhọc nhằn sanh tử bao nhiêu—Death and rebirth are tiresome
ordeals.
·
Bởi do tham dục, mà chiêu khổ nầy—They stem from our
thoughts of greed and desire.
·
Bớt lòng tham dục chẳng gây—By reducing desires.
·
Thân tâm tụ tại vui nầy ai hơn—We can realize absolute
truth and enjoy independence and well-being in both body and mind.
3)
Điều Giác Ngộ thứ ba—The Third Awakening:
·
Đắm mê trần mải miết chẳng dừng—Our minds are never
satisfied or content with just enough.
·
Một bề cầu được vô chừng—The more we obtain, the more
we want.
·
Tội kia thêm lớn có ngừng được đâu—Thus we create offenses
and do evil deeds.
·
Những hàng Bồ Tát hiểu sâu—Bodhisattvas do not make
mistakes.
·
Nhớ cầu tri túc chẳng lâu chẳng sờn—Instead, they are
always content.
·
Cam nghèo giữ đạo là hơn—Nurture the way by living a
quiet life in humble surroundings.
·
Lầu cao trí huệ chẳng khờn dựng lên—Their sole occupation
is cultivating wisdom.
4)
Điều Giác Ngộ thứ tư—The Fourth Awakening:
·
Kẻ biếng lười hạ liệt trầm luân—Idleness and self-indulgence
will be our downfall.
·
Thường tu tinh tấn vui mừng—With unflagging vigor,
·
Dẹp trừ phiền não ác quân nhiều đời—Great people break
through their afflictions and baseness.
·
Bốn ma hàng phục như chơi—They vanquish and humble the
Four Kinds of Demons.
·
Ngục tù ấm giới thảnh thơi ra ngoài—And they escape
from the prison of the Five Skandhas.
5)
Điều Giác Ngộ thứ năm—The Fifth Awakening:
·
Ngu si là gốc khổ luân hồi—Stupidity and ignorance are
the cause of death and rebirth.
·
Bồ Tát thường nhớ không ngơi—Bodhisattvas are always
attentive to.
·
Nghe nhiều học rộng chẳng lơi chút nào—And appreciative
of extensive study and erudition.
·
Vun bồi trí tuệ càng cao—They strive to expand their
wisdom.
·
Biện tài đầy đủ công lao chóng thành—And refine their
eloquence.
·
Đặng đem giáo hóa chúng sanh—Teaching and transfoming
living beings.
·
Niết bàn an lạc còn lành nào hơn—Nothing brings them
greater joy than this.
6)
Điều Giác Ngộ thứ sáu—The Sixth Awakening:
·
Người khổ nghèo lắm kết oán hờn—The suffering of poverty
breeds deep resentment.
·
Không duyên tạo tác ác đâu sờn—Wealth unfairly distributed
creates ill-will and conflict among people.
·
Bồ Tát bố thí, ai hơn kẻ nầy, lòng không còn thấy kia
đây—So, Bodhisattvas practice giving and treat friend and foe alike.
·
Ít khi nhớ đến buồn gây thuở nào. Dù nguời làm ác biết
bao, một lòng thương xót khổ đau cứu giùm—They neither harbor grudges
nor despite evil-natured poeple.
7)
Điều Giác Ngộ Thứ Bảy—The Seventh Awakening:
·
Năm dục gây lầm lỗi ngất trời. Tuy người thế tục ngoài
đời—Great people, even as laity, are not blightly by worldly pleasures.
·
Mà lòng không nhiễm vui chơi thế tình, ba y thường nhớ
của mình, ngày nào sẽ được ôm bình ngao du—Instead, they constantly
aspire to take up the three precepts-robes and blessing-bowl of the
monastic life.
·
Chí mong lìa tục đi tu, đạo gìn trong sạch chẳng lu
không mờ—Their ideal and ambition is to leave the household and family
life to cultivate the way in immaculate purity.
·
Hạnh lành cao vút kính thờ, thương yêu tất cả không
bờ bến đâu—Their virtuous qualities are lofty and sublime; their attitudes
toward all creatures are kind and compassionate.
8)
Điều Giác Ngộ Thứ Tám—The Eighth Awakening:
·
Tử sanh hoài đau khổ vô cùng—Rebirth and death are beset
with measureless suffering and afflictions, like a blazing fire.
·
Phát tâm dõng mãnh đại hùng—Thus, great people make
the resolve to cultivate the Great Vehicle.
·
Quyết lòng độ hết đồng chung Niết bàn—To rescue all
beings.
·
Thà mình chịu khổ muôn vàn, thay cho tất cả an nhàn
thảnh thơi—To endure endless hardship while standing in for others.
·
Mọi người đều được vui tươi, đến bờ giác ngộ rạng ngời
hào quang—To lead everyone to ultimate happiness.
** For more
information, please see Bát Đại
Nhân Giác.
Kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: Prajnaparamitahrdaya-Sutra—Bát
Nhã Ba La Mât Đa Tâm Kinh hay gọi tắt là Tâm Kinh, là phần kinh ngắn
nhất trong 40 kinh tạo thành Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Đây là
một trong những kinh văn quan trọng nhất trong Phật giáo Đại thừa.
Kinh được nhấn mạnh về tánh không. Kinh thường được các Phật tử tụng
thuộc lào trong các tự viện. Một trong những câu nổi tiếng trong kinh
là “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” (hình thức chỉ là hư không,
hư không chỉ là hình thức), một công thức được lập đi lập lại trong
nhà thiền. Toàn bộ văn kinh của Bát Nhã Ba La Mật có nghĩa là “trí
huệ đáo bỉ ngạn.” Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sang Hán tự—The
Heart of the Prajna-Paramita-Sutra or Heart Sutra, the shortest of
the forty sutras that constitute the Prajanparamita-sutra. It is one
of the most important sutras of Mahayana Buddhism. The sutra is especially
emphasized on emptiness (Shunyata). It is recited so frequently in
the temple that most Buddhists chant it from memory. One of the most
famous sentences in the sutra is “Form is no other than emptiness;
emptiness is no other than form,” an affirmation that is frequently
referred to in Zen. The Prajna-Paramita Heart Sutra literally means
“the wisdom that leads to the other shore.” The sutra was translated
into Chinese by Hsuan-Tsang.
** See Bát Nhã Tâm Kinh
trong phần
Appendix A.
Kinh
Biệt Giải Thoát: Pratimoksa sutra (skt)—Kinh Biệt Giải
Thoát là cốt lõi của Tạng Luật. Đây là phần cổ xưa nhất của Luật Tạng
bằng tiếng Ba Li—Pratimoksa sutra is the nucleus of the Vinaya-pitaka.
It is the oldest part of the Pali Pitaka—See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo in
Vietnamese-English Section, and Pratimoksa and Pratimoksa-sutra in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Kinh
Bồ Đề Hành Kinh: Bodhicaryavatara Sutra—Kinh nói về “Đi
vào con đường Giác Ngộ” được Ngài Long Thọ soạn—Entering the Path
of Enlightenment, composed by Nagarjuna.
Kinh
Bổn: Sutra (skt)—Kinh điển trong Tam Tạng được Đức Phật
thuyết giảng—The sutras in the Tripitaka are the sermons attributed
to the Buddha.
**For more information,
please see Kinh.
Kinh
Bổn Sanh: Jataka—Kinh nói chi tiết về tiền thân Đức Phật,
các đệ tử cũng như những kẻ chống phá Ngài. Kinh chỉ bày những hành
động trong tiền kiếp ảnh hưởng thế nào đến những hoàn cảnh của cuộc
sống hiện tại theo đúng luật nghiệp quả—Narratives of birth stories
detail past (previous) lives of the Buddha and of his followers and
foes. The sutra shows how the acts of previous lives influence the
circumstances of the present life according to the law of karma.
Kinh
Bổn Sự: Itvritaka—Narratives of past lives of the Buddha’s
disciples.
Kinh
Chúng Tập: Sangiti Sutta (p).
Kinh
Cô Khởi: Phúng Tụng—Gatha—Verses containing ideas not expressed
in prose.
Kinh
Di Bộ Tông Luân Luận: Samayabhedo Sutra—Kinh được soạn
bởi Ngài Thế Hữu vào khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt, sau được
Ngài Huyền Trang dịch ra Hoa ngữ, nói về thời kỳ phân rẽ thành hai
phái của Phật giáo là Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ—The sutra was
composed by Vasumitra about 100 years after the death of the Buddha,
later was translated into Chinese by Hsuan-Tsang. The sutra mentioned
about the first division of Buddhism into two divisions: The Theravada
(elder monks or intimate disciples) and Mahasanghika (general body
of disciples).
Kinh
Dị: Frightened.
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa: Saddharma-pundarika-Sutra (skt)— Wonderful
Law Lotus Flower—The Lotus of the True Law—Thời gian giữa Đại Hội
Kết Tập lần thứ nhì và thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, văn hóa Đại
Thừa phát triển tại Ấn Độ và sự phổ biến một số kinh điển quan trọng.
Sau đó là hàng trăm kinh điển Đại Thừa được viết bằng tiếng Phạn xuất
hiện. Liên Hoa Kinh, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, một
trong những kinh chính của Phật giáo Đại thừa vì nó chứa đựng những
ý tưởng chủ yếu của Đại thừa, ý tưởng về bản chất siêu việt của Phật
và việc phổ cứu chúng sanh. Trong nhiều phương diện, kinh Pháp Hoa
được xem là kinh căn bản của truyền thống Phật giáo Đại Thừa. Kinh
nầy ảnh hưởng rất lớn đến thế giới Phật tử Đại Thừa, không những chỉ
ở Ấn Độ mà còn tại các xứ khác như Trung Hoa, Nhật Bản, và Việt Nam,
qua các tông Thiên Thai, Nhật Liên và những tông khác. Hơn nữa, kinh
nầy dẫn giải con đường từ bi vô lượng, cũng như cốt lõi hướng đi căn
bản của truyền thống Đại Thừa, đó là tâm đại từ bi. Phật giáo Đại
thừa coi Kinh Liên Hoa là bộ kinh chứa đựng toàn bộ học thuyết của
Phật. Kinh nầy được Phật thuyết giảng trên núi Linh Thứu. Kinh Pháp
Hoa là một trong những bộ kinh lớn trong giáo pháp của Phật. Ý nghĩa
của kinh nầy là Đức Phật đã gom tam thừa Thanh Văn, Duyên Giác, và
Bồ Tát về một thừa duy nhất là Phật Thừa. Trong kinh nầy Đức Phật
đã giải thích rõ ràng về nhiều phương pháp đạt tới đại giác như Thanh
văn, Duyên giác, Bồ tát, v.v. chỉ là những phương tiện được đặt ra
cho thích hợp với trình độ của từng người. Thật ra chỉ có một cỗ xe
duy nhất: Phật thừa dẫn đến đại giác cho chúng sanh mọi loài. Kinh
Pháp Hoa tiêu biểu cho giai đoạn chuyển tiếp từ Phật giáo Tiểu Thừa
sang Đại Thừa. Phần lớn kinh được dùng để chứng minh rằng Đức Phật
đã giảng giáo pháp Tiểu Thừa cho lớp người đầu óc thấp kém, vì đối
với những người nầy không thể giải bày toàn bộ chân lý được. Các Phật
tử Tiểu Thừa được Phật khuyên nên hành trì ba mươi bảy phẩm trợ đạo,
hay các phép tu dẫn đến sự giác ngộ để rũ sạch phiền não, nên hiểu
rõ Tứ Diệu Đế, luật Nhân Quả và nhận thức Nhân Không hay Vô Ngã, để
qua đó có thể đạt được niết bàn. Sau đó Đức Phật nhấn mạnh rằng những
người nầy cần nỗ lực thêm nữa ở đời sau, tạo được những công đức và
phẩm hạnh cần thiết của một vị Bồ Tát để chứng đắc Phật quả. Kinh
được Ngài Dharmaraksa dịch ra Hán văn năm 268 và Cưu Ma La Thập dịch
năm 383. Chúng ta nên nhớ rằng Kinh Pháp Hoa, nguyên đã được ngài
Cưu Ma La Thập phiên dịch thành bảy quyển gồm 27 phẩm. Pháp Hiển,
tìm kiếm một phẩm nữa nên du hành sang Ấn Độ vào năm 475. Khi đến
Khotan, ông tìm thấy phẩm về Đề Bà Đạt Đa. Đề Bà Đạt Đa là anh họ
và cũng là kẻ phá hoại Phật. Ông trở về, và yêu cầu Pháp Ý, người
Ấn, phiên dịch phẩm nầy. Phẩm nầy về sau được phụ thêm vào bản kinh
trước. Do đó kinh Pháp Hoa hiện thời có 28 phẩm. Năm 602 hai vị Jnanagupta
và Dharmagupta cũng dịch bộ kinh nầy sang Hán văn—The period between
the Second Council and the first century B.C., Mahayana literature
developed in India, and the emergence of a number of important texts.
After that, hundreds of Mahayana sutras were composed in Sanskrit.
Sutra of the Lotus Flower, sutra of the Lotus of the Good Dharma,
written in the first century A.D., one of the most important sutras
of Mahayana Buddhism because it contains the essential teachings of
Mahayana, including the doctrines of the transcendental nature of
the buddha and of the possiblity of universal liberation. In many
ways, the Lotus is the foundation sutra of the Mahayana tradition.
It has great influence in the Mahayana Buddhist world, not only in
India, but also in China, Japan, and Vietnam, where it is the favorite
text of the T’ien-T’ai, Nichiren and some other schools. Moreover,
it expounds the way of great compassion, the lotus sutra represents
the essence of the Mahayana tradition’s fundamental orientation, which
is great compassion. It is considered in the Mahayana as that
sutra that contains the complete teaching of the Buddha. The
Lotus Sutra is a discourse of the Buddha on Vulture Peak Mountain.
Dharma Flower Sutra or the Maha Saddharma-pundarika Sutra, or the
Lotus Sutra, is one of the greatest sutras taught by the Buddha. Its
significance is that the Buddha united all three vehicles of Sravaka-Yana
(Sound-Hearer Vehicle), Pratyeka-Buddha-Yana, and Bodhisattva-Yana
and said there is only one vehicle and that is the vehicle of Buddhahood.
In it the Buddha shows that there are many methods through which
a being can attain enlightenment such as shravaska, pratyekabuddha
and bodhisattva, etc. These are only expedients adapted to varying
capabilities of beings. In reality, there is only one vehicle: Buddhayana
(Buddha vehicle), which leads all beings to enlightenment, including
Mahayana and Hinayana. The Saddharma-pundarika sutra represents the
period of transition from Hinayana to Mahayana Buddhism. A large part
of this sutra is devoted to proving that Hinayana Buddhism was preached
by the Buddha for the benefit of people of lower intelligence, to
whom the whole truth was not divulged. Hinayana Buddhists were adivised
to practise the thirty-seven limbs of enlightenment in order to rid
themselves of moral impurities, to comprehend the Four Noble Truths
and the Law of Causation, and to realize the absence of soul or individuality
whereby they can reach a place of rest or nirvana. The Buddha
then advises those who had reached perfection in these attainments,
to exert themselves further in their future existences in order to
acquire the merits and virtues prescribed for the Bodhisattvas for
the attainment of Buddhahood. The sutra was translated into Chinese
by Kumarajiva. We should bear in mind that the Lotus Sutra was originally
translated into Chinse by Dharmaraksa in 268 and Kumarajiva in 383
in seven volumes of twenty-seven chapters. Fa-Hsien, in quest
of another chapter, started for India in 475 A.D. When he reached
Khotan, he found the chapter on Devadatta, a treacherously acting
cousin of the Buddha. He eturned and requested Fa-I, an Indian monk,
to translate it. This translation was later added to the earlier text.
Thus, there are twenty-eight chapters in the present text. In
601A.D., Jnanagupta and Dharmagupta also translated this sutra into
Chinese.
** For more information,
please see Diệu
Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh.
Kinh
Duy Ma Cật: Vimalakirtinirdesa-Sutra—Kinh Duy Ma Cật là
một bộ kinh Đại thừa quan trọng, đặc biệt cho Thiền phái và một số
đệ tử trường phái Tịnh Độ. Nhân vật chính trong kinh là Ngài Duy Ma
Cật, một cư sĩ mà trí tuệ và biện tài tương đương với rất nhiều Bồ
Tát. Trong kinh nầy, Ngài đã giảng về Tánh Không và Bất Nhị. Khi được
Ngài Văn Thù hỏi về Pháp Môn Bất Nhị thì Ngài giữ im lặng. Kinh Duy
Ma Cật nhấn mạnh chỗ bản chất thật của chư pháp vượt ra ngoài khái
niệm được ghi lại bằng lời. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang
Hán tự—The Vimalakirti Sutra, a key Mahayana Sutra particularly with
Zen and with some Pure Land followers. The main protagonist is a layman
named Vimalakirti who is equal of many Bodhisattvas in wisdom and
eloquence. He explained the teaching of “Emptiness” in terms of non-duality.
When asked by Manjusri to define the non-dual truth, Vimalakirti simply
remained silent. The sutra emphasized on real practice “The true nature
of things is beyond the limiting concepts imposed by words.”
The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.
Kinh
Dược Sư Lưu Ly Quang Bản Nguyện Công Đức: Bhaisaya-guru-vaiduryaprabhasapurvapranidhanavisesavistara—Kinh
nhấn mạnh về những công đức của Đức Dược Sư Như Lai và khuyên chúng
sanh hãy tin tưởng vị Phật nầy để được vãng sanh Thiên đường Đông
Độ; tuy nhiên, kinh không phủ nhận Tây phương Cực Lạc. Kinh được Ngài
Huyền Trang dịch sang Hán tự—The Medicine Buddha Sutra—The sutra stresses
on the merits and virtues of Bhaisaya-Guru and encourages sentient
beings to have faith in this Buddha so that they ca be reborn in the
Eastern Paradise; however, the sutra never denies the Western Paradise.
The Sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang—See Mười Hai
Lời nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn: Mahaparinirvana-Sutra—Kinh thuyết về
Phật nhập diệt và nhữõng giáo lý của Ngài, còn gọi là Kinh Thiên Đường.
Kinh cũng bàn về lý thuyết bản tánh Phật vốn có ở mọi thực thể. Kinh
được Ngài Đàm Vô Sám dịch sang Hán tự—Maha Parinirvana Sutra—Great
Nirvana—The sutra or sermon of the Great Decease or passing into final
Nirvana—A long sutra containing a description of the Buddha’s passing
and his teaching—The Paradise Sutra. The sutra also deals with the
doctrine of Buddha-nature, which is immanent in all beings.
The sutra was translated into Chinese by Dharmaksema.
Kinh
Đại Bi Tâm Đà La Ni: Mahakaruna Dharani Sutra—A Sutra of
the Esoteric Buddhist tradition—The Teaching of the powerful effect
of the Avalokitesvara Maha-Bodhisattva Great Compassion Mantra.
Kinh
Đại Bửu Tích: Maha Ratnakuta Sutra—Kinh được ngài Bồ Đề
Lưu Chi dịch sang Hoa ngữ, là một trong những kinh điển xưa nhất của
Phật Giáo Đại Thừa. Trong Đại Bảo Tích, tư tưởng Trung Đạo được triển
khai. Kinh cũng nói về trí huệ siêu việt (Bát Nhã Ba La Mật Đa trong
trường Kinh A Di Đà)—Tạng kinh điển rất quan trọng gồm 6000 trang
trong chín quyển chứa đựng hầu hết những giáo điển trọng đại của Đại
Thừa nhằm đưa chúng sanh đến chỗ Giác Ngộ Tối Thượng của Phật quả—The
sutra was translated into Chinese by Bodhiruci, one of the oldest
sutras of Mahayan. In the Ratnakuta, the thought of the Middle Way
is developed. It also contains sutras on transcendental wisdom (Prajan
Paramita Sutra and Longer Amitabha Sutra)—A very important sutra (6000
pages in nine volumes) which contains almost all the most critical
teaching of the Mahayana Tradition (Great Vehicle) to carry sentient
beings to the Ultimate Enlightenment of Buddhahood.
Kinh
Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Thật Tam Ma Đà: Adhyardhasatika-Prajnaparamita-Sutra—Còn
được gọi là “Lý Thú Kinh” hoặc “Bát Nhã Lý Thú Kinh.” Đây là tinh
yếu giáo lý của Mật Tông, dạy cách tu hành thành Phật ngay trong đời
nầy. Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—Also called “The Interesting
Sutra” or “The Interesting Prajna Sutra.” It stressed on the essence
of the Tantric schools that taught how to practice and become a Buddha
in this very life. The sutra was translated into Chinese by Amoghavajra.
Kinh
Đại Niết Bàn: Maha-Parinirvana Sutra—Great Nirvana Sutra—See
Kinh Đại Bát Niết Bàn.
Kinh
Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm: MahaVaipulya-Avatamsaka-Sutra—Buddhavatamsaka
Sutra—Kinh điển Đại Thừa gồm những giáo lý căn bản của trường phái
Hoa Nghiêm, nhấn mạnh ý tưởng về “Sự thâm nhập tự do lẫn nhau” của
tất cả mọi sự vật. Kinh cũng dạy rằng nhơn tâm là cả một vũ trụ và
đồng nhất với Phật. Do đó, tâm, Phật, và chúng sanh không sai khác.
Trường phái Thiền đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh nầy của học thuyết
Đại thừa. Kinh được Ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch sang Hán tự—The Sutra
of the Garland of Buddhas. Mahayana sutra that constitutes the basis
of the teachings of the Avatamsaka school (Hua-Yen), which emphasizes
above all “mutually unobstructed interpenetration.” The sutra
also teaches that the human mind is the universe itself and is identical
with the Buddha. Indeed, the mind, Buddha and all sentient beings
are one and the same. This aspects of the Mahayana teaching was especially
stressed by the Chinese Zen. The sutra was translated into Chinese
by Buddhabhadra.
Kinh
Đại Tập: Great Heap Sutra.
Kinh
Đại Thừa: Mahayana sutras—Trong số các bộ kinh của Đại
Thừa, có chín kinh sách được xem là quan trọng nhất. Các bộ kinh nầy
được gọi là các kinh Phương Quảng (Vaipulya sutras)—Among the Mahayanist
sutras, nine texts are regarded as the most important. These are called
the Vaipulya sutras:
1)
Bát Thiên Tụng: Astasahasrika-prajna-paramita.
2)
Diệu Pháp Liên Hoa: Sadharma-pundarika.
3)
Lăng Già: Lankavatara.
4)
Phổ Diệu: Lalitavistara.
5)
Kim Quang Minh: Suvarna-prabhasa.
6)
Hoa Nghiêm: Gandavyuha.
7)
Như Lai Mật: Tathagata-guhyaka.
8)
Tam Muội Vương: Samadhi-raja.
9)
Thập Địa Tự Tại: Dasabhumisvara.
Kinh
Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh: Mahavairocanabhisambodhivikur-Vitadhisthanna-vaipulya-Sutrendra-Raja-Nama-Dharmaparyaya—Đây
là một trong những kinh điển căn bản của Phật giáo Mật tông, còn được
gọi là Kinh Đại Nhựt Như Lai. Kinh được các Ngài Thiện Vô Úy và Nhứt
hạnh cùng dịch sang Hán tự—This is one of the fundamental sutras in
Tantric Buddhism. It is also called “Mahavairocana Sutra.” The sutra
was translated into Chinese by Subhakarasimha and I-hsing.
Kinh
Đại Vô Lượng Thọ: The Great Infinite Life Sutra.
Kinh
Đạo: Giáo thuyết của kinh—The doctrine of the sutras.
Kinh
Đạt Ma Đa La Thiền Kinh: Yogacharabhumi-Sutra—Đây là kinh
điển do Đạt Ma Đa La và Phật Đại Tiên biên soạn để phổ biến về phương
pháp thiền định cho các trường phái Tiểu thừa vào thế kỷ thứ 5 sau
Tây lịch. Kinh được Ngài Phật Đà bạt Đà La dịch sang Hán tự. Kinh
chia làm năm phần—This sutra is composed by Dharmatrata and Buddhasena
in the 5th century AD on the methods of meditation for the Hinayana.
The sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra. The sutra
was divided into five parts:
1)
Mười bảy vùng đất đánh dấu sự tiến bước trên đường đại giác
với sự trợ giúp của giáo lý Tiểu thừa Yogachara. Đây là phần quan
trọng nhất: The seventeen stages presenting the progression on the
path to enlightenment with the help of the Yogachara teaching, this
is the most important part.
2)
Những lý giải về những vùng đất khác nhau ấy: Interpretations
of these stages.
3)
Giải thích các kinh điển làm chỗ dựa cho giáo điều về các vùng
đất Yogachara: Explanation of these sutras from which the Yogachara
doctrine of the stages draws support.
4)
Các phạm trù chứa đựng trong các kinh điển ấy: Classifications
contained in these sutras.
5)
Các đối tượng của kinh điển Phật giáo (kinh, luật, luận): Topics
from the Buddhist canon (sutra, Vinaya-pitaka, Abhidharma).
Kinh
Địa Tạng: Ksitigarbhapranidhana-Sutra—Kinh Địa Tạng, nói
về một vị Bồ Tát ở vào thời kỳ vô Phật, tức là thời kỳ giữa lúc Phật
Thích Ca nhập diệt và Phật Di Lặc ra đời. Trong thời ký nầy không
có một vị Phật nào cả; tuy nhiên, thế giới Ta Bà vẫn có Bồ Tát Địa
Tạng với bổn nguyện rộng lớn là cứu độ mọi chúng sanh đau khổ của
địa ngục. Kinh được Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch sang Hán tự—Earth Store
Sutra mentioned about the Buddhaless period, the period from the time
the nirvana of the historical Buddha until the time the coming Buddha
Maitreya descends. In this period, ther is no Buddha; however, the
Saha world still has Earth-Store Bodhisatva who vows to save
all beings in hells. The sutra was translated into Chinese by Siksananda.
Kinh
Điển: Tipitaka (skt)—Những bài thuyết giảng của Đức Phật
Thích Ca. Tam tạng Kinh Điển bao gồm Kinh, Luật và Luận. Phật Giáo
Nguyên Thủy thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng tiếng Ba Li (Nam
Phạn). Phật giáo Đại Thừa thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng tiếng
Bắc Phạn—Canon—Buddhist Sutras—The discourses of Buddha—Canon—Three
baskets in Pali recognized by Theravada school. Sutras were written
down in Sanskrit recognized by the Mahayana school, including the
sutras (kinh), Tantras (luật), and the Commentary (luận).
Kinh
Điển Đại thừa: Mahayana sutras.
Kinh
Đường: Sutra Hall.
Kinh
Gia: Người kết tập kinh điển, như Ngài A Nan, theo truyền
thống được ghi lại thì chính ông là người đầu tiên đã kết tập kinh
điển Phật giáo—One who collected or collects the sutras, especially
Ananda, who according to tradition recorded the first Buddhist sutras.
Kinh
Giả:
1)
Bậc uyên thâm và có khả năng thuyết giảng thông suốt kinh luật:
One who expounds the sutras and sastras.
2)
Bậc uyên thâm và giảng giải thông suốt kinh Pháp Hoa: One who
keeps the teaching of the Lotus Sutra.
Kinh
Giải Thâm Mật: Samdhinirmocana-Sutra—Đây là kinh điển căn
bản của Pháp Tướng Tông, nội dung nói về tư tưởng của trường phái
Duy Thức. Mọi hiện tượng đều là trạng thái của tâm thức. Các đối tượng
chỉ tồn tại qua quá trình trí tuệ, chứ không tồn tại như vốn có. Kinh
được Ngài Huyền Trang dịch sanh Hán tự —This is the basic sutra for
the Dharmalaksana sect. The sutra based on the central notion of the
Yogachara, everything experienceable is mind only. Things exist only
as processes of knowing, not as objects. The sutra was translated
into Chinese by Hsuan-Tsang.
Kinh
Giáo: The teaching of the sutras—See Kinh Lượng Bộ.
Kinh
Giới: Kinh và giới luật,hay những giới luật được tìm thấy
trong kinh điển. Những giới luật được coi là căn bản bất hư—Sutras
and commandments; the sutras and morality or discipline. The commandments
found in the sutras. The commandments regarded as permanent and fundamental.
Kinh
Hạ Sanh Di Lặc Thành Phật: Maitreyavyakarana Sutra—Kinh
ghi lại rằng sau thời Phật Thích ca nhập diệt thì thế giới Ta Bà bước
vào một thời kỳ không có Phật. Hiện thời Đức Di Lặc đang thuyết pháp
trên cung trời Đâu Suất, Ngài sẽ xuất hiện và thành Phật trong hội
Long Hoa. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The sutra
mentioned that after the historical Buddha sakyamuni’s Nirvana, the
whole Saha world entered a period without any Buddha (a Buddhaless
period). At this time, the Buddha-to-be is still preaching in the
Tushita. He will descend and become the Buddha in the “Long Hoa” assembly.
The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.
Kinh
Hãi: To be frightened.
Kinh
Hành: Cankrama (skt).
1)
Hành thiền bằng cách đi tới đi lui để tránh buồn ngủ (có thể
đi trong sân nhà, sân chùa, hay quanh Phật điện): Meditative walking
by walking up and down. To walk about when meditating to prevent sleepiness.
2)
Tập dưỡng thân phòng bệnh trong hành lang tự viện: Exercise
to keep in health; the cankramana was a place for such exercise, i.e.
a cloister, a corridor.
Kinh
Hoa Nghiêm: Avatamsaka (skt)—Flower Ornament Sutra—Nhan
đề Phạn ngữ của Hoa Nghiêm là Avatamsaka, nhưng Pháp Tạng trong bản
chú giải kinh Hoa Nghiêm bộ 60 quyển nói nguyên ngữ chính là Gandavyuha.
Avatamsaka có nghĩa là “một tràng hoa” trong khi nơi chữ Gandavyuha,
thì ganda là “tạo hoa” hay một loại hoa thường và “vyuha” là “phân
phối trật tự” hay “trang sức.” Hoa Nghiêm có nghĩa là trang hoàng
bằng hoa. Hoa Nghiêm là một trong những bộ kinh thâm áo nhất của Đại
Thừa, ghi lại những bài thuyết pháp của Đức Phật sau khi Ngài đã đạt
giác ngộ viên mãn. Gandavyuha là tên phẩm kinh kể lại công trình
cầu đạo của Bồ Tát Thiện Tài Đồng Tử. Bồ Tát Văn Thù hướng dẫn Đồng
Tử đi tham vấn hết vị đạo sư nầy đến vị đạo sư khác, tất cả 53 vị,
trụ khắp các tầng cảnh giới, mang đủ lốt chúng sanh. Đây là lý thuyết
căn bản của trường phái Hoa Nghiêm. Một trong những kinh điển dài
nhất của Phật giáo, cũng là giáo điển cao nhất của đạo Phật, được
Đức Phật thuyết giảng ngay sau khi Ngài đại ngộ. Người ta tin rằng
kinh nầy được giảng dạy cho chư Bồ tát và những chúng hữu tình mà
tâm linh đã phát triển cao. Kinh so sánh toàn vũ trụ với sự chứng
đắc của Phật Tỳ Lô Giá Na. Kinh cũng nhấn mạnh rằng mọi sự vật và
mọi hiện tượng đồng nhất thể với vũ trụ. Sau khi khảo sát về nội dung
của Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy kinh khởi đầu bằng những bản kinh
độc lập và về sau được tập hợp thành một dòng thơ, mỗi thể tài được
trình bày trong các kinh đó đều được xếp loại theo từng thể và được
gọi chung là Hoa Nghiêm—The Garland Sutra—The Sanskrit title is Avatamsaka,
but it is Gandavyuha according to Fa-Tsang’s commentary on the sixty-fascile
Garland Sutra. Avatamsaka means a ‘garland,’ while in Gandavyuha,
ganda means ‘a flower of ordinary kind,’ and vyuha ‘an orderly arrangement’
or ‘array.’ Gandavyuha means ‘flower-decoration.’ Avatamsaka is one
of the profound Mahayana sutras embodying the sermons given by the
Buddha immediately following his perfect enlightenment. The Gandavyuha
is the Sanskrit title for a text containing the account of Sudhana,
the young man, who wishing to find how to realize the ideal life of
Bodhisattvahood, is directed by Manjusri the Bodhisattva to visit
spiritual leaders one after another in various departments of life
and in various forms of existence, altogether numbering fifty-three.
This is the basic text of the Avatamsaka school. It is one of the
longest and most profound sutras in the Buddhist Canon and records
the highest teaching of Buddha Sakyamuni, immediately after enlightenment.
It is traditionally believed that the sutra was taught to the Bodhisattvas
and other high spiritual beings while the Buddha was in samadhi. The
sutra has been described as the “epitome of Budhist thought, Buddhist
sentiment, and Buddhist experiences” and is quoted by all schools
of Mhayana Buddhism. The sutra compares the whole Universe to the
realization of Vairocana Buddha. Its basic teaching is that myriad
things and phenomena are the oneness of the Universe, and the whole
Universe is myriad things and phenomena. After examining the sutra,
we find that there were in the beginning many independent sutras which
were later compiled into one encyclopaedic collection, as the subject-matters
treated in them are all classified under one head, and they came to
be known as Avatamsaka.
Kinh
Hoàng: Terrified—Scared—Consternated.
Kinh
Hoảng: See Kinh hoàng.
Kinh
Hồn: Frightened out of one’s wits.
Kinh
Kệ: See Kinh điển.
Kinh
Khê: Tức Trạm Nhiên Đại Sư, vị tổ thứ chín của tông Thiên
Thai ở Trung Hoa—Ching-Ch’i, thorn stream, name of the ninth T’ien-T’ai
patriarch Chan-Jan.
Kinh
Khủng: Dreadful—Fearful—Frightened.
Kinh
Kim Cang: See Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Kinh
Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa: Vajracchedika-Prajna-Paramita
(skt)—Kinh Kim Cang, một trong những kinh thâm áo nhứt của kinh điển
Đại Thừa. Kinh nầy là một phần độc lập của Kinh Bát Nhã Ba La Mật
Đa. Kinh Kim Cang giải thích hiện tượng không phải là hiện thực, mà
chỉ là những ảo giác hay phóng chiếu tinh thần riêng của chúng ta
(Bất cứ hiện tượng và sự vật nào tồn hữu trong thế gian nầy đều không
có thực thể, do đó không hề có cái gọi là “ngã”). Chính vì thế mà
người tu tập phải xem xét những hoạt động tinh thần của hiện tượng
sao cho tinh thần được trống rỗng, cởi bỏ và lắng đọng. Nó có tên
Kim cương vì nhờ nó mà chúng sanh có thể cắt bỏ mọi phiền não uế trược
để đáo bỉ ngạn. Kinh được kết thúc bằng những lời sau: “Sự giải bày
thâm mật này sẽ gọi là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Vì nó cứng
và sắt bén như Kim Cương, cắt đứt mọi tư niệm tùy tiện và dẫn đến
bờ Giác bên kia.” Kinh đã được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—Sutra
of the Diamond-Cutter of Supreme Wisdom, one of the most profound
sutras in the Mahayana, an independent part of The Vairacchedika Prajanparamita
Sutra. The Diamond Sutra shows that all phenomenal appearances are
not ultimate reality but rather illusions or projections of one’s
mind (all mundane conditioned dharmas are like dreams, illusions,
shadow and bubbles). Every cultivator should regard all phenomena
and actions in this way, seeing them as empty, devoid of self, and
tranquil. The work is called Diamond Sutra because it is sharp
like a diamond that cuts away all necessary conceptualization
and brings one to the further shore of enlightenment. The perfection
of wisdom which cuts like a diamond. The sutra ends with the following
statement: “This profound explanation is called Vajracchedika-Prajna-Sutra,
for the diamond is the gem of supreme value, it can cut every other
material (thought) and lead to the other Shore.” The sutra was translated
into Chinese by Kumarajiva—A gatha of the Diamond Sutra states:
*Nhứt thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn
bào ảnh,
Như lộ, diệc
như điện,
Ưng tác như thị
quán.
*All phenomena in this
world are
Like a dream,
fantasy, bubbles,
shadows;
They are also
like dew, thunder, and
lightening;
One must understand
life like that.
Kinh
Kim Cang Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng
Đại Giáo Vương Kinh: Sarva-tathagatatattvasamgrahama-Hayanabhisamayamahakaparaya—Kinh
điển căn bản của Mật giáo, nói về các nghi thức đặc thù Mật giáo.
Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—This is the basic sutra
of the Tantric Buddhism, stressed on special tantric rituals. The
sutra was translated by amoghavajra.
Kinh
Kim Quang Minh: Suvarnaprabhasa-Sutra—Kinh Kim Quang Minh
Tối Thắng Vương—Kinh Đại thừa cho rằng đọc tụng sẽ được sự hộ trì
của Tứ Thiên Vương. Chính vì thế mà thời trước kinh đóng một vai trò
quan trọng trong việc du nhập đạo Phật vào Nhật bản. Kinh nhấn mạnh
tới khía cạnh chánh trị của đạo Phật, và vì lý do đó nó được nhiệt
liệt hưởng ứng bởi giai cấp lãnh đạo Nhật. Ý tưởng chánh của kinh
là đức trí năng phân biệt thiện ác. Mọi người từ lãnh đạo đến tiện
dân đều phải tuân theo “ánh sáng bên trong” ấy. Kinh được Ngài Nghĩa
Tịnh dịch sang Hán tự—Suvarnaprabhasa-sutra (skt)—The Sutra of Golden
Light—Golden Light Supreme King Sutra, A Mahayana sutra mentioned
that those who recite it will receive the support and protect from
the four heavenly kings. That was why it played a major role in establishing
Buddhism in Japan. It stressed the political aspect of Buddhism and
thus was highly regarded by the Japanese ruling class. The main theme
of the sutra is the virtue of wisdom (inner light) which discriminates
good and evil. Each person from the ruler to those in the lowest state,
must follow this “inner light.” The sutra was translated into Chinese
by I-Ching.
Kinh
Lăng Già: Lankavatara Sutra (skt)—Kinh Lăng Già là giáo
thuyết triết học được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết trên núi Lăng
Già ở Tích Lan. Có lẽ kinh nầy được soạn lại vào thế kỷ thứ tư hay
thứ năm sau Tây Lịch. Kinh nhấn mạnh về tám thức, Như Lai Tạng và
“tiệm ngộ,” qua những tiến bộ từ từ trong thiền định; điểm chính trong
kinh nầy coi kinh điển là sự chỉ bày như tay chỉ; tuy nhiên
đối tượng thật chỉ đạt được qua thiền định mà thôi. Kinh có
bốn bản dịch ra Hán tự, nay còn lưu lại ba bản. Bản dịch đầu tiên
do Ngài Pháp Hộ Đàm Ma La sát dịch giữa những năm 412 và 433, nay
đã thất truyền; bản thứ nhì do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào năm
443, gọi là Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh, gồm 4 quyển, còn
gọi là Tứ Quyển Lăng Già; bản thứ ba do Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang
Hán tự vào năm 513, gồm 10 quyển, gọi là Nhập Lăng Già Kinh; bản thứ
tư do Ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào những năm 700 đến 704 đời
Đường, gọi là Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh, gồm 7 quyển, nên còn gọi
là Thất Quyển Lăng Già. Đây là một trong những bộ kinh mà hai trường
phái Du Già và Thiền tông lấy làm giáo thuyết căn bản. Kỳ thật bộ
kinh nầy được Tổ Bồ Đề Đạt Ma chấp thuận như là bộ giáo điển được
nhà Thiền thừa nhận. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
đã tiên đoán rằng, “về sau nầy tại miền nam Ấn Độ sẽ xuất hiện một
vị đại sư đạo cao đức trọng tên là Long Thọ. Vị nầy sẽ đạt đến sơ
địa Bồ Tát và vãng sanh Cực Lạc.”—A philosophical discourse attributed
to Sakyamuni as delivered on the Lanka mountain in Ceylon. It may
have been composed in the fourth of fifth century A.D. The sutra stresses
on the eight consciousness, the Tathagatha-garbha and gradual enlightenment
through slow progress on the path of meditative training; the major
idea in this sutra is regarding that sutras merely as indicators,
i.e. pointing fingers; however, their real object being only attained
through personal meditation. There have been four translations into
Chinese, the first by Dharmaraksa between 412-433, which no longer
exists; the second was by Gunabhada in 443, 4 books; the third by
Bodhiruci in 513, 10 books; the fourth by Siksananda in 700-704, 7
books. There are many treatises and commentaries on it, by Fa-Hsien
and others. This is one of the sutras upon which the Zen and Yogacara
schools are based. In fact, this was the sutra allowed by Bodhidharma,
and is the recognized text of the Ch’an School. In the Lankavatara
Sutra, Sakyamuni Buddha predicted, “In the future, in southern India,
there will be a great master of high repute and virtue named Nagarjuna.
He will attain the first Bodhisattva stage of Extreme Joy and be reborn
in the Land of Bliss.”
Kinh
Lăng Nghiêm: Surangama Sutra (skt)—Tên đầy đủ là Kinh Đại
Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, là bộ kinh thâm sâu nguyên tác bằng tiếng
Phạn, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Kinh Lăng Nghiêm
được ngài Paramartha (Chơn Đế) đem sang Trung quốc và được thừa tướng
Vương Doãn giúp dịch vào khoảng năm 717 sau Tây Lịch (có người nói
rằng vì vụ dịch kinh không xin phép nầy mà hoàng đế nhà Đường nổi
giận cách chức thừa tướng Vương Doãn và trục xuất ngài Chơn Đế về
Ấn Độ). Bộ kinh được phát triển và tôn trọng một một cách rộng rãi
ở các nước Phật Giáo Đại Thừa. Cùng với các vấn đề khác, kinh giúp
Phật tử tu tập Bồ Tát Đạo. Kinh còn nói đầy đủ về các bước kế tiếp
nhau để đạt được giác ngộ vô thượng. Kinh cũng nhấn mạnh đến định
lực, nhờ vào đó mà đạt được giác ngộ. Ngoài ra, kinh còn giải thích
về những phương pháp “Thiền Tánh Không” bằng những phương thức mà
ai cũng có thể chứng ngộ được—Also called the Sutra of the Heroic
One. This profound writing, originally in sanskrit, written in the
first century A.D. The sutra was brought to China by Paramartha and
translated into Chinese with the assistance of Wang Yung about 717
A.D. (some said that it was angered the T’ang Emperor that this had
been done without first securing the permission of the government,
so Wang-Yung was punished and Paramartha was forced to return to India)—It
is widely developed and venerated in all the Mahayana Buddhist
countries. Among other things, the sutra helps Buddhist followers
exercising Bodhisattva magga. It deals at length with the successive
steps for the attainment of supreme enlightenment. It also emphasizes
the power of samadhi, through which enlightenment can be attained.
In addition, the sutra also explains the various methods of emptiness
meditation through the practice of which everyone can realize enlightenment.
Kinh
Lễ Sáu Phương: Worship in the Six Directions Sutra—See
Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A (7).
Kinh
Liên Đới: Book of Relations.
Kinh
Luân: To adminster—To manage.
Kinh
Luận: The sutras and sastras—See Kinh Luật Luận.
Kinh
Luận Nghị: Upadesa—Thuyết về Lý Luận—Discussions of doctrine.
Kinh
Luật Luận: Sutras, Vinaya, Abhidharma sastras (skt)—Tam
Tạng Kinh Điển Phật—The three divisions of the Buddhist canon.
1)
Kinh: Sutra (skt)—See Kinh and Kinh Bổn.
2)
Luật: Vinaya (skt)—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
3)
Luận: Sastra (skt)—See Abhidharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section, and Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá in Vietnamese-English Section.
Kinh
Lượng Bộ: Sautrantika or Santrantivadin (skt)—Thuyết Độ
Bộ—Thuyết Chuyển Bộ—Giáo thuyết trong kinh điển (một trong 18 bộ của
Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật nhập diệt 400 năm, nó được tách ra từ
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Trong số Tam Tạng chỉ có bộ nầy dùng kinh
làm chính lượng nên gọi là Kinh Lượng Bộ, người khai sáng ra bộ nầy
là Cưu Ma La Đà (bộ phái nầy chỉ lấy Kinh làm chính lượng, chỉ dùng
kinh điển để chứng minh). Bộ nầy cho rằng có sự chuyển thực thể từ
kiếp nầy sang kiếp khác. Theo các Phật tử của phái nầy thì trong
ngũ uẩn của con người, chỉ có một uẩn vi tế nhất chuyển từ kiếp nầy
sang kiếp khác, trái với Chánh Lượng Bộ cho rằng toàn bộ ‘pudgala’
đều được chuyển đi. Phái nầy cũng tin rằng mỗi người đều có một khả
năng tiềm ẩn trở thành Phật, đây vốn là chủ thuyết của giáo phái Đại
Thừa. Do những quan điểm đó nên bộ phái nầy được xem là một cầu nối
giữa Thanh Văn Thừa (thường được gọi là Tiểu Thừa) và Đại Thừa—The
teaching of the sutras, an important Hinayana school, which based
its doctrine on the sutras alone, the founder of this division is
Kumara-labha. This school believed in the transmigration of a substance
(sankranti) from one life to another. According to its followers,
of the five skandhas of an individual, there is only one subtle skandha
which transmigrates, as agianst the whole of the pudgala of the Sammitiyas.
It also believed that every man had in him the potentiality of becoming
a Buddha, a doctrine of the Mahayanists. On account of such views,
this school is considered to be a bridge between the Sravakayana (often
called the Hinayana) and the Mahayana.
Kinh
Ma Đăng Già: Matangi-Sutra—Kinh đặc trọng tâm vào câu chuyện
về một phụ nữ tên Ma Đăng Già, thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội
Ấn Độ, đã được Phật Thích Ca thu nhận làm đệ tử. Trong nầy, Đức Phật
cũng giảng tỉ mỉ rằng mọi giai cấp đều bình đẳng. Kinh được Ngài Trúc
Luật Viêm và Chi Khiêm dịch sang Hán tự—The sutra stressed on the
story of a lady named Matangi, she belonged to the lowest class in
Indian society. In this sutra, the Buddha also expounded clearly on
the “Equality” of all classes. The sutra was translated into Chinese
by Chu-lu-Yen and Chih-Ch’ien.
Kinh
Ma Ha Tăng Chỉ Luật: Mahasanghika-Vinaya—Sau khi Phật nhập
diệt 100 năm thì cộng đồng Phật giáo thời bấy giờ chia làm hai phái,
Thượng Tọa và Đại Chúng. Bên Đại Chúng Bộ đã tự kết tập thành bộ luật
Ma Ha Tăng Chỉ, nói về chi tiết những giới luật của chư Tăng Ni. Kinh
được Ngài Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch sang Hán tự—100 years
after the Buddha’s nirvana, Buddhist community was divided into two
divisions: Theravada and Mahasanghika. The Theravada wanted
to keep the same rules since the Buddha’s time; however, the Mahasanghika,
the majority, believed proposed five points which laid foundation
for the Mahasanghika-Vinaya:
1)
Một vị A La Hán vẫn còn bị cám dỗ: An arhat is still subject
to temptation.
2)
Một vị A La Hán vẫn còn dấu vết của sự ngu dốt: An arhat
is still not yet free from ignorance.
3)
Một vị A La Hán vẫn còn nghi ngờ về học thuyết: An arhat is
still subject to doubts concerning the teaching.
4)
Một vị A La Hán có thể tu hành giác ngộ nhờ sự giúp đở của
tha lực: An arhat can make progress on the path to enlightenment through
the help of others.
5)
Một vị A La hán có cơ may được cứu rỗi bằng việc lập đi lập
lại những âm thanh: An arhat can advance on the path through utterance
of certain sounds.
** This sutra
was translated into Chinese by
Buddhabhadra and Fa-Hsien.
Kinh
Na Tiên Tỳ Kheo: Sutra on Questions of King Milinda—See
Milindapanha.
Kinh
Ngạc: Surprised—Amazed—Stupified—Astounded.
Kinh
Nghi: To fear and to suspect.
Kinh
Nghiệm: Anubhava (skt)—Experience—Sự hiểu biết xuất phát
từ sự quan sát của cá nhân hay thực nghiệm; ấn tượng của tâm chứ không
từ ký ức—Experience means knowledge derived from personal experiment;
impression on the mind not from memory.
Kinh
Nghiệm Bây Giờ: Immediate experience.
Kinh
Nguyệt Đăng Tam Muội: Samadhirajacandrapradipa-Sutra—Kinh
ghi lại một cuộc đối thoại giữa một người trẻ tuổi tên là Nguyệt Đăng
và Đức Phật Thích Ca, trong đó Đức Phật chỉ bày cách quán tánh “Bình
Đẳng” cho tất cả mọi vật. Kinh cũng nhấn mạnh về bản chất đồng
nhất của mọi sự vật, mọi vật tồn hữu đều không có thực thể, giống
như giấc chiêm bao hoặc như ảo tưởng. Nhận chân được như vậy là đạt
tới cảnh giới giác ngộ vậy. Kinh được Ngài Na Liên Đề Da Xá dịch sang
Hán tự—The sutra mentioned a dialogue between a young person named
Candragupta and the Buddha Sakyamuni. In which the Buddha taught about
“Emptiness or Sunyata” in all things. The sutra also emphasized on
the essential identity of all things, everything exists without its
own reality, it is like a dream or illusion. To realize this means
to reach the realm of enlightenment. The sutra was translated into
Chinese by Narendrayasas.
Kinh
Nguyệt Thượng Nữ Kinh: Candrottaradarikapariprccha-Sutra—Kinh
nói về nàng Nguyệt Thượng, con gái của ông trưởng giả Duy Ma Cật (không
phải là Cư Sĩ Duy Ma Cật). Nàng được đức Phật thọ ký rằng trong một
kiếp tương lai sẽ trở thành một vị Phật. Kinh được Ngài Xà Na Quật
Đa dịch sang Hán tự—The sutra mentioned about Candrottara, a daughter
of a rich old man named Vilamakirti (not the layman Vilamakirti).
She was predicted by the Buddha that she would become a Buddha in
a future life. The sutra was translated into Chinese by Jnanaguptaad.
Kinh
Nhơn Duyên: Nidana—Narratives of the past which explain
a person’s present state.
Kinh
Nhơn Vương Bát Nhã Ba La Mật: Karunikaraja-Prajnaparamita-Sutra—Kinh
nhấn mạnh đến “Trí huệ Phật” trong việc duy trì an ninh phúc
lợi trong quốc gia. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—The
sutra stressed on the “Buddha wisdom” for rulers to maintain security
and welfare for the country. The sutra was translated into Chinese
by Kumarajiva.
Kinh
Niên: Chronic—Lasting for a long time.
Kinh
Niết Bàn: Parinirvana Sutra (skt)—Kinh Niết Bàn là bộ kinh
cuối cùng mà Đức Phật thuyết trước khi Ngài nhập diệt. Theo Giáo Sư
Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, giáo lý của
Kinh Niết Bàn là một đề tài học hỏi hấp dẫn trong thời kỳ nầy. Đạo
Sanh hằng chú tâm vào việc nghiên cứu Kinh Pháp Hoa, cũng là một lãnh
tụ trong việc quảng diễn lý tưởng Niết Bàn. Nhân đọc bản cựu
dịch kinh Niết Bàn gồm sáu quyển, ông nêu lên chủ trương rằng
Nhất Xiển Đề (Icchantika—Hạng người được xem như không có Phật tính
và không thể thành tựu Phật quả) cũng có thể đạt đến Phật quả. Rồi
ngay sau đó một bản kinh bằng Phạn ngữ về Đại Bát Niết Bàn được truyền
vào và phiên dịch ra Hán văn. Lý thuyết cho rằng Nhất Xiển Đề cũng
có thể đạt đến Phật quả được tìm thấy trong bản kinh nầy. Sau đó ông
cũng soạn một bản sớ giải về Kinh Niết Bàn—Parinirvana Sutra was the
last sutra which the Buddha preached before he passed away. According
to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy,
the doctrine of the Nirvana text was another fascinating subject of
learning at the present time. Tao-Shêng, already conspicuous in the
study of the Lotus, was also a leader in the exposition of the ideal
of Nirvana. On reading the old Nirvana text, which was in six Chinese
volumes, he set forth the theory that the Icchantika (a class of men
who were bereft of Buddha-nature and destined to be unable to evolve
to the Buddha stage) could attain Buddhahood. Soon afterwards, a Sanskrit
text of the Mahaparinirvana Sutra was introduced and translated. The
theory that the Icchantika could attain Buddhahood was found in the
text. People marveled at his deep insight. Later he also compiled
a commentary on the Nirvana Sutra.
Kinh
Phạm Võng: Brahmajala (skt)—Brahma-Net Sutra, or Indra’s
Net Sutra, Sutra of Net of Indra—Gọi đầy đủ là Phạm Võng Tỳ Lô Giá
Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giai Phẩm Đệ Thập. Kinh được Ngài Cưu
Ma La Thập, nước Thiên Trúc dịch sang Hán tự. Kinh mang những bài
học về đạo đức cho Bồ tát. Giới Luật trong Kinh Phạm Võng được
chia làm hai phần (10 giới luật Đại thừa quan trọng mà mỗi tín
đồ Phật giáo phải tuân theo hay tránh mắc phải)—The sutra was translated
into Chinese by Kumarajiva. It contains the Moral Code of the Bodhisattva.
There are two main divisions of moral code:
(A) Mười
trọng giới Đại Thừa cho Phật Tử, nhất là Phật tử xuất gia—10 rules
of Mahayana, which are obligatory for every follower, especially for
monks and nuns:
1)
Không sát sanh: Avoidance of killing.
2)
Không trộm cướp: Avoidance of stealing.
3)
Không xa hoa: Avoidance of unchase behavior.
4)
Không nói dối: Avoidance of lying.
5)
Không nghiệp ngập: Avoidance of use of intoxicants.
6)
Không nhàn đàm hý luận: Avoidance of gossiping.
7)
Không khoe khoang: Avoidance of boasting.
8)
Không ganh ghét: Avoidance of envy.
9)
Không đố kỵ và ác tâm: Avoidance of resentment and ill-will.
10) Không
phỉ báng Tam Bảo: Avoidance of slandering of the three precious ones.
** For more
information, please see Mười
Giới Trọng Của Chư Bồ Tát trong Kinh
Phạm Võng, and Bốn Mươi Tám Giới
Khinh.
(B) Bốn
mươi tám giới khinh—Forty-eight minor or lighter precepts—See Bốn
Mươi Tám Giới Khinh in Vietnamese-English Section, and Forty-Eight
Minor Precepts.
Kinh
Phạm Võng Bồ Tát Giới: See Kinh Phạm Võng.
Kinh
Pháp: Giáo thuyết hay giáo pháp được Phật nói trong kinh
điển—The doctrine of the sutras as spoken by the Buddha.
Kinh
Pháp Bảo Đàn: Kinh được Lục Tổ thuyết. Văn bản chủ yếu
của Thiền Nam Tông, gồm tiểu sử, những lời thuyết giảng và ngữ lục
của Lục Tổ tại chùa Bảo Lâm được đệ tử của Ngài là Pháp Hải ghi lại
trong 10 chương---Sutra of Hui-Neng—Platform Sutra—Sixth Patriarch
Sutra—The Platform Sutra of the Sixth Patriarch’s Dharma Treasure,
the basic text of the Southern Zen School in China. The Sutra of the
Sixth Patriarch from the High Seat of the Dharma Treasure, basic Zen
writing in which Sixth Patriarch’s biography, discourses and sayings
at Pao-Lin monastery are recorded by his disciples Fa-Hai. It is divided
into ten chapters.
Kinh
Pháp Cú: Dharmapada (skt)—Dhammamapada (p)—Kinh Pháp Cú
gồm những thí dụ về giáo lý căn bản Phật giáo, rất phổ thông trong
các xứ theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy. Tuy nhiên, bộ kinh
nầy thuộc văn học thế gian và được nhiều người biết đến ở các nước
theo Phật giáo cũng như các nước không theo Phật giáo, vì ngoài những
giáo lý của đạo Phật, bộ kinh còn chứa đựng những ý tưởng răn dạy
chung mọi người. Kinh có 423 câu kệ, xếp theo chủ đề thành 26 chương.
Kinh Pháp Cú bàn về các nguyên tắc chủ yếu của triết học Phật giáo
và cách sống của người Phật tử nên được các tu sĩ trẻ tại các nước
vùng Nam Á học thuộc lòng. Kinh Pháp Cú khuyên người ta những điều
sau đây—Dharmapada includes verses on the basics of the Buddhis teaching,
enjoying tremendous popularity in the countries of Theravada Buddhism.
However, Dharmapada belongs to world literature and it is equally
popular in Buddhist as well as non-Buddhist countries, as it contains
ideas of universal appeal besides being a sutra of Buddhist teachings.
It consists of 423 verses arranged according to topics into 26 chapters.
The Dharmapada contains the Buddha’s teachings or the essential principles
of Buddhist philosophy and the Buddhist way of life, so it is learned
by heart by young monks in Buddhist countries in South Asia.
People are advised by the Dharmapada the followings:
1)
Đức Phật nhấn mạnh trong Kinh Pháp Cú về việc: “Đừng làm điều
ác, tu tập hạnh lành, và giữ cho tâm ý thanh sạch.”—The Buddha emphasizes
in the Dharmapada: “Abstain from all evil, accumulate what is good,
and purify your mind.”
2)
Phải theo Trung Đạo và Bát Thánh Đạo của các vị Phật; phải
dựa vào Tam Bảo: One must follow the Middle Path, the Noble Eightfold
Path of the Buddhas; one must also take refuge in the Three Jewels
(Trinity).
3)
Kinh khuyên người ta nên tránh việc cúng tế có giết mổ và tránh
sự hành xác: The Dharmapada advises people to avoid all kinds of sacrifice
and the ascetic practices of self-mortification.
4)
Kinh khuyên người ta nên nhấn mạnh vào việc tu tập giới, định,
huệ: The Dahrmapada advises people to concentrate in cultivating good
conduct (sila), concentration (samadhi) and insight (prajna).
5)
Kinh cũng khuyên mọi người đừng nên chỉ nhìn bề ngoài đẹp đẽ
của vạn pháp mà phải nhìn kỹ những khía cạnh không tốt đẹp của
chúng: The Dharmapada advises people not to look to the external attraction
of things, but to take a close look of their unpleasant aspects.
6)
Kinh luôn nhấn mạnh rằng tham, sân, si là những ngọn lửa nguy
hiểm, nếu không kềm chế được chắc hẳn sẽ không có được đời sống an
lạc: The Dharmapada always emphasizes that greed, ill-will and delusion
are considered as dangerous as fire, and unless they are held under
control, it is not possible to attain a happy life.
7)
Kinh đặt nặng nguyên tắc nỗ lực bản thân, chứ không có một
ai có thể giúp mình rũ bỏ điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và chư Bồ
Tát cũng không giúp bạn được. Các ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ
đường và hướng dẫn bạn mà thôi: The Dharmapada emphasizes the principles
that one makes of onself, and that no one else can help one to rid
oneself of impurity. Even the Buddhas and Bodhisattvas are of little
help because they only serve as masters to guide you.
8)
Kinh khuyên người ta nên sống hòa bình, chứ đừng nên dùng bạo
lực, vì chỉ có tình thương mới thắng được hận thù, chứ hận thù không
bao giờ thắng được hận thù: The Dharmapada recommends people to live
a life of peace and non-violence, for enmity can never be overcome
by enmity, only kindness can overcome enmity.
9)
Kinh khuyên nên chinh phục sân hận bằng từ bi, lấy thiện thắng
ác, lấy rộng lượng thắng keo kiết, lấy chân thật thắng sự dối trá:
The Dharmapada advises people to conquer anger by cool-headedness,
evil by good, miserliness by generosity, and falsehood by truth.
10) Kinh
khuyên người ta không dùng lời cay nghiệt mà nói với nhau kẻo rồi
chính mình cũng sẽ được nghe những lời như thế: The Dharmapada also
enjoins people not to speak harshly to others, as they in their turn
are likely to do the same to us.
Kinh
Pháp Hoa: Suddharma-Pundarika Sutra—The Lotus Sutra—See
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa in Vietnamese-English Section.
Kinh
Pháp Hoa Phẩm Phổ Môn: Avalokitesvara Chapter in
the Suddharma-Pundarika Sutra.
Kinh
Phân Biệt: Book of Treatise.
Kinh
Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni: The Unisha Vijaja Dharani
Sutra—Một trong những giáo điển Đại thừa dạy về Phật trí thậm thâm.
Kinh cũng nhấn mạnh rằng nếu tứ chúng đệ tử Phật (Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di) thành tâm và tín tâm học đạo và tu hành thì
họ cũng có thể tận diệt ác nghiệp để đạt được trí huệ Phật ngay trong
đời kiếp nầy—One of many Mahayana dharma teachings that has profound
Buddhist wisdom that only Buddhas are capable of understanding and
grasping fully. The sutra also stresses that if the Buddha’s
four kinds of disciples (Bhikshu, Bhikshuni, Upasaka, Upasika) sincerely
and faithfully recite and cultivate the dharmas he taught, they can
eliminate evil karma and attain wisdom in this very life.
Kinh
Phật Sở Hành Tán: Buddhacarita—Kinh nói về tiểu sử của
Đức Phật Thích Ca do Mã Minh Asvaghosa soạn thảo vào thế kỷ thứ nhất,
và Đàm Vô Sám dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ bảy—The Sutra of “Life
of Buddha” composed by Asvaghosa in the first century and translated
into Chinese by T’an Wu Ch’an in the seventh century.
Kinh
Phí: Expenditures—Expenses.
Kinh
Phong: Convulsion.
Kinh
Phổ Hiền Bồ Tát: The Sutra of Meditation of the Bodhisattva
Universal Virtue.
Kinh
Phương Quảng: Kinh Phương Đẳng—Vaipulya (for Mahayana)—An
extensive exposition of principles of truth.
Kinh
Quán Phật Tam Muội: Sutra on Buddha Samadhi Visualization.
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ: Amitayurdhyana Sutra—Kinh quán Phật
A Di Đà, vị Phật trường thọ. Đây là một trong ba bộ kinh chính của
trường phái Tịnh Độ. Kinh diễn tả về cõi nước Tịnh Độ của Phật A Di
Đà và phương pháp tu hành cho phái Tịnh Độ qua cuộc sống tịnh hạnh,
trì trai giữ giới và niệm hồng danh Phật A Di Đà để gột rữa những
ác nghiệp và vãng sanh Tịnh Độ. Kinh cũng nói về thời giảng của Phật
đã chỉ dẫn Hoàng Hậu Vi Đề Hi cách vãng sanh Tịnh Độ—Meditation Sutra,
the sutra on the contemplation of the Buddha Amitabha, the buddha
of Boundless Life. This si one of the three sutras that form the doctrinal
basis of the Pure Land sect. It gives description of the Pure Land
of the Buddha Amitabha and the pactice of this school through leading
a pure life, observing moral rules and recitation of Amitabha’s name
to wipe away all unwholesome deeds and attain rebirth in the Pure
Land. The sutra also mentioned about the Buddha’s preaching to help
Vaidehi to attain the Pure Land.
Kinh
Quỹ: Kinh điển và nghi quỹ của Mật giáo—Sutras and regulations
of the esoteric sects.
Kinh
Sanh Kinh: Stories of the previous incarnations of the
Buddha and his disciples.
Kinh
Sinh: Bản văn ghi lại của các bộ kinh (không phải nguyên
bản)—A copier of classical works.
Kinh
Song Đối: Book of Pairs.
Kinh
Sợ: To dread—To be afraid—To be frightened—To be terrified.
Kinh
Sư:
1)
Thầy dạy kinh điển: A teacher of the sutras or canon.
2)
Kinh đô: Capital.
Kinh
Sương: Rương hay hòm đựng kinh điển—A case for the scriptures,
bookcase or box.
Kinh
Tạng: The Sutra-pitaka—See Kinh.
Kinh
Tâm: To pay attention to—To mind.
Kinh
Tháp: Tháp chứa kinh điển của Phật được coi như là xá lợi
Phật. Tháp chứa những bài kệ tụng hay chú Đà La Ni của Phật—A
pagoda containing the scriptures as relics of the Buddha, or having
dharani or verses on or in the building material.
Kinh
Thắng Man: Srimala Sutra (skt)—Kinh dưới dạng những bài
thuyết giảng của nàng Công chúa Thắng Man, con vua Prasenajit
của xứ Kosala. Kinh thuyết rõ về Phật tánh trong chúng sanh mọi loài.
Kinh được Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch sang Hán tự---This sutra takes
the form of preaching by Lady Srimala, the daughter of King Prasenajit
of Kosala with the help of Sakyamuni’s power. It expounds the One-vehicle
doctrine and makes clear that the Buddha-nature is inherebt in all
sentient beings. The sutra was translated into Chinese by Gunabhadra.
Kinh
Thí Dụ: Avadana—An exposition of the dharma through allegories.
Kinh
Thiên Động Địa: To convulse the world.
Kinh
Thọ Ký: Vyakarana—Prophecies by the Buddha regarding his
disciples’ attainment of Buddhahood.
Kinh
Thủ: See Kinh Sinh.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm: Surangama Sutra (skt)—Còn gọi là Kinh
Thủ Lăng Già Ma,hay kinh của bậc “Kiện Tướng,” kinh nhấn mạnh về “Tam
Muội” qua đó đại giác được đạt tới và giải thích những phương
pháp khác nhau về Thiền “Tánh không” để đạt tới đại giác. Kinh diễn
tả cách lắng tâm bằng đi sâu vào Thiền Tam muội để gạt bỏ mọi khái
niệm, trực tiếp hay gián tiếp, từ đó chân tánh hiển bày. Kinh được
Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The Sutra of Heroic One—The sutra
emphasizes the power of samadhi, through which enlightenment can be
attained and explained the various methods of emptiness meditation
through the practice of which everyone can realize enlightenment.
It describes the tranquilizing of the mind by exclusion of concepts
arising directly or indirectly from sensory experiences, the nature
of truth realized in samadhi or deepest contemplation, and the transcendental
virtues and powers resulting. The sutra was translated into
Chinese by Kumarajiva.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội: Surangamasamadhi-Sutra—See Kinh
Thủ Lăng nghiêm.
Kinh
Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật: Astasahasrika-Prajnaparamita-Sutra—Kinh
gồm 10 quyển trong số 37 quyển của bộ Bát Nhã Ba La Mật. Kinh nói
về “Tánh Không” của chư pháp—The sutra consists of 10 in the 37 volumes
in the Great Prajnaparamita sutra. The sutra explains about the “Sunyata”
of all things.
Kinh
Tởm: To have horror.
Kinh
Tô Tất Địa Yết La: Susiddhi-karamaha-tantra-sadhano-Payika-Pataka—Còn
gọi là Kinh Tô Tất Địa, diễn tả những nghi thức khác nhau trong Phật
giáo Mật tông. Kinh được Ngài Thâu Ba Ca La dịch sang Hán tự—Also
called “Susiddhikara-sutra,” described various Tantric rituals. The
sutra was translated into Chinese by Subhakarasimha.
Kinh
Tông: Tông phái dựa vào kinh điển làm giáo thuyết cho tông
(chuyên thụ trì và tụng đọc kinh điển), như tông Thiên Thai và Hoa
Nghiêm, đối lại với những tông phái lấy “Luận Tạng” làm giáo
điển—The sutra school, any school which bases its doctrines on the
sutras, e.g. The T’ien-T’ai, or Hua-Yen, in contrast to schools based
on the sastras, or philosophical discourses.
Kinh
Trung A Hàm: Madhyamagama (skt) Majjhima Nikaya (p)—Kinh
nói về những lời dạy và đức hạnh của Đức Phật Thích Ca cũng như các
đệ tử của Ngài, về Giáo lý căn bản của Phật giáo nguyên thủy, Tứ đế,
Thập nhị nhân duyên. Kinh nầy được Ngài Xá Lợi Phất trùng tụng trong
lần Đại Hội Kết Tập Kinh Điển đầu tiên ngay sau khi Phật nhập diệt—The
Middle Length Discourses in the Pali Canon. The sutra preached by
the Buddha about his life as well as those of his disciples’, fundamental
doctrine of the Hinayana Buddhism, the Four Noble Truths and the Dependent
Origination. This collection was recited by Sariputra at the First
Buddhist Council.
Kinh
Trường A Hàm: Dighagama (skt) Digha-Nikaya (p)—Long-work
Sutras Kinh Trường A Hàm, một trong những kinh điển Phật giáo xưa
nhất do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về những công đức của
Phật, sự tu hành của Phật giáo, và những vấn đề giáo lý quan trọng
đặc biệt đối với Phật tử tại gia trong bổn phận làm cha mẹ, làm con
cái, làm thầy, làm trò, vân vân. Kinh được hai vị Phật Đà Da Xá và
Trúc Niệm Phật dịch sang Hoa ngữ—Long Collection, one of the oldest
Buddhist sutras expounded by the Buddha Sakyamuni, explained the Buddha’s
merits and virtues and the life of the historical Buddha, Buddhist
philosophical theories, and theories particularly important for laypeople
as parents, children, teachers, students, and so on.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương: Kinh Bốn Mươi Hai Chương. Kinh đầu
tiên được dịch sang tiếng trung Hoa, kinh chứa đựng những lý thuyết
chính yếu về Tiểu thừa như các khái niệm về ham muốn hay vô thường.
Kinh được các Ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan (những sư Ấn Độ
đầu tiên đến Trung Quốc) dịch sang Hán tự. Tuy nhiên, mãi đến đời
Tấn mới được in ấn và lưu hành—Dvachatvarimshat-khanda-Sutra—Sutra
in Forty-Two Sections. The first Buddhist written work in Chinese
language, the essential teachings of the Lesser Vehicle, such as impermanence
and desire or craving. The sutra was translated into Chinese by (attributed
to) Kasyapamatanga and Gobharana (Chu-Fa-Lan), the first Indian monks
to arrive officially in China. It was, however, probably first produced
in China in the Chin dynasty—See Hai Mươi Điều Khó.
Kinh
Từ Thiện: Metta-Sutta (p)—Maitri-Sutra (skt)—Kinh nói về
lòng từ thiện soạn bởi trường phái Phật giáo Tiểu thừa. Đây là một
trong những bản văn được biết rộng rãi nhất của Theravada và được
tứ chúng của trường phái nầy trì tụng mỗi ngày—Sutra on Kindness composed
by the Hinayana school. It is one of the most popular
texts of the Theravada and recited daily by monks, nuns and lay people
in this school. The texts says:
“Đây là những gì nên làm của những kẻ khôn ngoan,
đi tìm giải thoát, và biết thực nghĩa của nơi yên tĩnh. Người đó phải
kiên quyết, ngay thẳng và thật thà; trong khi vẫn dịu dàng, chăm chú
và trừ bỏ mọi kiêu hãnh; người đó luôn sống đạm bạc và dễ bằng lòng,
khiêm nhường, chăm chỉ vừa phải, nhưng thông minh và luôn làm chủ
được các giác quan—Còn về chuyện gia đình thì không có tham vọng lớn,
dễ hài lòng, không mãi miết trong những mục đích xấu. Để cho tha nhân,
các vị hiền triết phải tự trách mình. Phải cầu cho mọi người được
yên bình hạnh phúc, cầu cho tất cả được hoàn toàn hạnh phúc. Cầu cho
mọi sanh linh, đang vận động hay đang nằm im, đang bò hay đang bay,
nhỏ hay vừa, khỏe hay ốm, hữu hình hay vô hình, gần hay xa, Đã thọ
sanh hay vẫn còn nằm trong thai, tất cả đều được hạnh phúc! Cầu cho
người đó đừng bao giờ trêu chọc người khác. Hãy đừng bao giờ ai lừa
gạt hay khinh miệt ai! Hãy đừng bao giờ bị thúc đẩy bởi oán giận hay
hận thù để rồi tự mình gây ra lầm lỗi! Giống như một người mẹ
che chở cho đứa con, đứa con độc nhất bằng cả cuộc đời. Đối với tất
cả phải giữ gìn cho lòng mình tránh mọi ngăn cách. Bày tỏ lòng từ
thiện với tất cả mọi người, giữ cho tinh thần mình không thành kiến,
không hẹp hòi với trên, dưới và với xung quanh. Không một chút thù
hằn và đối địch. Đứng, ngồi, nằm hay đi. Dù đấu tranh chống sự yếu
mềm như thế nào, cũng cố giữ lấy tinh thần. Thái độ nầy được coi là
lối sống Thánh Thần trên mặt đất. Tránh sa vào tà thuyết, cố giữ lấy
giới luật và thiền định cho trí tuệ triển khai, chiến thắng những
cơn khao khát đòi hỏi khoái lạc. Thì không còn tái sanh lần nào nữa
trong bụng mẹ—This is what should be done by a man who is wise, who
seeks the good, and know the meaning of the place of peace. Let him
be strenuous or determined, upright, and truly straight. Let him not
be submerged by the things of the world, free of cares (đạm
bạc) and easily contented and joyous—Let his sense be controlled.
Let him not desire great possessions even for his family. Let him
do nothing that is mean or that the wise would reprove. May all beings
be happy and at their ease ! May they be joyous and live in safety!
All beings whether weak or strong, in high, middle or low realms of
existence, small or great, visible or invisible, near or far away,
born or to be born—May all beings be hapy at their ease! Let none
deceives another, or despites any beings in any states! Let none be
anger or ill-will wish harm to another! Even as a mother watches
over and protects her child, her only child , so with a boundless
mind should one cherish all living beings, radiating friendliness
over the entire world, above, below, and all around without limit.
So let him cultivate a boundless good will towards the entire world,
uncramped, free from ill-will or enmity. Standing or walking, sitting
or lying down, during all his walking hours, let him establish this
mindfulness of goodwill, which men call the highest state. Abandoning
vain discussions, having a clear vision, free from sense appetites,
he who is made perfect will never again know rebirth.
Kinh
Tượng Tích Dụ: Mahahatthipadopama Sutta (p).
Kinh
Ưu Bà Tắc Giới: Upasakasila-Sutra—Kinh gồm những điều dạy
cho Phật tử tại gia tên Thiện Sanh, nói về những giới luật nên giữ
gìn cho một nam Phật tử tại gia, cũng còn được gọi là “Thiện Sanh
Kinh.” Kinh được Ngài Đàm Vô Sám dịch ra Hán tự—The sutra contains
Buddha’s teachings for Sujata, mentioned precepts observed by
a layman. The sutra is also called “Sujuta-Sutra” and was translated
into Chinese by T’an-Wu-Ch’an.
Kinh
Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh: Manjusripariprccha—Kinh ghi lại
những giới luật tu hành cho một vị Bồ Tát. Cũng được gọi là “Văn Thù
Vấn Kinh” vì Bồ Tát Văn Thù, một bậc Bồ Tát trí tuệ, đã hỏi Phật về
những giới luật cho một Bồ Tát tu hành thành Phật. Kinh được Ngài
Tăng Già Bà La dịch sang Hán tự—The sutra mentioned all moral rules
for a Bodhisattva’s daily practice. It is also called “Manjusri’s
Questions Sutra” because Bodhisattva Manjusri, a Bodhisattva of wisdom,
asked the Buddha about moral rules for a bodhisattva to practice to
attain Buddhahood. The sutra was translated into Chinese by Sanghabhara.
Kinh
Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên: Abdhuta-dharma—Accounts
on miracles performed by the Buddha.
Kinh
Viên Giác: Kinh nói về “Đại Giác Toàn Hảo. ” Kinh được
một nhà sư Tây Tạng tên Buddhatrata dịch sang Hoa ngữ năm 693. Mười
hai vị Bồ Tát trong đó có Văn Thù và Phổ Hiền đã nhận được từ đó những
chỉ dẫn về nội dung đại giác toàn hảo. Kinh Viên Giác có ảnh hưởng
quyết định tới Thiền Tông Trung Quốc và Nhật Bản—Sutra Of Perfect
Enlightenment, a sutra that indicates the “perfect enlightenment.”
It was translated into Chinese in 693 by a Tibetan monk named Buddhatrata.
In it twelve bodhisattvas, among them Manjusri and Samantabhadra,
are instructed in the nature of perfect enlightenment. This sutra
had great influence on both Chinese and Japanese Zen.
Kinh
Vô Lượng Nghĩa: Sutra of Infinite Meaning—Kinh được soạn
như là phần “Dẫn Nhập Diệu Pháp Liên Hoa.” Kinh nói về giáo lý và
ý nghĩa vô lượng của Phật pháp dùng để cắt đứt vô biên phiền não.
Kinh được Ngài Đàm Ma Già Đa Gia Xá dịch sang Hán tự—The sutra was
composed as an “Introduction to the Wonder Lotua Sutra.” The
sutra stressed that only the infinite doctrine and meaning of the
Buddha’s teachings can be used to cut off countless afflictions. The
sutra was translated into Chinese by Dharmagatayasas.
Kinh
Vô Lượng Quang: Sutra of Infinite Light.
Kinh
Vô Lượng Thọ: Sukhavativyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh
chủ yếu của trường phái Tịnh Độ. Có hai bản văn, một ngắn một dài.
Kinh bắt đầu bằng cuộc đối thoại giữa Phật A Di Đà và Phật Thích Ca.
Đức Thích Ca ngợi khen Đức Di Đà với cõi Tịnh Độ trang nghiêm và Đức
A Di Đà tán thán Đức Thích ca thành tựu công đức khó thành tựu nơi
cõi Ta Bà ngũ trược ác thế. Kinh được Ngài Khương Tăng Khải dịch sang
Hán tự—Sutra of Infinite Life, one of the three basic sutras of the
Pure Land school. It exists in two forms: The Longer and the Short
Form of Amitabha Sutras. It begins with a dialogue between Sakyamuni
Buddha and Amitabha Buddha. Sakyamuni praises Amitabha with his Adorned
Pure Land, while Amitabha praises Sakyamuni Buddha that he had achieved
unbelievable merits and virtues in the Saha world with the five defilements
and all evil worlds. The sutra was translated into Chinese by Samghavarman.
Kinh
Vô Vấn Tự Thuyết: Udana—Kinh A Di Đà—An Exposition of Dharma
by the Buddha without awaiting questions or requests from his disciples—Amitabha
Sutra.
Kinh
Vu Lan Bồn: The Ullambana Sutra—Kinh được Ngài Trúc Pháp
Hộ dịch sang Hán tự—The sutra was translated into Chinese by Dharmaraksa—See
Vu Lan Bồn in Vietnamese-English Section and Ullambana in Pali/Sanskrit
Section—See Kinh Vu Lan Bồn in Appendix A (10).
Kinh
Y: Áo có ghi chép kinh điển trên đó, dùng để mặc cho người
chết—The garment with sutras in which the dead were dressed, so called
because it had quotations from the sutras written on it.
Kính:
1)
Đường kính: A diameter.
2)
Kiếng: Adarsas (skt)—Tấm kiếng—A mirror.
3)
Kính trọng: To respect—Respectable—Respectful—Reverence.
Kính
Ái:
1)
Kính trọng và thương yêu: To respect and to love—Reverence
and love—Reverent love.
2)
Một trong tứ đàn pháp của tông Chân Ngôn: One of the four kinds
of altar-worship of the Shingon sect.
Kính
Biếu: To offer respectfully
Kính
Cẩn: Respectfully
Kính
Chuộng: To revere—To venerate—To reverence.
Kính
Cốc: Gương soi bóng mình hay hang vọng tiếng động, ví với
sự cảm ứng của Đức Phật và chúng sanh—Mirror and gully, reflection
and echo, i.e. the response of the Buddhas to prayers.
Kính
Dâng: To present respectfully—To offer respectfully
Kính
Điền: Ngôi ruộng cung kính, nghĩa là lễ kỉnh và hộ trì
Tam Bảo, Phật, Pháp, Tăng thì sẽ được tăng thêm phước đức—The field
of reverence, i.e. worship and support the Buddha, Dharma, and Sangha
as a means to obtain blessing.
Kính
Lão: To respect the aged.
Kính
Lễ: Vandani (skt)—Cung kính lễ bái Phật Pháp Tăng (theo
Nghĩa Lâm Chương, cử chỉ chí thành cung kính gọi là kính, nghi thức
theo đúng khuôn phép gọi là lễ. Kính lễ còn khơi dậy lòng thanh tịnh
tạo tách nghiệp thù thắng nữa)—Paying reverence, worship.
Kính
Mến: To esteem—To hold someone in high esteem.
Kính
Mộ: To revere and to admire
Kính
Mời: To invite respectfully
Kính
Nể: Reverence—To have regard for—To have consideration
for.
Kính
Phục: To admire—To render homage to someone.
Kính
Sơn: Một ngôi tự viện cổ tại Linh An Hiển, thuộc tỉnh Triết
Giang—An ancient monastery at Ling-An-Hsien, Che-Kiang.
Kính
Tạ: To thanks respectfully.
Kính
Tặng: To offer respecfully.
Kính
Thân: To respect one’s parents.
Kính
Thỉnh: To invite respectfully.
Kính
Thưa: To report respectfully.
Kính
Trọng: Kính nể—To respect—To venerate—To have regard for—To
have consideration.
Kính
Tượng: Hìng ảnh trong gương, ví với cái vô thường thấy
đó rồi mất đó—The image in a mirror, i.e. the transient.
Kính
Vâng: To obey respectfully.
Kính
Vì: To show regard to.
Kính
Viếng: To pay one’s respect to the dead person.
Kính
Ý: Respecful regards.
Kính
Yêu: To respect and to love.
Kình:
Makara (skt)—Cá kình hay cá voi—A whale—A sea-monster.
Kình
Âm: Âm thanh vang vội lại giống tiếng chuông ngân—A reverberating
sound, like that of a bell, or gong.
Kình
Càng: Bulky.
Kình
Chống: To compete—To contend
Kình
Ngư: See Kình.
Kỉnh
Huyền Đại Dương Thiền Sư: Zen master Jing-Xuan-T’a-Yang—Thiền
Sư Kỉnh Huyền sanh năm 943, quê tại tỉnh Hồ Bắc, đệ tử của Thiền Sư
Lương Sơn Duyên Quán—Zen master Jing-Xuan was born in 943 in Hubei
Province. He was a disciple of Zen master Liang-Shan-Yuan-Kuan.
·
Lần đầu tiên gặp gỡ Lương Sơn, sư hỏi: “Thế nào là đạo
tràng vô tướng?” Lương Sơn chỉ Bồ Tát Quan Âm, nói: “Cái nầy là do
Ngô Xứ Sĩ vẽ.” Sư suy nghĩ để tiến ngữ. Lương Sơn nhanh nhẩu nói:
“Cái nầy có tướng, cái kia không tướng.” Sư nhơn đó tỉnh ngộ, liền
lễ bái. Lương Sơn hỏi: “Sao không nói lấy một câu?” Sư thưa: “Nói
thì chẳng từ, sợ e trên giấy mực.” Lương Sơn cười, bảo: “Lời nầy vẫn
còn ghi trên bia.” Sư dâng kệ rằng:
“Ngã
tích sơ cơ học đạo mê
Vạn
thủy thiên sơn mích kiến tri
Minh
kiêm biện cổ chung nan hội
Trực
thuyết vô tâm chuyển cánh nghi.
Mong
sư điểm xuất Tần thời cảnh
Chiếu
kiến phụ mẫu vị sanh thì
Như
kim giác liễu hà sở đắc
Dạ
phóng ô kê đới tuyết phi
(Con
xưa học đạo cứ sai lầm
Muôn
núi ngàn sông kiếm thấy nghe
Luận
cổ bàn kim càng khó hội
Nói
thẳng vô tâm lại sanh nghi.
Nhờ
thầy chỉ rõ thời Tần kính
Soi
thấy cha mẹ lúc chưa sanh
Hiện
nay giác ngộ đâu còn đắc
Đêm
thả gà đen trong tuyết bay).
Lương
Sơn bảo: “Có thể làm hưng thịnh tông Tào Động.”
Upon
T’a-Yang’s first meeting with Liang-Shan, T’a-Yang asked: “What is
the formless place of realization?” Liang-Shan pointed to a painting
of Kuan-Yin and said: “This was painted by Wu-Chu.” T’a-Yang was about
to speak when Liang-Shan cut him off, saying: “Does this have form?
Where is the form?” At these words, T’a-Yang awakened. He then bowed.
Liang-Shan said: “Why don’t you say something?” T’a-Yang said: “It’s
true I don’t speak, and I fear putting it to brush and paper."”Liang-Shan
laughed and said: “Engrave the words on a stone memorial.” T’a-Yang
then offered the following verse:
“Formerly
my means of studying the Way was confused,
Seeking
understanding among myriad streams and countless mountains.
But
immediate clarity is not found by sorting throught the past.
Directly
speaking “no mind” engendered more delusion.
Then,
a teacher revealed my situation upon leaving Qin,
Illuminating
the time before my parents’ birth.
And
now, everything realized, what has been attained?
The
night frees crow and cock to fly with the snow.”
Liang-Shan
said: “Here the T’ong-Shan line is entrusted.” In time, Jing-Xuan’s
reputation spread widely.
·
Vị Tăng hỏi: “Thế nào là câu Đại Dương thấu pháp thân?”
Sư đáp: “Đáy biển đại dương bụi hồng dấy, trên đỉnh Tu Di nước chảy
ngang.”—A monk asked T’a-Yang: “What is a phrase that penetrates the
dharmakaya?” T’a-Yang said: “Red dust rises from the bottom of the
sea. Rivers flow sideways at Mountain Sumeru’s summit.”
·
Một vị Tăng hỏi Kỉnh Huyền: “Thế nào là cảnh Đại Dương?”
Sư đáp: “Hạc côi vượn lão kêu hang dội, tùng gầy trúc lạnh tỏa khói
xanh.” Vị sư hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Kỉnh Huyền hỏi: “Làm
gì? Làm gì?” Vị Tăng lại hỏi: Thế nào là gia phong Đại Dương?” Kỉnh
Huyền đáp: “Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.”—A
monk asked T’a-Yang: “What is T’a-Yang’s state of being?” T’a-Yang
said: “A gaunt crane and an old ape call across the valley in harmony.
A slender pine and the cold bamboo are enveloped in blue mist.” The
monk said: “What about the person in that state?” T’a-Yang said: “What
are you doing? What are you doing?” The monk asked: “What is the master’s
family style?” T’a-Yang said: “A full pitcher that can’t be emptied.
Across the great earth, no one hungry.”
Kịp:
To catch someone up.
Kịp
Thời: In time.
Ký:
1)
Ghi lại, nhớ lại—To record—To remember—To transfer—To go or
put under cover.
2)
Gởi : To deliver—To convey—To transfer.
Ký
Âm: Memory.
Ký
Biệt: Phật ghi nhận việc các đệ tử của Ngài thành Phật,
từ Phật kiếp, Phật độ, đến Phật hiệu (Phật ghi nhận trong các kinh
điển thì gọi là “Ký Biệt,” còn đích thân Phật trao sự ghi nhận đó
cho học trò thì gọi là “Thọ Ký.”)—To record and differentiate, the
Buddha fortelling of the future of his disciples to Buddhahood, and
to their respective Buddha-kalpas, Buddha-realms, titles, etc.
Ký
Biệt Kinh: Vyakarana (skt)—Một trong 12 bộ kinh, tiếng
Phạn gọi là Hòa Già La Na, dịch là Thọ Ký hay Ký Biệt Kinh—One of
the twelve divisions of the canon, the sutra which contains stories
of the Buddha’s foretelling or predictions of the future of his disciples
to Buddhahood.
Ký
Giả: Journalist.
Ký
Khố: Gửi vào kho—Theo truyền thống địa phương, việc
ký thác (đốt giấy tiền) chẳng những tốt cho người quá vãng, mà cũng
tốt cho người sống buôn bán trong tiệm—To convey to the treasury,
i.e. as paper money or good are transferable to credit in the next
world not only of the dead, but also by the living in store for themselves,
according to local tradition.
Ký
Luận: Vyakarana (skt)—Bộ luận về ngữ pháp tiếng Phạn—A
treatise on Sanskrit grammar.
Ký
Ngưu Lai: Cỡi trâu tìm trâu hay lấy Phật tìm Phật—To ride
an ox, to seek an ox, means to use the Buddha to find the Buddha.
Ký
Tâm: See Ký Âm.
Ký
Thất: Còn gọi là Thư Ký—Secretary’s office, secretary,
writer.
Ký
Ức: Memory—See Niệm.
Kỳ:
1)
Cầu phước: Yacna (skt)—Cầu phước không được nói đến trong giáo
lý Tiểu Thừa, mà chỉ được biết đến qua giáo lý Đại Thừa, đặc biệt
là trong Mật giáo—To pray—Prayer is spoken of as absent from Hinayan,
and only known in Mahayana, especially in the esoteric sect.
2)
Kỳ diệu: Kỳ lạ—Ascarya or Adbhuta (skt)ï—Wonderful—Rare—Odd—Extraordinary.
3)
Kỳ vọng: To expect—To look for—To hope.
4)
Ông Thổ Thần: The Earth-Spirit.
5)
Thời kỳ: A set time—A limit of time.
6)
Tuổi 60: 60 years of age.
Kỳ
An: To pray for peace.
Kỳ
Bà: Jiva or Jivaka (skt).
1)
Còn gọi là Kỳ Vực, hay Thời Phược Ca. Kỳ Bà là con trai của
vua Bimbisara và thứ thiếp Amrapali. Người ta nói sau khi sanh ra
ông ta đã chụp lấy kim chích và túi thuốc. Về sau nầy ông trở nên
một lương y nổi tiếng—Son of king Bimbisara by the concubine Amrapali.
On his birth he is said to have seized the acupuncture needle and
bag. He became famed for his medical skill.
2)
Sống vững vàng: A stable life, or long life.
Kỳ
Bà Điểu: Kinh Niết Bàn gọi là Mệnh Mệnh Điểu. Kinh A Di
Đà gọi là Cọng Mệnh Điểu. Tiếng Phạn là Kỳ Bà Kỳ Bà, là một loài chim
một thân hai đầu ở núi Tuyết Ấn Độ. Có một huyền thoại về loài chim
nầy như sau: Loại chim một thân hai đầu nầy một con gọi là Ca Lâu
La, con kia là Ưu Ba Ca Lâu La. Một con thì ăn hoa thơm khi con kia
đang ngủ; khi thức giấc, biết mình không được chia xẻ hoa thơm, con
kia tức giận bèn ăn một loài hoa độc, kết quả là con chim bị chết—A
bird of parttridge family; there is a fable about such a bird having
two heads; one called “garuda” and the other “upagaruda.” One ate
a delicious flower while the other was asleep; when the other awoke;
it was so annoyed at not sharing it that it ate a poisonous flower
and the bird died; thus there is a Jekyll and Hyde in everyone.
Kỳ
Bà Kỳ Bà: Jivajivaka (skt)—See Kỳ Bà Điểu.
Kỳ
Bà Thiên: Jiva (skt)—Dịch nghĩa là Mệnh Thiên, hay là vị
trời trường mệnh—The deva of long life.
Kỳ
Dạ: Geya (skt)—See Thập Nhị Đại Thừa Kinh in Vietnamese-English
Section.
Kỳ
Dị: Extraordinary—Rare—Uncommon.
Kỳ
Diệu: Beautiful or wonderful beyond compare.
Kỳ
Duyên: Strange coincidence.
Kỳ
Đa Mật: Gitamitra (skt)—Ca Hữu—Kỳ Mật Đa—Vị Tăng nổi tiếng
người Tây Vực, hay bắc Ấn Độ, người đã dịch 23 quyển kinh sang Hoa
ngữ vào đời Tấn (có lẽ là Kinh Bồ Tát Thập Trụ)—Also called “Friend
of Song,” a noted monk from western China, or north India, who in
the fourth century, translated 23 works into Chinese (perhaps The
sutra of Bodhisattva’s Ten Grounds).
Kỳ
Đà: Jeta (skt)—See Thệ Đa.
Kỳ
Đà Lâm: Jetavana (skt)—See Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
Kỳ
Đà Viên: Jetavana (skt)—See Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
Kỳ
Đảo: To pray.
Kỳ
Đặc: Wonderful—Rare—Special—See Tam Kỳ Đặc.
Kỳ
Hạn: Term—Period.
Kỳ
Khôi: Extraordinary—Unusual—Strange.
Kỳ
Lạ: Strange—Extraordinary.
Kỳ
Lão: Old people.
Kỳ
Lân: Male and female unicorns (the ch’I-lin).
Kỳ
Na: Jina (skt)—Dịch là Thắng, chỉ ngôi Phật tôn quý, còn
có nghĩa là giáo phái Kỳ Na—Victor, he who overcome, a title of every
Buddha; name of various persons; the Jaina religion; the Jains.
Kỳ
Na Giáo: See Kỳ Na.
Kỳ
Nho: Old learned man.
Kỳ
Niệm: See Kỳ Thọ.
Kỳ
Phiên: Cờ phướn—Banners and flags.
Kỳ
Phùng: Extraordinary meeting.
Kỳ
Phùng Địch Thủ: Rivals of equal skill
Kỳ
Quái: Strange—Queer.
Kỳ
Sự: Strange affair.
Kỳ
Tài: Extraordinary talent.
Kỳ
Thật: In reality—In fact—As a matter of fact.
Kỳ
Thị: To discriminate.
Kỳ
Thỉnh: See Kỳ Thọ.
Kỳ
Thọ: Kỳ Niệm—Kỳ Thỉnh—Cầu thỉnh—To pray—To beg—To implore—To
invite.
Kỳ
Thọ Cấp Cô Độc Viên: Theo Giáo Sư Soothill trong Trung
Anh Phật Học Từ Điển (dựa theo Pháp Uyển Châu Lâm tập 39), vườn Kỳ
Thọ gần thành Vương Xá, được cúng dường cho Phật và Tăng đoàn của
Ngài bởi Thái tử Kỳ Đà và nhà tỷ phú Cấp Cô Độc. Người ta nói Ngài
Cấp Cô Độc đã mua lại khu vườn nầy từ Thái tử Kỳ Đa bằng vàng, xây
dựng tịnh xá, rồi cúng dường cho Đức Phật. Thái tử Kỳ Đà rất cảm động
trước nghĩa cử ấy nên ông bèn hiến tất cả những cây và khoản đất còn
lại. Chính vì vậy mà khu vườn nơi Phật thường hay thuyết pháp nầy
có tên đôi của hai vị thí chủ là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (tức là cây
của thái tử Kỳ Đà và vườn của ông Cấp Cô Độc). Đây là khu an cư kiết
hạ mà Đức Phật rất thích. Hai trăm năm sau đó cả khu vườn và tịnh
xá bị thiêu rụi, 500 năm sau được xây lại nhỏ hơn, và rồi một thế
kỷ sau lại bị đốt cháy rụi lần nữa; mười ba năm sau đó được xây lại
bằng khu tịnh xá nguyên thủy, nhưng một thế kỷ sau đó lại bị hủy diệt
(Về phương bắc nước Kiều Tát La—Kosala, thành Xá Vệ—Sravasti, có vị
trưởng giả giàu có tên Tu Đạt Đa—Sudatta, lại cũng có tên là Cấp Cô
Độ—Anathapindika, người đã mua khu vườn của Thái Tử Kỳ Đà để kiến
lập một khu tịnh xá cao rộng trang nghiêm mang tên Kỳ Thọ Cấp Cô Độc
Viên. Ông cung thỉnh Đức Phật và đệ tử của Ngài an cư kiết hạ và giảng
thuyết Phật pháp tại địa phương. Tu Đạt Đa là vị hộ pháp trung thành
của Phật giáo thời bấy giờ)—According to Professor Soothill in The
Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Jetavana Garden, or
Garden of Jeta and Anathapindika is a park near Sravasti, bought by
Anathapindika from prince Jeta, which was offered to the Buddha and
his Sangha as a result of the collaboration of Prince Jeta and billionaire
Anathapindika. It is said to have been obtained from Prince Jeta by
the elder Anathapindika. Anathapindika paid for Prince Jeta’s garden
in gold, erected monasterial buildings, and donated it to the
Buddha. Prince Jeta was very moved with this, thus he donated all
the trees and another parcel of land to the Buddha. Thus the double
name for the site where the Buddha preached his teachings: “The Garden
of Jeta and Anathapindika.” This garden was the favourite resort of
Sakyamuni. Two hundred years later it is said the park has been destroyed
by fire, rebuilt smaller 500 years after, and a gain a century later
burnt down; thirteen years afterwards it was rebuilt on the earlier
scale, but a century later entirely destroyed.
Kỳ
Thọ Viên: Jetavana (skt)—See Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
Kỳ
Thú: Particularly intersting.
Kỳ
Thủy: At the beginning—At the very start.
Kỳ
Tuyệt: Very strange.
Kỳ
Vĩ: Gigantic.
Kỳ
Viên:
1)
Kỳ Thọ—Jetavanarama—Jetavana—Jeta Grove—The millionaire Sudatta,
he was given the epithet “Anathapindika.” He was the one who
offered Jetavanarama to the Buddha.
2)
Tên một ngôi chùa nổi tiếng của Phật Giáo Nguyên Thủy Việt
Nam nằm trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được
Hòa Thượng Hộ Tông xây vào năm 1952. Kỳ Viên là tên một tịnh xá mà
thuở Đức Phật còn tại thế, ngài hay đến đây cư ngụ qua những mùa an
cư kiết hạ. Kỳ Viên là một trong những ngôi chùa Phật Giáo Nguyên
Thủy của Việt Nam đầu tiên. Các vị cao Tăng như Hòa Thượng Hộ Tông,
Hòa Thượng Thiện Luật, Hòa Thượng Bửu Chơn, Hòa Thượng Tối Thắng,
Hòa Thượng Ấn Lâm, Hòa Thượng Giới Nghiêm đều thường trụ tại đây sau
các nhiệm kỳ Tăng Thống—Name of a famous Theravadan Pagoda located
in the third district, Saigon City, South Vietnam. It was built by
Most Venerable Hộ Tông in 1952. Kỳ Viên or Jetavana was the name of
a monastery where Sakyamuni Buddha often stayed during his lifetime.
It is one of the first Theravadan pagodas of Vietnam. The high-ranking
monks like Most Venerables Hộ Tông, Thiện Luật, Bửu Chơn, Tối Thắng,
Ấn Lâm, Giới Nghiêm all stayed in the pagoda in their post Chairman
of Vietnam Theravada Buddhist Association.
Kỳ
Viên Tinh Xá: The vihara and Jetavana—See Kỳ Thọ Cấp Cô
Độc Viên.
Kỳ
Vọng: To hope—To desire—To expect—To look for.
Kỳ
Xà: Grdhra (skt)—Con kênh kênh—A vulture.
Kỳ
Xà Quật: Grdhrakuta (skt)—See Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Kỳ
Xú Quỷ: See Ca Tra Phú Đơn Na in Vietnamese-English Section.
Kỷ:
1)
Điều chỉnh: To regulate.
2)
Tự mình: Self—Personal—Own.
3)
Khéo léo: Kỷ xảo—Skill.
4)
Kỷ lục: A record.
5)
Kỷ Nữ: A singing girl—Courtesan.
6)
Con rận nhỏ: Liksa (skt)—A young louse.
7)
Niên kỷ: Một năm—A year.
8)
Trứng rận: The egg of a louse.
9)
Một chu kỳ 12 năm: A period of twelve years.
10) Một
đơn vị đo lường trọng lượng rất nhỏ: A minute measure of weight.
Kỷ
Chứng: Tự Chứng—Tự mình chứng ngộ chân lý, như trường hợp
của Phật Thích Ca—Self-attained assurance of truth, such as that of
the Buddha.
Kỷ
Cương: Rules—Laws.
Kỷ
Cương Liêu: Phòng ở của vị duy na (vị trông coi hết thảy
tạp dịch trong chùa)—The office of the director of duties.
Kỷ
Giới: Buddhakaya (skt)—Phật giới, ngược lại với phàm giới—The
realm of Buddhas, in contrast with the realm of ordinary beings.
Kỷ
Lợi: Personal advantage or profit.
Kỷ
Luật: Disciplines.
Kỷ
Luật Tự Giác: Own disciplines.
Kỷ
Nghệ Thiên Nữ: The metamorphic devi on the head of Siva,
perhaps the moon which is the usual figure on Siva’s head.
Kỷ
Nhạc: Female musicians and performers.
Kỷ
Niệm: To commemorate—In remembrance of someone of something.
Kỷ
Nữ: See Kỷ (3).
Kỷ
Tâm: One’s own heart.
Kỷ
Tâm Pháp Môn: The method of the self-realization of truth—The
intuitive method of meditation.
** For more information,
please see Chỉ Quán
and Chỉ Quán Tâm Định Nhứt Xứ.
Kỷ
Tâm Trung Sở hành Pháp Môn: See Kỷ Tâm Pháp Môn.
Kỷ
Thân Di Đà Duy Tâm Tịnh Độ: Thân mình là Di Đà, Tâm mình
là Tịnh Độ. Muôn pháp chỉ là một tâm, nên ngoài chúng sanh ra không
có Phật, mà cũng không có Tịnh Độ. Vì vậy, Di Đà tức là Di Đà ở ngay
trong bản thân và Tịnh Độ tức là Tịnh Độ ở ngay trong lòng ta—Myself
is Amitabha, my mind is the Pure Land. All things are but the one
mind, so that outside existing beings, there is no Buddha and no Pure
Land. Thus Amitabha is the Amitabha within and the Pure Land is the
Pure Land of the mind.
Kỷ
Xảo: Skill—Skillful.
Kỹ
Nhân: Nhà ảo thuật—A magician, trickster, conjurer.
Kỵ:
1)
Kỵ mã: Cỡi ngựa—To ride—To astride.
2)
Tránh né: Avoid—Dread—Hate—Jealous—Tabu.
Kỵ
Lư Tầm Lư: Cỡi lừa mà lại đi tìm lừa, ý nói tự mình có
Phật tánh mà mình không nhận biết được—To search for your ass while
riding it, i.e. not to recognize the mind of Buddha in one’s self.
Kỵ
Nhật: Húy Nhật—Ngày chết của một người, của cha mẹ. Vì
tưởng nhớ đến người quá cố mà kiêng tránh một số việc làm trong ngày—The
tabu day—The anniversary of the death of a person, a parent, when
all thoughts are directed to him, and other things avoided.
KH
Kha:
1)
Bệnh trầm kha: Sickness.
2)
Cần trục: Axe-handle.
3)
Cười kha kha: Laughter (kha-kha, or ha-ha).
4)
Đau đớn: Pain.
5)
Địa ngục ngọc thạch trắng: White Jade hell.
6)
Mắng chưỡi: To scold.
7)
Ngáp: To yawn.
8)
Thở ra: To breathe out.
Kha
Bà Bà: See Ha Bà Bà.
Kha
Bối: Đá quý hay vỏ sò đẹp dùng làm tiền trong thời cổ—Jade
or white quartz and shells (cowries), usedd as money in ancient times.
Kha
Dã Đát Na: Ayatana (skt)—Lục Nhập—An organ of sense—See
Lục Nhập in Vietnamese-English Section, and Ayatana in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Kha
Đãn Ni: Khadaniya (skt)—Khư Đà Ni—Tước Thực hay đồ ăn có
thể xé, nhai, rồi nuốt như gốc, cành, hoa, lá và quả (còn bồ-thiện-ni
là đồ ăn ngoạm ngậm như cơm, mạch, cơm mạch đậu, bánh)—Food that can
be masticated or eaten.
Kha
Địa La: Khadira (skt)—Còn gọi là Khư Đà La, Khư Đạt La,
Khư Đề Ca, Yết Đạt La, Yết Đạt Lạc Ca, Yết Địa La, tên một loài cây
dịch là Tử Khương Mộc—The mimosa.
Kha
Địa La Sơn: Còn gọi là Khử Đà La Sơn, Vòng núi Kha Địa
La, vòng thứ năm trong bảy vòng núi Kim Sơn—The Khadira circle of
mountain, the fifth of the seven concentric mountain chains of a world.
Kha
Đốt La: Kotlan (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía tây
của Sùng Lĩnh, về phía nam hồ Karakal—An ancient kingdom west of Tsung-Ling,
south of Karakal lake.
Kha
La La: See Ha La La.
Kha
Lê: Khadiraka (skt)—Còn gọi là Kha Địa Lạc Ca, tên núi—Name
of a mountain.
Kha
Lê Đà: Hariti or Harita, or Haridra (skt)—A Lê Đà—A Lợi
Đà—Quỷ Mẫu—The demon-mother.
Kha
Lộ Chỉ: Arogya (skt).
1)
Khỏe mạnh: Freedom from sickness, healthy.
2)
Lời chào của một vị Tăng có tuổi hạ cao: A greeting from a
superior monk (are you well? Or Be you well?).
Kha
Nguyệt: Trăng trong như bạch ngọc—The jade-like or pearly
moon.
Kha
Thi Bi Dữ:
1)
Địa ngục Ha Bà Bà: Hahava (skt)—See Địa Ngục (B) (b) (5).
2)
Trường phái Ca Diếp: The Kasyapiya school.
Kha
Tuyết: Ngọc thạch trắng như tuyết—Snow-white as jade or
white quartz.
Khá
Giả: To be well-off.
Khá
Khá: Passable good.
Khaû:
May—can—Be able to.
Khả
Ái: Lovable—Lovely—Likable—Nice.
Khả
Hãn: Kha Hãn, một từ ngữ của Thổ Nhỉ Kỳ để chỉ vị Hoàng
Thái Tử—Khan, a Turkish term for ‘prince.’
Khả
Kính: Respectable—Venerable.
Khả
Năng: Ability—Capability—Efficiency—Competence.
Khả
Năng Nội Quán: Ability to acquire insight.
Khả
Năng Vào Định: Ability to enter concentration—Access-concentration.
Khả
Năng Xuất Hiện Quang Minh: Ability to manifest the light.
Khả
Năng Xuất Hiện Quang Minh Cũng Như Phát Ra Như Lai Âm Bất Tư Nghì:
Ability to manifest the light and inconceivable sounds.
Khả
Nghi: Doubtful—Suspicious.
Khả
Ố: Detestable—Damnable.
Khả
Phục: Admirable.
Khả
Quan: Satisfactory—Favorable.
Khác
Biệt: Distinction between.
Khác
Nhau: Different—Unlike—Various.
Khác
Thường: Unusual—Extraordinary—Out of the ordinary.
Khách:
Guest—Visitor—Traveller—Outsider.
Khách
Đường: Guest-room.
Khách
Lữ Hành: Traveler—The Buddha compared sentient beings as
travelers in the darkness and suffering of the three worlds (ba nẻo:
world of desire, world of form, worl of formless) and six realms (sáu
đường: Heaven, Asura, Human, Animal, Hungry ghost, Hell) of existence:
Đức Phật ví chúng sanh như những kẻ lữ hành trong bóng tối và khổ
đau trong ba nẻo sáu đường.
Khách
Qua Đường: Passer-by—Stranger.
Khách
Quan: Objective.
Khách
Sáo: Ceremonious.
Khách
Sơn: Tự viện nhỏ hay chi nhánh của tự viện lớn để tiếp
khách, đối lại với tự viện chính hay chủ sơn—The guest hill, or branch
monastery, in contrast with the chief one.
Khách
Trần: Agantu-klesa (skt)—Phiền Não—Guest-dust—Afflictions—Guest-defilement.
(A) Từ
“Klesa” nghĩa đen là sự đau đớn, bụi bậm bên ngoài, nỗi khổ đau, hay
một cái gì gây đau đớn, và được dịch là phiền não. Vì không có gì
gây đau đớn tâm linh bằng những ham muốn và đam mê xấu xa ích kỷ,
nên “Agantuklesa còn được dịch là phiền não: “Klesa” literally means
“pain,” “external dust,” “affliction,” or “ something tormenting”
and is translated as “affliction.” As there is nothing so tormenting
spiritually as selfish, evil desires and passions, klesa has come
to be understood chiefly in its derivative sense and external dust
for agantuklesa.
(B) Giải
nghĩa từng chữ—Explaining in details:
1)
Khách: Phiền não không phải vốn có của tâm tánh, nhưng do mê
lầm mà nổi dậy, nên gọi là khách—The foreign atom, or intruding element,
which enters the mind and causes distress and delusion.
2)
Trần: Phiền não có công năng làm nhơ bẩn tâm tánh nên gọi là
trần—The mind is naturally pure or innocent till the evil element
enters.
**For more information,
please see Phiền Não
in
Vietnamese-English Section, and Klesa in
Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Khách
Ty: Tiếp Đãi Sở hay nơi tiếp khách trong tự viện—Guest
room, or place for reception of guests in a monastery.
Khai:
1)
Mở: To open—To unfold—To disclose—To unloose.
2)
Bắt đầu: To begin.
3)
Khai mạc: Khánh thành—To inaugurate.
4)
Khai thị: To enlighten someone.
5)
Tuyên bố: To declare.
6)
To smell of ammonia.
Khai
Ân: To do a favor.
Khai
Bạch: Lời bắt đầu cho một nghi thức lễ lạc (lời nói đầu
tiên trong nghi lễ thì gọi là “khai bạch,” nghĩa là cho biết lý do
và mục đích của việc làm hay buổi lễ; lời nói sau cùng gọi là “kết
nguyện”)—To start from the bare ground; to begin a ceremony.
Khai
Báo: To declare.
Khai
Bổn: Khai tích hiển bổn (bắt đầu, lúc bắt đầu)—To commence;
the very beginning; at the beginning; to explain the very beginning.
Khai
Cam Lộ Môn: Bố thí cho ngạ quỷ—To open the ambrosial door
(provide for hungry ghosts).
Khai
Chẩm: Đi ngủ—To display the pillow, i.e. retire to bed.
Khai
Cụ: Kê khai tất cả những tài sản của tự viện—To make an
inventory in a monastery.
Khai
Diễn: Thuyết pháp—To explain at length, expound—To begin
to perform.
Khai
Đạo:
1)
To guide.
2)
To found (establish) a sect.
Khai
Đạo Giả:
1)
Người khai mở đạo pháp, như Đức Phật: The Way-opener, Buddha.
2)
Bất cứ ai khai mở chân lý: Anyone who opens the way, or truth.
Khai
Giá:
a)
Khai: Cho phép—To permit.
b)
Giá: Ngăn cấm—To prohibit.
Khai
Giác: Làm cho Phật tánh bản sơ được khai mở và tâm trí
được giác ngộ—To awaken, to arouse; to allow the original Buddha-nature
to open and enlighten the mind—See Khai Ngộ.
Khai
Giải: To expound, explain.
Khai
Giảng: To begin to teach.
Khai
Hiển: Khai Quyền Hiển Thực—Từ mà tông Thiên Thai dùng để
giải thích về Khai Quyền Hiển Thực. Đức Phật đã khai quyền hiển thực
bằng cách dùng phương tiện để làm sáng tỏ chân lý (mở cửa phương tiện,
thị hiện tướng chân thực) như trong Kinh Pháp Hoa (14 phẩm đầu trong
Kinh Pháp Hoa đều là khai cận hiển viễn hay khai quyền hiển thực)—To
open up and reveal; to expose the one and make manifest the other.
It is a term used by T’ien-T’ai, i.e. to expose and dispose of the
temporary or partial teaching, and reveal the final and real truth
as in the Lotus sutra.
Khai
Hóa: Khai mở chuyển hóa bằng cách dạy dỗ—To civilize, to
teach, to transform the character by instruction.
Khai
Hoang: To clear waste land.
Khai
Hội: To open (begin) a meeting.
Khai
Huân: See Khai Tố.
Khai
Khẩn: To clear waste land for cultivation.
Khai
Kinh Kệ: The text to begin a sutra:
Vô thượng thậm thâm
vi diệu pháp.
(Pháp vi diệu rất sâu
vô lượng).
The unsurpassed, deepest
and wonderful dharma.
Bá thiên vạn kiếp nan
tao ngộ.
(Trăm ngàn muôn ức kiếp
khó gặp).
It is difficult to see
through thousands of lives.
Ngã kim kiến văn đắc
thọ trì.
(Tôi nay nghe thấy được
thọ trì).
Now I can see, hear
and recite.
Nguyện giải Như Lai
chân thiệt nghĩa.
(Nguyện hiểu nghĩa chân
thật của Như Lai).
Vowing to understand
the true meaning of Tathagata.
Khai
Lý Lịch: To declare one’s identification.
Khai
Mạc Buổi Họp: To open a meeting.
Khai
Mạc Buổi Lễ: To inaugurate—To open a ceremony.
Khai
Ngộ: To awaken, to arouse, to open up the intelligence
and bring enlightenment.
Khai
Nguyên:
1)
Khai mở một kỷ nguyên: To mark or open up an era.
2)
Theo Wylie trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, giai đoạn khai
nguyên của nhà Đường bên Trung Quốc là những năm đời vua Đường Huyền
Tông 713-741 sau Tây Lịch. Trong thời gian nầy (năm 730) thì nhà sư
Trí Thăng đã cho xuất bản một danh sách bằng Hoa ngữ mang tên “Khai
Nguyên Thích Giáo Lục” cũng như tóm lược của danh sách nầy là “Khai
Nguyên Thích Giáo Lục Lược Xuất” từ năm 67 sau Tây Lịch đến 730, gồm
176 tác giả và 2.278 dịch phẩm; tuy nhiên, nhiều bộ sách đã không
còn lúc ông đưa ra danh sách nầy: According to Wylie in The Dictionary
of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill,
the K’ai-Yuan period of the T’ang emperor Hsuan-Tsang, 713-741 A.D.;
during which the monk Chih-Chêng in 730 issued his “Complete list
of all the translations of Buddhist books into the Chinese language
from the year 67 A.D. up to the date of publication, embracing the
labours of 176 individuals, the whole amounting to 2,278 separate
works, many of which, however, were at that time already lost.” Its
title was “The Records of all Translations of Buddhist Works During
the Early T’ang” and its abbreviated version.
Khai
Nhãn: To open one’s eyes—See Khai Quang.
Khai
Phá: To discover—To detect.
Khai
Pháp:
1)
Sáng lập ra tông phái, như Đức Phật khai sáng ra Phật giáo:
To found a sect or teaching, e.g. as Buddha founded Buddhism.
2)
Phương pháp bắt đầu: The method of opening, or beginning.
Khai
Phát: Bắt đầu—To start, to set forth, to begin.
Khai
Phóng: To emancipate.
Khai
phục: To reinstate.
Khai
Quang: Lễ “Khai Quang Điểm Nhãn” tượng Phật. Sau khi tượng
Phật hoàn thành, chọn ngày dâng lễ cúng dường Phật—Introducing the
light, the ceremony of “opening the eyes” of an image, i.e. painting
or touching in the pupil.
Khai
Quang Điểm Nhãn: The ceremony of “opening the eyes”—Introducing
to the light—See Khai Quang.
Khai
Quyền Hiển Thực: Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật dùng
giáo pháp làm phương tiện quyền biến để tỏ bày chơn lý—To expose and
dispose of the temporary or partial teaching, and reveal the final
and real truth as in Lotus Sutra.
**For more information,
please see Khai Hiển.
Khai
Sáng: To found.
Khai
Sĩ:
1)
Người dùng Phật pháp để khai ngộ cho người khác: The
hero who is enlightened, or who opens the way of enlightenment.
2)
Danh hiệu của hàng Bồ tát: An epithet of the bodhisattva.
3)
Danh hiệu tôn xưng cho hàng Hòa Thượng: An honourable title
for most venerables.
Khai
Sơn:
1)
Mở núi: To pierce a mountain.
2)
Sáng lập một tự viện hay tông phái: To establish a monastery,
or to found
a sect.
Khai
Tam Hiển Nhất: Theo Kinh Pháp Hoa, tông Thiên Thai “Khai
Tam Hiển Nhất” bằng cách chỉ rõ “tam thừa” là phương tiện của “nhất
thừa.” Chỉ rõ Nhất Thừa là giáo cao nhất để cứu độ chúng sanh—According
to the Lotus Sutra, the T’ien-T’ai sect utilizes this method to explain
the three vehicles, and reveal the reality of the one method of salvation,
as found in the Lotus sutra.
Khai
Tâm: Khai mở hay phát triển tâm trí—To open the heart (mind);
to develop the mind; to initiate into truth.
Khai
Thác: To exploit.
Khai
Thị:
1)
Khai thị cho ai: To enlighten someone.
2)
Được ai khai thị: To be enlightened by someone.
Khai
Thị Ngộ Nhập: Bốn lý do Phật thị hiện nơi cõi Ta Bà (Kinh
Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Đức Phật đã dạy: “Này ông Xá Lợi Phất,
thế nào gọi là chư Phật Thế Tôn vì đại sự nhân duyên mà xuất hiện
ở đời. Chư Phật Thế Tôn muốn chúng sanh giác ngộ tri kiến Phật, khiến
họ được thanh tịnh, nên đã xuất hiện ở đời. Vì muốn chúng sanh thâm
nhập vào tri kiến Phật, nên xuất hiện ở đời. Này ông Xá Lợi Phất,
đó là do chư Phật Thế Tôn có đại nhân duyên nên xuất hiện ở đời.”)—The
four reasons for a Buddha’s appearing in the world:
1)
Khai—Introduction: Khai mở tri kiến hay chân lý Phật, hay
là mở ra sự thấy biết của chư Phật cho chúng sanh y theo đó mà học
hiểu, hầu phân biệt rõ ràng được đâu đúng hay sai—To disclose, or
to open up treasury of truth, or to introduce and open the Buddhas’
views and knowledge to sentient beings; so they can follow, learn,
understand the truths, and clearly distinguish right from wrong.
2)
Thị—Guidance: Chỉ bảo tri kiến Phật, giúp cho chúng sanh tu
tập theo những thấy biết chân chánh của chư Phật nhằm giúp họ y theo
đó mà học hiểu, hầu rõ được nẻo đúng đường sai, đâu phải, đâu trái
để dứt bỏ những sai lầm cố hữu—To display or to indicate the meanings
of Buddhas’ teachings, or to teach sentient beings to learn and patice
the views and knowledge introduced by Buddhas, to help them know clearly
the proper path from the inproper path, right from wrong, in order
to eliminate the various false views and knowledge.
3)
Ngộ—Awaken: Giác ngộ tri kiến Phật, tức là giác ngộ Phật pháp,
xa lánh tà pháp, để dứt lìa những khổ đau sanh tử nơi tam đồ ác đạo
như các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vân vân, để được sanh về
các nẻo an vui của cảnh trời người—Awaken means to realize or to cause
men to apprehend it, or to be awakened to the Buddha Dharmas, avoid
false doctrines in order to escape from sufferings of births and deaths
in the three evil paths of hell, hungry ghost, and animal, and be
able to be reborn in the more peaceful and happier realms of heaven
and human.
4)
Nhập—Penetration: Thâm nhập vào tri kiến Phật, hay thâm nhập
vào trong quả vị giải thoát của Thánh nhơn, hay là đắc đạo, vượt thoát
ra ngoài vòng luân hồi sanh tử—To enter, or to lead them into it,
or to penetrate deeply into the enlightenment fruit of the saintly
beings, being able to transcend and to find liberation from the cycle
of rebirths.
Khai
Thiên Lập Địa: The beginning period of the formation of
the world.
Khai
Thông Mạch: To release blockages in the energy system.
Khai
Thông Tâm Trí: To develop the mind—To clear or remove ignorance
in one’s mind.
Khai
Tĩnh: Phá tan sự yên lặng vào buổi sáng—Nhà chùa thường
đánh mõ gỗ vào buổi sáng để đánh thức mọi người (a. Tiểu Khai Tĩnh:
cuối canh năm gõ mộc bản trước nhà kho để đánh thức hành giả; b. Đại
Khai Tĩnh: đến cuối canh năm gõ mộc bản khắp các nơi cho mọi người
trong chùa đều dậy)—To break the silence, i.e. rouse from sleep.
Khai
Tịnh: To break the silence.
Khai
Tố: Ngã mặn, được cho phép trong trường hợp bệnh hoạn (trong
trường hợp trên, người bệnh được phép dùng gia vị và thịt, hoặc rượu
để chữa bệnh)—To abandon vegetarianism, as is permitted in case of
sickness.
Khai
Tổ: Vị sơ tổ sáng lập ra một tông phái—The founder of a
sect, or clan.
Khai
Trai: Chư Tăng Ni ăn sáng (Luật Tỳ Ni nói lúc rạng sáng
hay minh tướng (lúc mặt trời soi bóng vào cây Diêm Phù) thì khai trai—To
break the fast, breakfast.
Khái
Luận: General discussion.
Khái
Lược: Summary.
Khái
Niệm: Notion.
Khái
Niệm Lầm Lẫn: Erroneous notion.
Khái
Niệm Nhị Nguyên: Dualistic conception.
Khái
Niệm Về Không Chấp Trước Trong Nhà
Thiền: The concept of non-attachment in Zen Buddhism:
** Nhạn bay qua hồ,
Hồ soi bóng nhạn,
Nhạn không lưu bóng mình,
Hồ cũng chẳng buồn giữ ảnh nhạn.
** Swallows fly in the
sky,
The water reflects their images,
The swallows leave no traces,
Nor does the water retain their images.
Khái
Niệm Về Nghiệp: The notion of karma
Khái
Quát: To generalize.
Khái
Thuyết: To preach summarily.
Khải:
1)
Bắt đầu: To begin—To open.
2)
Khải giáp: Áo giáp—Armour.
Khải
Bạch: Cáo bạch sự việc lên chư Phật và chư Bồ Tát—To inform
or make clear, especially to inform the Buddhas—See Biểu Bạch.
Khải
Đạo: To open the way.
Khải
Đạo Viên: Counselor.
Khải
Hành: To set out—To start.
Khải
Hoàn: Triumphant return.
Khải
Hoàn Môn: Triumphant arch.
Khải
Tường: Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thôn Tân
Lộc, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, Nam Việt Nam. Chùa được xây
khoảng thế thứ 18, đến năm 1832 chùa được Vua Minh Mạng cho trùng
tu để kỷ niệm nơi sinh của mình. Năm 1859, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương
dùng chùa làm đồn lũy chống Pháp, đây cũng là nơi mà viên đại úy thủy
quân lục chiến Pháp tên Barbé bị quân ta phục kích giết chết vào đêm
6 tháng 12 năm 1860. Chùa bị giặc Pháp phá hủy vào năm 1867. Năm 1804,
chùa Quốc Ân Khải Tường được vua Gia Long dâng cúng pho tượng Phật
bằng gỗ mít thếp vàng. Tượng cao 2 mét 5, đế tượng cao 54 phân, bề
ngang giữa hai đầu gói là 1 mét 2. Khi chùa bị Pháp phá hủy, thì tượng
nầy đã được dời đi nhiều nơi nên đã bị hư hại nặng nề—Name of an ancient
temple located in Tân Lộc hamlet, Bình Dương disrict, Gia Định province,
South Vietnam. The temple was built in the eighteenth century. It
was rebuilt by King Minh Mạng to memorize his birthplace. In 1859,
Marshall Nguyễn Tri Phương used the temple as a military post against
the French colonists. It is also where Marine Captain Barbé fell into
an ambush and was killed on December 6, 1860. It was destroyed by
the French colonists in 1867. In 1804, a statue of the Buddha,
made of jacktree wood and gilded, was offered for worshipping by King
Gia Long to Quốc Ân Khải Tường Pagoda. The statue is 2.50 meters high,
the pedestal itself is 0.54 meter high, the width between the two
knees is 1.20 meters. When the pagoda was gone, the statue was moved
to many places so it was seriously damged.
Kham:
1)
Chịu đựng: To bear—To sustain.
2)
Đủ: To be adequate to.
3)
Nhà mộ: A shrine.
4)
Quan tài cho vị Tăng: A coffin for a monk.
Kham
Khổ: To live in narrow circumstances—Austere.
Kham
Năng: Ability to bear, or to undertake.
Kham
Nhẫn: Saha (skt)—Nhẫn nhục chịu đựng khổ nạn—To bear—Patiently
endure.
Kham
Nhẫn Địa: Giai đoạn kham nhẫn, sơ địa trong thập địa Bồ
Tát (ở giai đoạn nầy Bồ Tát trên thì thọ trì Phật Pháp, dưới thì cứu
độ chúng sanh. Đối với sanh tử và Niết Bàn đều tự tại. Theo Thường
Đức thì gọi là Bất Động Địa, theo Lạc Đức thì gọi là Kham Nhẫn Địa,
theo Ngã Đức thì gọi là Vô Úy Địa, theo Tịnh Đức thông ba Đức trên
để bước lên Hàng Địa)—The stage of endurance, the first of the ten
Bodhisattva stages.
Kham
Nhẫn Thế Giới: tên của thế giới Ta Bà. Chúng sanh ở thế
giới nầy phải nhẫn nhục chịu đựng mọi thứ xấu xa ô trược—The saha
world of endurance of suffering; any world of transmigration.
Kham
Tháp: Tháp một trong chùa—A pagoda with shrines.
Khám:
To investigate—To examine.
Khám
Biện: Thầy thử trình độ tiến bộ của học trò; ngược lại
học trò cũng xem xét tà chính của thầy—To examine and define.
Khám
Nghiệm: To investigate and examine.
Khám
Phá: Revelation (n).
Khám
Xét: To examine.
Khan:
1)
Rare—Scarce.
2)
To be hoarse (khan giọng).
3)
Xan tham hay bỏn xẻn: Lobha (skt)—Stingy—Avaricious.
Khan
Hiếm: Scarceness.
Khan
Pháp: Lòng khan tham không muốn chia sẻ chân lý đạo pháp
cho người khác—Mean and grudging of the Truth to others, unwillingness
to part with it.
Khan
Tâm: Tâm khan tiếc hèn mọn—A grudging, mean heart.
Khan
Tham: Lòng đã nuối tiếc vật chất nên không bố thí, mà bụng
lại còn ham muốn của người—Grudging and greed.
Khán:
To see—To look—To watch over.
Khán
Bệnh: Nuôi bệnh—To nurse the sick or to attend a patient
medically.
Khán
Kinh Đường: Phòng Đọc Kinh—Sutra Reading Hall.
Khán
Phương Tiện: Để tâm chú ý, thuật ngữ trong nhà Thiền—To
fix the mind or attention, a Zen term.
Khản
Tiếng: To become hoarse.
Khang:
1)
Dễ dàng: At ease.
2)
Khang ninh: Khỏe mạnh—Well.
3)
Không bị trở ngại: Undisturbed.
Khang
Kiện: Healthy
Khang
Ninh: To be in good health.
Khang
Phú: Healthy and rich.
Khang
Phục: To be (get) well again.
Khang
Tăng Khải: Sanghavarman (skt)—See Khương Tăng Hội.
Kháng:
To proptest—To resist.
Kháng
Án: To appeal to a court against a decision.
Kháng
Cáo: See Kháng Án.
Kháng
Mệnh: To oppose an order.
Kháng
Nghịch: To struggle against the enemy.
Khảng
Khái: Brave.
Khánh:
1)
Chuông hay khánh dùng trong nghi thức lễ lạc Phật Giáo: A little
bell for Buddhist ceremonies.
2)
Đằng hắng (tằng hắng): To clear the throat.
3)
Nói nhỏ nhẹ: To speak softly.
4)
Vui vẻ hạnh phúc: Fecility—Felicitous.
Khánh
Chúc: To congratulate.
Khánh
Chư Thiền Sư: Thạch Sương Khánh Chư—Zen Master Shih-Shuang-Qing-Zhu—Thiền
sư Khánh Chư sanh năm 806 tại Tân Cam, Lô Lăng. Năm 13 tuổi sư xuất
gia theo Thiền sư Thiệu Loan, năm 23 tuổi sư thọ cụ túc giới, sau
đó sư học Luật Tạng—Zen master Qing-Zhu was born in 806 in Xin-kan
near ancient Lu-Ling. At 13 he left home to follow Zen master Shao-Long
and was fully ordained at the age of 23. He then proceeded to study
the Vinaya Pitaka.
·
Một hôm sư ở trong liêu sàng gạo, Qui Sơn (Linh Hựu)
đến bảo: “Vật của thí chủ chớ ném bỏ.” Sư thưa: “Chẳng dám ném bỏ.”
Qui Sơn lượm trên đất một hạt gạo, bảo: “Ngươi nói chẳng ném bỏ, cái
nầy từ đâu đến?” Sư không trả lời. Qui Sơn lại bảo: “Chớ khi một hạt
gạo nầy, trăm ngàn hạt gạo cũng đều từ hạt gạo nầy mà sanh ra.” Sư
thưa: “Trăm ngàn hạt gạo từ một hạt nầy sanh, chưa biết một hạt nầy
từ chỗ nào sanh?” Qui Sơn cười ha hả rồi trở về phương trượng. Đến
chiều Qui Sơn thượng đường bảo chúng: “Đại chúng! Trong gạo có sâu.”—Qing-Zhu
went to Mount Kui, where he served as a rice cook. Once when he was
preparing the rice, Kui-Shan said to him: “Don’t lose anything offered
by our patrons.” Qing-Zhu said: “I’m not losing anything.” Kui-Shan
reached down and picked up a single grain of rice which had fallen
to the ground and said: “You said you haven’t lost anything, but what’s
this?” Qing-Zhu didn’t answer. Kui-Shan said: “Don’t lightly regard
this one grain, a hundred thousand grains are born from this one.”
Qing-Zhu said: “A hundred thousand grains are born from this one,
but from what place is this one grain born?” Kui-Shan laughed, “Ha,
ha,” and went back to his room. That evening Kui-Shan entered the
hall and addressed the monks, saying: “Everyone! There’s an insect
in the rice. You should all go and see it.”
·
Sư đến tham vấn Đạo Ngộ, hỏi: “Thế nào chạm mắt là Bồ
Đề?” Đạo Ngộ gọi một vị sa di và vị sa di ấy đáp lời. Đạo Ngộ bèn
bảo vị sa di: “Thêm nước sạch (tịnh thủy) vào bình.” Sau một hồi im
lặng, Đạo Ngộ lại hỏi sư: “Ông vừa hỏi cái gì?” Sư thuật lại câu hỏi
trước. Đạo Ngộ đứng dậy đi. Sư nhơn đấy tỉnh giác—When Qing-Zhu met
T’ao-Wu, he said: “What is the transcendent wisdom that mees the eye?”
T’ao-Wu called to an attendant and the attendant respond. T’ao-Wu
said to him: “Add some clean water to the pitcher.” After a long pause,
T’ao-Wu said to Qing-Zhu: “What did you just come and ask me?” Qing-Zhu
repeated his previous question when T’ao-Wu got up and left the room.
Qing-Zhu then had a great realization.
·
Đạo Ngộ bảo chúng: “Ta đau gần muốn chết, bởi trong
tâm có một vật để lâu thành bệnh, người nào hãy vì ta mà dẹp nó đi?”
Sư thưa: “Tâm vật đều không thật, dẹp bỏ lại thêm bệnh.” Đạo Ngộ khen:
“Lành thay! Lành thay!”—When T’ao-Wu was about to die, he said: “There’s
something in my mind. An old trouble. Who can get rid of it for me?”
Qing-Zhu said: “All things in your mind are unreal. Get rid of good
and bad?” T’ao-Wu said: “Worthy! Worthy!”
·
Làm Tăng mới được hai tuổi hạ, sư bèn ẩn trong dân gian,
vào xóm thợ gốm vùng Lưu Dương, Trường Sa, sáng sớm dạo đi, đến chiều
trở về, mọi người không biết được sư. Nhơn một vị Tăng từ Động Sơn
đến, sư hỏi: “Hòa Thượng có lời gì dạy chúng?” Tăng đáp: “Hôm giải
hạ, Hòa Thượng thượng đường dạy: “Đầu thu cuối hạ, huynh đệ hoặc đi
Đông đi Tây, đi nên đi thẳng đến chỗ muôn dặm không có một tấc cỏ,
đi làm gì?” Sư hỏi: “Có người đáp được chăng?” Tăng nói: “Không.”
Sư bảo: “Sao chẳng nói ‘Ra khỏi cửa liền là cỏ.’” Tăng trở về thuật
lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn bảo: “Đây là lời nói của diệu trí
thích hợp cho một vị trụ trì với 1500 Tăng chúng (Ở Lưu Dương có cổ
Phật).”—After being ordained for two years, Qing-Zhu hid from the
world. He lived in obscurity in Liu-Yang as a potter’s assistant.
In the morning he would go to work and in the evening he would return
home. No one knew him to be an adept. T’ung-Shan-Liang-Zhie sent a
monk to find him. Qing-Zhu asked the monk: “What does T’ung-Shan say
to provide instruction to his disciples?” The monk said: “At the end
of the summer practice period he said to the monks, ‘the fall has
begun and the summer has ended. If you brethren go traveling,
you must go to the place where there isn’t a blade of grass for ten
thousand miles.’” “After a long pause, T’ung-Shan said: ‘How can one
go to a place where a single blade of grass isn’t found for ten thousand
miles?’” Qing-Zhu asked the monk: “Did anyone respond or not?” The
monk said: “No.” Qing-Zhu said: “Why didn’t someone say, ‘Going out
the door, there’s the grass.’” The monk went back and relayed what
Qing-Zhu said to T’ung-Shan. T’ung-Shan said: “This is the talk of
wonderful knowledge appropriate for an abbot of fifteen hundred people.”
Khánh
Đản: Birthday.
Khánh
Độc: Nghi lễ khánh thành chùa hay an vị tượng Phật—A service
of felicitation, e.g. on the dedication of an image, temple, etc.
Khánh
Hỷ: Thiền Sư Khánh Hỷ ((1066-1142)—Zen Master Khánh Hỷ—Thiền
sư Việt Nam, quê ở Long Biên, Bắc Việt. Ngài xuất gia và trở thành
đệ tử của Thiền sư Bổn Tịch tại chùa Chúc Thánh. Ngài là Pháp tử đời
thứ 14 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Vua Lý Thần Tông thỉnh ngài về triều
và ban cho ngài chức vị cao nhất. Hầu hết đời ngài, ngài chấn hưng
và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1142, thọ 76
tuổi—A Vietnamese Zen master from Long Biên, North Vietnam. He left
home and became a disciple of Zen master Bổn Tịch at Chúc Thánh Temple.
He was the Dharma heir of the fourteenth generation of the Vinitaruci
Zen Sect. King Lý Thần Tông invited him to the capital to offer him
the highest position. He spent most of his life to revive and expand
Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1142, at the age of 76.
Khánh
Kiệt: All spent—Exhausted.
Khánh
Long: Thiền sư Khánh Long, quê ở Biên Hòa, Nam Việt. Ngài
khai sơn chùa Hội Sơn ở Biên Hòa vào cuối thế kỷ thứ 18 và hầu hết
cuộc đời ngài hoằng hóa ở Nam Việt Nam. Ngài đi đâu và thị tịch hồi
nào không ai biết—A Vietnamese Zen Master from Biên Hòa, South
Vietnam. He was the founder of Hội Sơn temple in Biên Hòa, South Vietnam
in the late eighteenth century. He spent most of his life to expand
the Buddha Dharma in South Vietnam. His whereabout and when he passed
away were unknown.
Khánh
Nhỏ: Small hand bell.
Khánh
Quang: Tên một ngôi chùa trong thành phố Cần Thơ, Tỉnh
Cần Thơ, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng năm 1969. Tên Khánh Quang
được đặt ra để tưởng nhớ hai vị Hòa Thượng Khánh Anh và Huệ Quang—Name
of a temple, located in Cần Thơ City, Cần Thơ province, South Vietnam.
Khánh Quang Temple was built in 1969 in commemoration of Most Venerable
Khánh Anh and Most Venerable Huệ Quang.
Khánh
Tận: Bankrupcy.
Khánh
Thành: To inaugurate—To open.
Khánh
Thọ: To congratulate on the occasion of a birthday.
Khánh
Vân: Tên của một ngôi chùa cổ ở làng Lưu Bảo, An Vân, Huế,
Trung Việt. Khởi thủy chùa là am Khánh Vân, do bà Nguyễn Thị Đạo,
dì của một chúa Nguyễn xây dựng vào khoảng dưới triều chúa Nguyễn
Phước Châu. Năm 1732, Hòa Thượng Giác Thù mua lại chùa từ tay bà Phạm
Thị Lược. Ngài tái thiết chùa trên vị trí cũ. Năm 1747, chúa Nguyễn
Phước Hoạt đã cấp ngạch sắc tứ với ngự bút của chúa: “Sắc Tứ
Khánh Vân Tự.” Năm 1805, Hòa Thượng Khánh Đoan, một môn đệ của Hòa
Thượng Giác Thù, đã trùng tu chùa. Dưới triều vua Minh Mạng, Hòa Thượng
Tâm Trung lại tái thiết. Năm 1863, một đệ tử của ngài Nhất Tư đã mở
rộng qui mô của chùa và lợp lại mái ngói. Bộ Công đã vâng chỉ sơn
thếp lại biển vàng sắc tứ. Từ cuối thế kỷ thứ 19, chùa có vài lần
bị hư hỏng vì gió bão lụt lội, nhưng không nặng nề. Nhưng sau đó chùa
bị cháy trong chiến tranh, rồi một phần cơ ngơi được tạm dựng lại
bị trận bão năm 1953 cuốn trôi hết. Vào cuối thập niên 70s chùa được
tái thiết trên nền cũ, nhưng đơn giản hơn. Tại chùa hiện còn giữ chiếc
chuông của chùa Bửu Sơn, thỉnh từ chùa Thiên Mụ, sau khi chùa Ngọc
Sơn bị giải thể—Name of an ancient temple in Lưu Bảo village, Huế,
Central Vietnam. The temple originated from a small thatched house
named Khánh Vân, built by a lady named Nguyễn Thị Đạo, probably during
the reign of Lord Nguyễn Phước Châu. In 1732, Venerable Giác Thù purchased
this temple from Mrs. Phạm Thị Lược. He reconstructed the temple on
the same site. In 1747, Lord Nguyễn Phước Hoạt gave recognition to
the temple with his autograph reading: “Sắc Tứ Khánh Vân Tự.” In 1805,
Most Venerable Khánh Đoan, a disciple of Most Venerable Giác Thù,
rebuilt the temple. During the reign of king Minh Mạng, Most Venerable
Tâm Trung rebuilt the temple again. In 1863, a disciple of Nhất Tư
enlarged the structure, installing tiled roofs. In 1871, the Ministry
of Construction received order to renew the gilted horizontal panel
of the temple. From the late nineteenth century, the temple
was sometimes affected by natural calamities, but damages were not
very serious. However, during the war with the French, the temple
was burnt down. After its reconstruction, it was swept away by the
historic flood in 1953. In the late 70s, the temple was rebuilt on
the old site, but simpler. There also remains a small bell of Bửu
Sơn temple, transferred here from Thiên Mụ temple after Ngọc Sơn temple
was dismantled.
Khao
Khát: To thirst for something—To be desirous of something—Covetous—Desirous.
Khao
Khát Ăn Ngon: Craving for good food
Khao
Khát Dục Lạc: Craving
Khao
Khát Đời Sống Vĩnh Cửu: Craving for eternal life
Khao
Khát Làm Việc Gì: To be eager to do something
Khao
Khát Mặc Đẹp: Craving for good clothes
Khao
Khát Thú Vui: Craving for pleasure
Khao
Khát Vật Chất: Craving (to crave) for material things
Khảo:
See Nhị Khảo and Lục Chủng Khảo.
1)
To examine.
2)
To torture.
3)
Challenges.
4)
Testing conditions.
Khảo
Thí: To examine.
Khảo
Nghiệm: To examine thoroughly.
Khát:
Trsna (skt)—To be thirsty—Thirst.
Khát
Ái: Tanha (p)—Trishna (skt)—Craving—Thirst—See Ái Khát.
Khát
Địa Ngục: Địa ngục nơi tội nhân chịu khổ hình bằng cách
nuốt những hòn sắt nóng—The thirst-hell, where red-hot iron pills
are administered.
Khát
Già: Khadga (skt)—Khư Già—Kiết Già—Con tê giác—A rhinoceros.
Khát
Lộc: Con nai lúc khát nước trông thấy hơi nước bốc lên
từ xa lại tưởng là nước, dùng để ví với cái tâm vọng tưởng của con
người—The thirsty deer which mistakes a mirage for water, i.e. human
illusion.
Khát
Ngưỡng: Mong muốn như người khát nước—To long for as one
thirsts for water.
Khát
Pháp: Khát vọng tìm cầu chân lý hay Phật đạo—To thirst
for the truth, or for the Buddha-way.
Khát
Thọ La: Kharjura (skt)—Tên một loại chà là của xứ Ba Tư—A
date—The wild date—The Persian date.
Khát
Vọng: To aspire for—To long for
Khắc:
1)
Cắt: To cut.
2)
Khắc chạm: To carve—To engrave.
3)
Khắc phục: To overcome—Successfully attain to.
4)
Mười lăm phút: A quarter of an hour.
5)
Một khoảnh khắc: An instant.
Khắc
Cần Phật Quả Thiền Sư: Cũng được biết với tên Viên Ngộ
Khắc Cần, người tỉnh Tứ Xuyên. Vốn dòng dõi nhà nho. Ngài là một cao
Tăng đời nhà Tống, và là tác giả bộ sách Bích Nham Lục nổi danh trong
Thiền Giới. Từ tuổi ấu thơ ngài đã thuộc lòng kinh điển Khổng Giáo.
Một hôm dạo chơi chùa Diệu Tịch, tình cờ đọc được sách Phật, nghe
như đang nhớ lại những ký ức xa xưa. Sư nghĩ: “Kiếp trước chắc mình
là ông thầy tu.” Từ đó lúc nào ngài cũng cảm thấy bị Phật Giáo thu
hút nên đã vào một tu viện Phật Giáo để lao mình vào việc nghiên cứu
kinh điển Phật. Sau một cơn bệnh thập tử nhứt sanh, ngài nhận thấy
rằng chỉ riêng sự thông thái về sách vở sẽ không bao giờ cho phép
mình khám phá ra chơn lý sống động của Phật pháp, nghĩa là ‘Con đường
chân chánh dẫn đến Niết Bàn theo như chư Phật giảng dạy không nằm
trong văn cú. Muốn tìm thấy trong thanh và sắc, thì chỉ còn cách chết
mà thôi.’ Đến khi bình phục, sư từ bỏ phương pháp cũ, đến tham học
với Thiền sư Chân Giác Thắng. Lối dạy của Thiền sư Chân Giác Thắng
là lấy dao chích vào cánh tay cho máu chảy rồi bảo mỗi giọt máu chảy
ra tứ Tào Khê (Tào Khê là nơi mà Lục Tổ Huệ Năng đã sáng lập ra tông
tông phái của ngài) và câu trên ám chỉ rằng phải đem sinh mệnh ra
mà thủ đắc Thiền. Được gợi hứng như thế, Khắc Cần Phật Quả bái phỏng
rất nhiều Thiền sư. Họ rất cảm khích bởi sự thành đạt của sư, có vị
còn nghĩ rằng chính sư sẽ là người dựng lên một tông phái đặc sắc
mới trong pháp môn của ngài Lâm Tế. Cuối cùng sư quyết định du phương
tìm một vị thầy thiền đã đạt được đại giác. Ngài du hành về phương
nam Trung Quốc, gặp Ngũ Tổ Pháp Diểãn, và ở lại làm thị giả cho Ngũ
Tổ trong nhiều năm. Nhưng Pháp Diễn không chịu ấn chứng kiến giải
Thiền của sư. Sư nghĩ rằng Pháp Diễn cứ một mực nói ngược lại với
mình, bèn thốt lên những lời vô lễ rồi bỏ đi. Khi sư sắp sửa rời khỏi
Pháp Diễn, thì Pháp Diễn mới nói: “Đợi đến khi bệnh ngặt, bấy giờ
ông mới nhớ đến ta. Sư ở Kim Sơn, mắc chứng thương hàn rất nặng, cố
nhặt hết chỗ bình nhật bằng tất cả kinh nghiệm thiền đã từng đạt được
trước kia, nhưng chẳng giúp được gì. Sư bèn nhớ đến lời của Pháp Diễn.
Sau đó sư cảm thấy đở hơn nên trở lại với Thầy Pháp Diễn. Thiền sư
Pháp Diễn vui vẻ thấy đồ đệ đã ăn năn trở về lại. Từ đó sư ở bên Thầy
rất lâu. Ngay cả khi đã đạt được đại giác thâm sâu và đã được ấn chứng
xác nhận từ Ngũ Tổ, ngài vẫn tiếp tục ở lại bên thầy để rèn luyện
tâm linh—Ke-Ch’in-Fo-Kuo (1063-1135), also called Yuan-Wu Ko-Chin,
a native of Szechuan, was born in a Confucian family. He was one of
the famous monks in the Sung Dynasty and the author of a Zen text
book known as the ‘Pi-Yen-Lu.’ As a child he learned the Confucian
classics by heart. One day he went to Diệu Tịch monastery where he
happened to read Buddhist books, and felt as if he were recalling
his old memories. He thought to himself, “I must have been a monk
in my previous life.” Since then he was attracted to Buddhism and
entered a Buddhist monastery, where he devoted himself to the study
of the sutras. After nearly dying from an illness, he came to a conclusion
that mere scholarly erudition could not bring one to the living truth
of the Buddha-dharma. It is to say: “The right way to the attainment
of Nirvana as taught by the Buddhas is not to be found in words. I
have been seeking it in sounds and forms and no doubt I deserve death.”
When he recovered, he quitted his old method, and came to a
Zen master named Chen-Chueh-Sheng. Master Sheng’s instruction consisted
in making his own arm bleed by sticking a knife into it and remarking
that each drop of the blood came from T’sao-Ch’i (T’sao-Ch’i is where
the Sixth Patriarch Hui-Neng founded his school) which meant that
Zen demanded one’s life for its mastery. Thus inspired, Ke-Ch’in-Fo-Kuo
visited many Zen masters. They were all well impressed with his attainment,
and some even thought that it was he who would establish a new original
school in teaching of Lin-Chi. Finally, he set out to find an enlightened
Zen master. He traveled to south China, where he eventually found
and stayed with Master Wu-Tsu-Fa-Yen, whom he served as an attendant
for many years. However, Fa-Yen refused to confirm his view of Zen.
He thought Fa-Yen was deliberately contradicting him . Giving vent
to his dissatisfaction in some disrespectful terms, he was about to
leave Fa-Yen, who simply said: “Wait until you become seriously ill
one day when you will remember me.” While at Chin-Shan, Fo-Kuo contracted
a fever from which suffered terribly. He tried to cope with it with
all his Zen experiences which he attained before, but to no purpose
whatever. He then remembered Fa’Yen’s prophetic admonition. Therefore,
as soon as he felt better, he went back to Wu-Tsu monastery. Fa-Yen
was pleased to have his repentant pupil back. Since then he stayed
at Wu-Tsu for a long time. Even after he had realized profound enlightenment
under Wu-Tsu and had received from him the seal of confirmation, he
stayed with him to train further until the master's death.
·
Thiền sư Khắc Cần Phật Quả sanh năm 1063. Thầy Thiền
thuộc dòng Lâm Tế, là môn đồ và người nối Pháp của Ngũ Tổ Pháp Diễn.
Ông là thầy của Đại Tuệ Tông Cảo. Thuở thiếu thời sư tinh thông Nho
học. Người ta nói mỗi ngày sư viết trên ngàn chữ. Một dịp viếng chùa
Diệu Tự, thấy sách Phật, sư cảm thấy như bắt được vật cũ. Sau đó sư
xuất gia và thọ cụ túc giới với Luật Sư Tự Tỉnh. Khi sư đến tu viện
Kim Sơn, mắc bệnh nặng, nhớ đến lời dạy của thiền sư Diễn ở Ngũ Tổ,
sư nguyện khi bệnh tạm bớt sẽ trở lại tham học với Ngài—Zen master
Ke-Xin-Fo-Kua was born in 1063, a Chinese Zen Master of the lineage
of Lin-Chi Zen. He was a student and Dharma successor of Wu-Tsu Fa-Yen.
He was the teacher of Ta-Hui-Tsung-Kao. A gifted youth who thoroughly
studid the Confucian classics. He is said to have written one thousand
words everyday. During a visit to Miao-Tzu Monastery, he obseved some
Buddhist scriptures and was surprised by a strong feeling that he
had previously possessed them. He then left home and received full-ordination
with Vinaya Master Tzu-Shing. When he came to Jin-Shan, he became
seriuosly ill. Remembering Zen master WuTzu’s words, he pledged to
return to study with him when he recovered.
·
Một hôm Pháp Diễn có khách, khách vốn là quan đề hình
đã treo ấn từ quan trở về. Khách hỏi về đạo lý Thiền, Pháp Diễn nói:
“Quan đề hình có biết một bài thơ tiêu diễm mà bọn Thiền chúng tôi
nhớ mài mại hai câu cuối không? Đó là—One day, a visitor whose official
business being over was to go back to the capital. Being asked by
him as to the teaching of Zen, Fa-Yen said: “Do you know a romantic
poem whose last two lines somewhat reminds us of Zen? The lines are:
Cô
nàng gọi mãi những vô ích
Chỉ
thằng tốt mã nghe ra thôi.
(Tần
hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự
Chỉ
yếu Đàng lang nhận đắc thanh).
For
the maid she calls, why so often, when there’s no special work
to do?
Only
this, perchance her voice is overheard by her lover.”
·
Nghe đọc xong, viên quan trẻ nói: “Vâng, vâng, thưa
đại sư.” Nhưng sư bảo ông đừng có nghe theo dễ dàng như thế—When this
was recited, the young officer said, “Yes, yes, master.” But he was
told not to take it too easily.
·
Từ ngoài trở vào, vừa nghe cuộc đàm đạo nầy Phật Quả
hỏi: “Nghe nói Hòa Thượng đọc bài thơ Tiêu diễm cho quan đề hình lúc
tôi ra ngoài, Đề hình có hiểu không?”—Fo-Kuo heard of this interview
when he came back from outside, and asked: “I am told you recite the
romantic poem for the young visitor while I was away. Did he understand?”
·
Pháp Diễn đáp: “Y nhận ra tiếng.”—Fa-Yen replied: “He
recognizes the voices.”
·
Phật Quả nói: “Câu thơ nói ‘Chỉ thằng tốt mã nghe ra
thôi, nếu như đề hình nghe ra tiếng’ y lầm lẫn ở chỗ nào?”—Fo-Kuo
said: “As long as the line says, ‘The thing is to have the lover overhear
her voice,’ and if the officer heard this voice, what is wrong with
him?”
·
Không trả lời thẳng câu hỏi, Pháp Diễn bảo: “Ý Tổ sư
Tây lại là gì?” Cây bá trước sân. Thế là thế nào?” Tức thì tầm mắt
Phật Quả mở ra mà thấy đạo lý của Thiền. Sư chuồn ra khỏi thất, chợt
thấy một con gà đang xóc cánh mà gáy. Sư nói: “Đấy há không phải là
tiếng?” Rồi sư làm bài kệ giác ngộ nổi tiếng sau đây để trình lên
thầy—Without directly answering the question, the master abruptly
said: "What is the Patriarch's idea of coming from the West?
The cypress-tree in the court-yard. How is this?” This at once opened
Fo-Kuo’s eye to the truth of Zen. He rushed out of the room when he
happened to see a cock on the railing give a cry, fluttering its wings.
He said: “Is this not the voice?” His famous verse of enlightenment:
“Kim áp hương tiêu cẩm tú vi,
Sảnh ca tùng lý túy phù qui,
Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự,
Chỉ hứa giai nhơn độc tự tri.”
(Quạ vàng hương kín túi gấm thêu,
Nhịp ca tùng rậm say dìu về,
Một đoạn phong lưu thuở thiếu niên,
Chỉ nhận giai nhơn riêng tự hay.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch).
“The
golden duck vanishes into the gilt
brocade.
With a rustic song, the drunkard returns
in the woods.
A youthful love affair.
Is known only by the young beauty.”
·
Pháp Diễn góp lời thêm: “Việc lớn một đời của Phật và
Tổ, chẳng phải người căn nhỏ chất kém mà có thể tạo nghệ được. Ta
giúp vui cho ngươi đó.”—Master Fa-Yen added: “he great affair of life
that has caused the Buddha and patriarchs to appear among us is not
meant for small characters and inferior vessels. I am glad that I
have been a help to your delight.”
·
Viên Ngộ là một trong những thiền sư xuất sắc nhất trong
thời của ngài. Nhờ có ngài và em trai của ngài (kém hơn ngài 20 tuổi)
là Vô Môn Khai Tuệ, cũng là môn môn đồ của dòng Thiền Lâm Tế, mà Thiền
Tông Trung Quốc đã trải qua một thời phồn thịnh, trước khi các tổ
truyền từ “tâm truyền tâm.”—Yuan-Wu Ko-Chin was one of the most important
Zen masters of his time. With masters like him and the twenty-years-younger
brother, Wu-Men-Hui-K’ai, also in the lineage of Lin-Chi Zen, Chinese
Zen reached the last peak of its development in China before the dharma
transmitted by the patriarchs from heart-mind to heart-mind.
·
Sau khi Ngũ Tổ Pháp Diễn thị tịch, Viên Ngộ trở về miền
bắc. Tại đây các quan trong triều và ngay cả Hoàng Đế Huệ Tông đã
bổ nhiệm ngài làm viện trưởng các tu viện Thiền lớn khác nhau. Khi
người Khuất Đan chinh phục miền bắc Trung Quốc, ngài đã trở lại miền
nam. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, ngài đã lên đường trở về quê hương
và hoằng hóa ở đây cho đến lúc thị tịch—After Fa-Yen passed away,
Yuan-Wu set out for the north, where he was appointed by high state
officials and finally by Emperor Hui-Tsung himself to the abbacy of
various large Zen monasteries. When the Kitan conquested the north
of China, Yuan-Wu returned to the south. However, he soon returned
to his home province and was active there as a Zen master until his
death.
·
Cuối tháng tám năm 1135, có vẻ hơi nhuốm bệnh, sư ngồi
kiết già viết kệ để lại cho Tăng chúng. Đoạn sư ném bút thị tịch.
Tháp cốt của sư bên cạnh chùa Chiêu Giác—Late in August in the
year 1135, Fo-Kua appeared to be slightly ill. He sat cross-legged
and upright, composed a farewell verse to the congregation. Then,
putting down the brush, he passed away. His cremated remains were
placed in a stupa next to Zhao-Zhue Temple.
Khắc
Cần Viên Ngộ Thiền Sư: See Khắc Cần Phật Quả Thiền Sư.
Khắc
Chung: Chắc chắn sẽ đạt được thành quả do sự tu tập—Successfully
end, certainty of obtaining the fruit of one’s action.
Khắc
Chứng: Sự chắc chắn đạt được chứng ngộ—The assurance of
success in attaining enlightenment.
Khắc
Cốt Ghi Tâm: To engrave on one’s memory.
Khắc
Phục: To control—To master—To overcome—To subdue.
Khắc
Khổ: To live a hard life.
Khắc
Nghiệt: Stern—Strict—Severe.
Khắc
Phục: To overcome—To subdue.
Khắc
Phục Hoài Nghi: To overcome doubts.
Khắc
Quả: Đạt thành quả vị Phật, hay đắc quả—To attain the Buddhahood;
to obtain the fruit of endeavour; the fruit of effort, i.e. salvation.
Khắc
Tạng: Khắc chạm kinh điển (trên gỗ hay trên đá)—To engrave
the canon (on wood or on stone).
Khắc
Thánh: Sự chắc chắn đạt được quả vị A La Hán—The certainty
of attaining arhatship.
Khắc
Thức: Sự hiểu biết tốt xấu của con người—The certainty
of the knowledge by the spirits, or men’s good and evil.
Khắc
Thực: Tìm ra chân lý—To discover the truth.
Khăng
Khăng: Stubbornly.
Khăng
Khăng Giữ Ý: To cling to an opinion.
Khẳng
Định: To affirm.
Khắp:
All over.
Khắp
Nơi: Everywhere.
Khắp
Thế Giới: All over the world.
Khắt
Khe: Severe—Stern—Austere.
Khâm
Bái: To salute respectfully
Khâm
Phục: To admire.
Khâm
Sơn Văn Thúy: Ch’in-Shan-Wen-Shui—See Văn Thúy Khâm Sơn
Thiền Sư.
Khẩn
Khoản: To insist.
Khấn
Vái: To pray.
Khấn
Vái Lầm Thầm: To mumble a prayer.
Khẩn:
1)
Cột chặt lại: To tight—To bind tight—Pressing.
2)
Khẩn cấp: Urgent.
Khẩn
Chúc Ca: Kimsuka (skt)—Chân Thúc Ca—Kiên Thúc Ca.
1)
Tên của một loại đá quý (báu vật) màu hồng ngọc: Name of a
ruby-coloured precious stone.
2)
Tên của một loại cây ở vùng bắc Ấn Độ: Name of a tree in northern
India.
Khẩn
Khoản: To insist.
Khẩn
Na La: Kinnara (skt)—Chân Đà La—Khẩn Đà La—Khẩn Nại La—Khẩn
Nại Lạc—Một bộ chúng trong Thiên Long Bát Bộ, là một loại chúng sanh
có tài tấu nhạc ở cõi trời có mình người đầu thú. Chúng được diễn
tả là nhân phi nhân. Con giống đực có tài ca hát, trong khi con giống
cái có tài nhảy múa—Kinnara, one of the devas, nagas and others of
the eight groups, a kind of mystical celestial musicians of
Kuvera or heavenly beings with human bodies and animal (horses’) heads.
They are described as “men yet not men.” The males sing, and the females
dance—See Kinnara in English-Vietnamese and Sanskrit/Pali-Vietnamese
Sections.
Khẩn
Thiết: To be sincere.
Khẩn
Thiết Chí Thành: In extreme earnestness.
Khẩn
Yếu: Urgent and important.
Khập
Khiễng: To limp—To cripple along—To hobble.
Khất:
To ask for a delay.
Khất
Cái: To beg.
Khất
Nhãn Bà La Môn: Trong tiền kiếp, có vị Bà La Môn đến xin
mắt của ngài Xá Lợi Phất, rồi bỏ xuống đất chà đạp là cho Xá Lợi Phất
thối tâm không thể trở thành Bồ Tát trong kiếp kế tiếp—The Brahman
who begged one of Sariputra’s eye in a former incarnation, the trampled
on it, causing Sariputra to give up his efforts to become a bodhisattva
one more life time.
Khất
Nợ: To ask for a delay to pay one’s debts.
Khất
Sĩ: A Bhiksu—A mendicant scholar—A religious mendicant,
an alm man, one who has left home, been fully ordained, and depends
on alms for a living.
Khất
Thực:
(I)
Nghĩa chung của Khất Thực—General meanings of Mendicancy: Khất
thực của Tăng nhân. Nghĩa đen có nghĩa là “cầm bát.” Có nhiều hình
thức khất thực, nhưng các vị sư trong các tịnh xá của hệ phái Tăng
Già Khất Sĩ thường đi thành nhóm từ 10 đến 15 vị, đi thật chậm, chân
không, và đi từng bước một xuyên qua phố thị, các ngài thường nhìn
xuống đất và không nói chuyện. Khất thực là sống đúng theo chánh mạng
của một nhà sư, ngược lại với những vị sư mà còn đi làm thì gọi là
sống theo tà mạng. Ngoài ra khất thực còn tạo cho chư Tăng phẩm chất
khiêm cung từ tốn, cũng như không trau tria cuộc sống—Religious mendicancy—To
beg for food. Literally “holding the bowl.” There are many forms of
mendicancy, but monks in monasteries of Sangha Bhiksu Sect usually
do it in group of ten or fifteen. As they walk very slowly (bare-footed
and step by step) through the streets of a town, face down, without
speaking. Mendicancy is the right livelihood of a monk. To work
for a living is an improper life. In addition, mendicancy keeps a
monk humble, and frees him from cares of life.
(II) Theo Kinh Duy Ma Cật—According to
the Vimalakirti Sutra:
a)
Duy Ma Cật nói với ngài Đại Ca Diếp về tối thượng nghĩa của
Khất Thực khi gặp ông nầy đi khất thực trong xóm nhà nghèo—Vimalakirti
told Maha-Kasyapa about the supreme meaning of “Mendicancy” when he
saw Maha-Kasyapa went begging for food in a village inhabited by poor
people:
·
‘Này ngài Đại Ca Diếp! Có lòng từ bi mà không phổ cập
là bỏ nhà giàu mà đi đến nhà nghèo. Ngài Đại Ca Diếp! Ở Pháp bình
đẳng nên đi khất thực theo thứ lớp. Vì không ăn mà đi khất thực; vì
phá tướng hòa hiệp mà bốc cơm ăn; vì không nhận mà nhận món ăn của
người; vì tưởng không tụ mà vào làng xóm; có thấy sắc cũng như người
đui; có nghe tiếng cũng như vang; có ngửi mùi cũng như gió; lúc nếm
vị không phân biệt; chạm các vật như trí chứng; biết các Pháp tướng
như huyễn, không có tự tánh, không có tha tánh, trước vốn không sanh,
nay cũng không diệt—“Mahakasyapa, you are failing to make your kind
and compassionate mind all-embracing by begging from the poor while
staying away from the rich. Mahakasyapa, in your practice of
impartiality you should call on your donors in succession (regardless
of whether they are poor or rich). You should beg for food without
the (ulterior) idea of eating it. To wipe out the concept of
rolling (food into a ball in the hand) you should take it by the hand
(i.e. without the idea of how you take it). You should receive
the food given without the idea of receiving anything. When
entering a village you should regard it as void like empty space.
When seeing a form you should remain indifferent to it. When
you hear a voice you should consider it (as meaningless as) an echo.
When you smell an odor take it for the wind (which has no smell).
When you eat, refrain from discerning the taste. Regard all
touch as if you were realizing wisdom (which is free from feelings
and emotions). You should know that all things are illusory,
having neither nature of their own nor that of something else, and
that since fundamentally they are not self-existent they cannot now
be the subject of annihilation.
·
Ngài Đại Ca Diếp! Nếu có thể không bỏ bát tà mà vào
bát giải thoát, dùng bát tướng mà vào Chánh Pháp, dùng một bữa ăn
mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực hiền thánh rồi sau
mới ăn. Ăn như thế, không phải có phiền não, không phải rời phiền
não, không phải vào định ý, không ra định ý, không phải ở thế gian,
không phải ở Niết Bàn, người thí không có phước lớn, không có phước
nhỏ, không được lợi ích, không bị tổn hại, đó chính là vào Phật đạo,
không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca Diếp! Nếu ăn như thế là ăn
đồ cúng thí của người không uổng vậy—Mahakasyapa, if you can achieve
all eight forms of liberation without keeping from the eight
heterodox ways (of life), that is by identifying heterodoxy with orthodoxy
(both as emanating from the same source), and if you can make an offering
of your (own) food to all living beings as well as to all Buddhas
and all members of the Sangha, then you can take the food. Such
a way of eating is beyond the troubles (of the worldly man) and the
absence of the troubles of Hinayana men); above the state of stillness
(in which Hinayana men abstain from eating) and the absence of stillness
(of Mahayana men who eat while in the state of serenity); and beyond
both dwelling in the worldly state or in nirvana, while your donors
reap neither great nor little merits, what they give being neither
beneficial nor harmful. This is correct entry upon the Buddha
path without relying on the small way of sravakas. Mahakasyapa,
if you can so eat the food given you, your eating shall not be in
vain.”
b)
Duy Ma Cật nói với Tu Bồ Đề về tối thượng nghĩa của “Khất Thực”
khi ông nầy khất thực trước nhà của Duy Ma Cật. Lúc đó trưởng giả
Duy Ma Cật lấy cái bát của Tu Bồ Đề đựng đầy cơm rồi nói với ông ta
như sau—Vimalalakirti told Subhuti about the supreme meanings of “Mendicancy”
when Subhuti went to Vimalakirti’s house begging for food. Vimalakirti
took Subhuti’s bowl and filled it with rice, saying:
·
“Thưa ngài Tu Bồ Đề! Đối với cơm bình đẳng, thì các
Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi
khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm
nô si, cũng không chung cùng với nó, không hoại thân mà theo một hình
tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch mà đặng
giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế cũng không
phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu,
không phải Thánh nhơn, không phải không Thánh nhơn, tuy làm nên tất
cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu
Bồ Đề không thấy Phật, không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo kia như
Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử, San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử,
A Kỳ Đa Xý Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã
Đề Tử là thầy của ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia
đọa, ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn—“Subhuti, if your mind
set on eating is in the same state as when confronting all (other)
things, and if this uniformity as regards all things equally applies
to (the act of) eating, you can then beg for food and eat it.
Subhuti, if without cutting off carnality, anger and stupidity you
can keep from these (three) evils: if you do not wait for the death
of your body to achieve the oneness of all things; if you do
not wipe out stupidity and love in your quest of enlightenment and
liberation; if you can look into (the underlying nature of) the five
deadly sins to win liberation, with at the same time no idea of either
bondage or freedom; if you give rise to neither the four noble truths
nor their opposites; if you do not hold both the concept of winning
and not winning the holy fruit; if you do not regard yourself as a
worldly or unworldly man, as a saint or not as a saint; if you perfect
all Dharmas while keeping away from the concept of Dharmas, then can
you receive and eat the food. Subhuti, if you neither see the
Buddha nor hear the Dharma; if the six heterodox teachers, Purana-kasyapa,
Maskari-gosaliputra, Yanjaya-vairatiputra, Ajita-kesakambala, Kakuda-katyayana
and Nirgrantha-jnatiputra are regarded impartially as your own teachers
and if, when they induce leavers of home into heterodoxy, you also
fall with the latter; then you can take away the food and eat it.
·
Tu Bồ Đề! Nếu ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác,
ở nơi tám nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, ngài được
vô tránh tam muội, tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những
người thí cho ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho ngàiđọa
vào ba đường ác, ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, ngài cùng
với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng
sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào
số chúng Tăng, hoàn toàn không được diệt độ, nếu ngài được như thế
mới nên lấy món ăn—If you are (unprejudiced about) falling into heresy
and regard yourself as not reaching the other shore (of enlightenment);
if you (are unprejudiced about) the eight sad conditions and regard
yourself as not free from them; if you (are unprejudiced about) defilements
and relinquish the concept of pure living; if when you realize samadhi
in which there is absence of debate or disputation, all living beings
also achieve it; if your donors of food are not regarded (with partiality)
as (cultivating) the field of blessedness; if those making offerings
to you (are partially looked on as also) falling into the three evil
realms of existence; if you (impartially regard demons as your companions
without differentiating between them as well as between other forms
of defilement; if you are discontented with all living beings, defame
the Buddha, break the law (Dharma), do not attain the holy rank, and
fail to win liberation; then you can take away the food and eat it.
(III) Những
lời Phật dạy về Khất Thực trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings
on “Begging” in the Dharmapada Sutra:
1)
Chỉ mang bình khất thực, đâu phải là Tỳ kheo! Chỉ làm nghi
thức tôn giáo, cũng chẳng Tỳ Kheo vậy!—A man who only asks others
for alms is not a mendicant! Not even if he has professed the whole
Law (Dharmapada 266).
2)
Bỏ thiện và bỏ ác, chuyên tu hạnh thanh tịnh, lấy “biết” mà
ở đời, mới thật là Tỳ Kheo—A man who has transcended both good and
evil; who follows the whole code of morality; who lives with understanding
in this world, is indeed called a bhikshu (Dharmapada 267).
Khất
Thực Bình Đẳng: The impartiality of alms-begging—See Khất
Thực (B).
Khất
Thực Quá Duyên: Along the way to beg for food to create
opportunities to convert the people.
Khất
Thực Tứ Phân: Bốn phần khất thực: cho bạn đồng tu, cho
kẻ nghèo nàn, cho ma đói, và cho mình—The four division of the mendicant’s
dole: to provide for fellow religionists, the poor, the hungry spirits
and self.
Khật
Khùng: Rather mad—Silly—Foolosh.
Khấu
Đầu: To bow down to the ground.
Khấu
Giảm: To diminish—To deduct.
Khấu
Tạ: To bow one’s thanks to someone.
Khẩu:
Mukkha (p)—Mukha (skt)—Mouth (the organ of speech).
Khẩu
Ấn: The mouth sign.
Khẩu
Đầu Thiền: Đây là phương pháp buông xả hơn là thiền, hành
giả tùy thuộc vào sự hướng dẫn của người khác chứ không có khả năng
tự vào thiền—Mouth meditation is a mode of relaxation rather than
meditation, in which cultivator depends on the leading of others,
inability to enter into personal meditation.
Khẩu
Hòa: Harmony of mouths or voices—Unanimous approval.
Khẩu
Khí: Manner of speaking.
Khẩu
Luân: The wheel of the mouth—Bánh xe chánh pháp hay những
lời giáo huấn của Đức Phật truyền đi khắp nơi phá tan phiền não—The
wheel of true teaching. Buddha’s teaching rolling on everywhere, like
a chariot-wheel, destroying misery.
Khẩu
Mật: Khẩu mật là một trong tam mật (thân, khẩu, ý)—The
mystic of the mouth (secret or magical words), one of the three mystics.
The other two are the mystic of the body and the mystic of the mind.
Khẩu
Nghiệp: Vaca-kamman (p)—Vaca-karman (skt)—An act performed
by speech—Khẩu nghiệp là một trong tam nghiệp. Hai nghiệp còn lại
là thân nghiệp và ý nghiệp—Karma of the mouth is one of the three
karmas. The other two are karma of the body and of the mind.
(A) Nghĩa
của khẩu nghiệp—The meanings of Karma of the mouth: Nghiệp nơi miệng,
một trong ba nghiệp. Hai nghiệp kia là thân nghiệp và ý nghiệp. Theo
lời Phật dạy thì cái quả báo của khẩu nghiệp còn nhiều hơn quả báo
của thân nghiệp và ý nghiệp, vì ý đã khởi lên nhưng chưa bày ra ngoài,
chứ còn lời vừa buông ra thì liền được nghe biết ngay. Dùng thân làm
ác còn có khi bị ngăn cản, chỉ sợ cái miệng mở ra buông lời vọng ngữ.
Ý vừa khởi ác, thân chưa hành động trợ ác, mà miệng đã thốt ngay ra
lời hung ác rồi. Cái thân chưa giết hại người mà miệng đã thốt ra
lời hăm dọa. Ý vừa muốn chưởi rủa hay hủy báng, thân chưa lộ bày ra
hành động cử chỉ hung hăng thì cái miệng đã thốt ra lời nguyền
rủa, dọa nạt rồi. Miệng chính là cửa ngõ của tất cả oán họa, là tội
báo nơi chốn a tỳ địa ngục, là lò thiêu to lớn đốt cháy hết bao nhiêu
công đức. Chính vì thế mà cổ nhân thường khuyên đời rằng: “Bệnh tùng
khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất,” hay bệnh cũng từ nơi cửa miệng mà
họa cũng từ nơi cửa miệng. Nói lời ác, ắt sẽ bị ác báo; nói lời thiện,
ắt sẽ được thiện báo. Nếu bạn nói tốt người,bạn sẽ được người nói
tốt; nếu bạn phỉ báng mạ lỵ người, bạn sẽ bị người phỉ báng mạ lỵ,
đó là lẽ tất nhiên, nhân nào quả nấy. Chúng ta phải luôn nhớ rằng
“nhân quả báo ứng không sai,” mà từ đó can đảm nhận trách nhiệm sữa
sai những việc mình làm bằng cách tu tập hầu từ từ tiêu trừ
nghiệp tội, chớ đừng bao giờ trách trời oán người—The work of the
mouth—Karma of the mouth (talk, speech)—One of the three karma. The
others are karma of the body (thân nghiệp) and karma of thought (ý
nghiệp). According to the Buddha’s teachings, the karmic consequences
of speech karma are much greater than the karmic consequences of the
mind and the body karma because when thoughts arise, they are not
yet apparent to everyone; however, as soon as words are spoken, they
will be heard immediately. Using the body to commit evil can sometimes
be impeded. The thing that should be feared is false words that
come out of a mouth. As soon as a wicked thought arises, the body
has not supported the evil thought, but the speech had already blurted
out vicious slanders. The body hasn’t time to kill, but the mind already
made the threats, the mind just wanted to insult, belittle, or ridicule
someone, the body has not carried out any drastic actions, but the
speech is already rampant in its malicious verbal abuse, etc. The
mouth is the gate and door to all hatred and revenge; it is the karmic
retribution of of the Avichi Hell; it is also the great burning oven
destroying all of one's virtues and merits. Therefore, ancients
always reminded people: “Diseases are from the mouth, and calamities
are also from the mouth.” If wickedness is spoken, then one will suffer
unwholesome karmic retributions; if goodness is spoken, then one will
reap the wholesome karmic retributions. If you praise others, you
shall be praised. If you insult others, you shall be insulted. It’s
natural that what you sow is what you reap. We should always
remember that the “theory of karmic retributions” is flawless, and
then courageously take responsibility by cultivating so karmic
transgressions will be eliminated gradually, and never blame Heaven
nor blaming others.
(B) Cổ
đức và Thánh nhân có dạy về chín loại nghiệp báo của khẩu nghiệp như
sau—Ancients and Saintly beings have taught about nine kinds
of karma of the mouth as follows:
1)
Miệng niệm hồng danh chư Phật cũng như nhả ra châu ngọc, sẽ
quả báo sanh về cõi Trời hay cõi Tịnh Độ của chư Phật: Mouth chanting
Buddha Recitation or any Buddha is like excreting precious jewels
and gemstones and will have the consequence of being born in Heaven
or the Buddhas’ Purelands.
2)
Miệng nói ra lời lành cũng như phun ra mùi hương thơm, ắt sẽ
được quả báo mình cũng được người nói tốt lành như vậy: Mouth speaking
good and wholesomely is like praying exquisite fragrances and one
will attain all that was said to people.
3)
Miệng nói ra lời giáo hóa đúng theo chánh pháp, cũng như phóng
ra hào quang ánh sáng phá trừ được cái mê tối cho người và cho mình:
Mouth encouraging, teaching, and aiding people is like emitting beautiful
lights, destroying the false and ignorant speech and dark minds for
others and for self.
4)
Miệng nói ra lời thành thật cũng như cấp cho người lạnh lụa
tốt cho họ được ấm áp thoải mái: Mouth speaking truths and honesty
is like using valuable velvets to give warmth to those who are cold.
5)
Miệng nói ra lời vô ích cũng như nhai nhai mạt cưa, phí sức
chứ không ích lợi gì cho mình cho người. Nói cách khác, cái gì không
hay không tốt cho người, tốt hơn là đừng nói: Mouth speaking without
benefits for self or others is like chewing on sawdust; it is like
so much better to be quiet and save energy. In other words, if you
don’t have anything nice to say, it is best not to say anything at
all.
6)
Miệng nói ra lời dối trá, cũng như lấy giấy che miệng giếng,
ắt sẽ làm hại người đi đường, bước lầm mà té xuống: Mouth lying to
ridicule others is like using paper as a cover for a well, killing
travelers who fall into the well because they were not aware, or setting
traps to hurt and murder others.
7)
Miệng nói ra các lời trêu cợt bất nhã, cũng như cầm gươm đao
quơ múa loạn xã nơi kẻ chợ, thế nào cũng có người bị quơ trúng: Mouth
joking and poking fun is like using words and daggers to wave in the
market place, someone is bound to get hurt or die as a result.
8)
Miệng nói ra lời độc ác cũng như phun ra hơi thúi, ắt sẽ bị
quả báo mình cũng sẽ bị xấu ác y như các điều mà mình đã thốt ra để
làm tổn hại người vậy: Mouth speaking wickedness, immorality, and
evil is like spitting foul odors and must endure evil consequences
equal to what was said.
9)
Miệng nói ra các lời dơ dáy bẩn thỉu cũng như phun ra dòi tửa,
ắt sẽ bị quả báo chịu khổ nơi hai đường ác đạo là địa ngục và súc
sanh: Mouth speaking vulgarly, crudely, and uncleanly is like spitting
out worms and maggots and will face the consequences of hell and animal
life.
(C) Phật
tử chơn thuần nên luôn nhớ và phát triển tâm biết sợ và gìn giữ khẩu
nghiệp của mình—Sincere Buddhists should always remember to develop
the mind to be frightened and then try to guard our speech-karma:
1)
Cùng một lời nói mà khiến cho người trọn đời yêu mến mình;
cũng cùng một lời nói mà khiến cho người ghét hận, oán thù mình trọn
kiếp: A saying can lead people to love and respect you for the rest
of your life; also a saying can lead people to hate, despite, and
become an enemy for an entire life.
2)
Cùng một lời nói mà khiến cho nên nhà nên cửa; cũng cùng một
lời nói mà khiến cho tán gia bại sản: A saying can lead to a prosperous
and successful life; also a saying can lead to the loss of all wealth
and possessions.
3)
Cùng một lời nói mà khiến cho nên giang sơn sự nghiệp; cũng
cùng một lời nói mà khiến cho quốc phá gia vong: A saying can lead
to a greatly enduring nation; also a saying can lead to the loss and
devastation of a nation.
(D) Theo
Long Thơ Tịnh Độ, cư sĩ Long Thơ nói—According to the Lung-Shu’s Pureland
Buddhism Commentary, lay follower Lung Shu said:
1)
Thiện khẩu nghiệp—Wholesome speech-karma:
a)
Miệng niệm Phật, như nhả châu ngọc; sẽ được cái quả báo sanh
về cõi trời hay nước Phật (khẩu tụng Phật danh, như thổ châu ngọc;
Thiên đường, Phật quốc chi báo). Các bậc Thánh Hiền xưa, lời nói ra
như phun châu nhả ngọc, để tiếng thơm muôn đời. Còn chúng ta ngày
nay, nếu như không nói ra được các lời tốt đẹp ấy, thà là làm thinh,
quyết không nói những lời ác độc và vô bổ: Mouth chanting Buddha Recitation
is like excreting precious jewels and gemstones and will have the
consequence of being born in Heavens or the Buddhas’ Purelands. The
spoken words of saints, sages, and enlightened beings of the past
were like gems and jewels, leaving behind much love, esteem, and respect
from countless people for thousands of years into the future. As for
us nowadays, if we cannot speak words like jewels and gems, then it
is best to remain quiet, be determined not to toss out words that
are wicked and useless.
b)
Miệng nói ra việc lành như phun ra mùi hương thơm; sẽ được
cùng tốt y như điều mình khen nói cho người vậy (khẩu thuyết thiện
sự, như phún thanh hương; xứng nhơn trường đồng): Mouth speaking good
and wholesomely is like spraying exquisite fragrances and one will
attain all that was said to people.
c)
Miệng thốt ra lời giáo hóa, dạy dỗ cho người, như phóng
ra ánh sáng đẹp đẽ, phá trừ hết ngu si, tăm tối của tà ma ngoại đạo
(khẩu tuyên lưu giáo hóa, như phóng quang minh, phá nhơn mê ngữ):
Mouth encouraging, teaching, and aiding people is like emitting beautiful
lights, destroying the false and ignorant speech and dark minds of
the devil and false cultivators.
d)
Miệng thốt ra lời thành thật, như lấy vải lụa quý mà trải ra;
bố thí cho người dùng qua cơn lạnh lẽo thiếu thốn (khẩu ngữ thành
thật, như thơ bố bạch; thiệt tế nhơn dụng): Mouth speaking of truths
and honesty is like using valuable velvets to give warmth to those
who are cold.
2)
Bất thiện khẩu nghiệp—Unwholesome speech-karma:
a)
Miệng nói ra điều không đâu vô ích cho mình và cho người, như
nhai mạc cưa, cây gỗ; chi bằng làm thinh để tỉnh dưỡng tinh thần;
nghĩa là khi không có điều hay lẽ thật để nói, thì cách tốt nhất là
đừng nên nói gì cả (khẩu đàm vô ích, như tước mộc tiết; bất như mặc
dỉ dưỡng khí): Mouth speaking without benefits for self or others
is like chewing on sawdust; it is so much better to be quiet and save
energy. It is to say if you don’t have anything nice to say, it is
best not to say anything at all.
b)
Miệng nói lời dối trá, khinh người, như lấy giấy đậy trên miệng
giếng; hại kẻ đi đường không thấy té xuống chết. Điều nầy cũng giống
như giăng bẫy giết người vậy (khẩu ngôn khi trá, như mông hảm tỉnh;
hành tắc ngộ nhơn): Mouth lying to ridicule others is like using paper
as a cover for a well, killing travelers who fall into the well because
they were not aware. It is similar to setting traps to hurt and murder
others.
c)
Miệng nói lời trêu ghẹo, trửng giởn, như múa đao kiếm nơi kẻ
chợ, thế nào cũng cò người bị thương hay chết (khẩu háo hí ngược,
như trạo đao kiếm; hữu thời thương nhơn): Mouth joking and poking
fun is like using swords and daggers to wave in the market place,
someone is bound to get hurt or die as the result.
d)
Miệng nói lời ác độc, vô luân, như phun hơi thúi; sẽ chịu quả
báo xấu ngang bằng với lời mình đã nói cho người: Mouth speaking of
wickedness, immorality, and evil is like spitting foul odors and must
endure evil consequences equal to what was said.
e)
Miệng nói lời dơ dáy, bẩn thỉu, như phun ra dòi tửa; sẽ bị
quả báo nơi tam đồ ác đạo từ địa ngục, ngạ quỷ, đến súc sanh (khẩu
đạo uế ngữ, như lưu thơ trùng; địa ngục súc sanh chi đạo): Mouth
speaking vulgarly, foully, uncleanly is like spitting out worms and
maggots and will face the consequences of the three evil paths from
hells, hungry ghosts to animals.
Khẩu
Nhẫn: Patience of the mouth—Uttering no rebuke under insult
or persecution—Một trong tam nhẫn. Hai nhẫn kia là thân nhẫn và ý
nhẫn—One of the three patiences. The other two are patience of the
body (thân nhẫn) and patience of the mind (ý nhẫn).
Khẩu
Phật Tâm Xà: Miệng thì nói lời của Phật mà tâm lại là tâm
của loài rắn độc—A Buddha’s mouth, but a serpent’s heart—Good
words but wicked heart.
Khẩu
Tâm Như Nhứt: Sincere.
Khẩu
Thị Tâm Phi: Insincere.
Khẩu
Truyền: Oral transmission.
Khẩu
Tứ: The four evils of the mouth (lying, double tongue,
ill words and exaggeration).
Khẩu
Xà Tâm Phật: Barking dogs seldom bite.
Khẩu
Xưng: Invocation.
Khẩu
Xưng Tam Muội: Tam muội với tâm an tỉnh niệm hồng danh
Đức Phật A Di Đà hay bất cứ vị Phật nào—The samadhi in which a quiet
heart the individual repeats the name of Amitabha or any Buddha—Samadhi
attained by repetition of the name of a Buddha.
Khe
Khắt: Austere—Severe—Strict—Stern
Khen:
To congratulate—To compliment—To praise.
Khen
Chê: Praise and Blame—Điều tự nhiên là ta hãnh diện khi
được khen và buồn phiền khi bị chê—It is natural to be happy when
praised and to be depressed when blamed.
(I)
Ý nghĩa của Khen và Chê—The meanings of Praise and Blame:
1)
Khen—Praise:
a)
Khen nếu đáng giá thì nghe rất bùi tai. Nếu không đáng giá,
như trường hợp nịnh bợ, tuy thích thú mà thực chất là lừa bịp. Tuy
nhiên, chúng chỉ là những vang vọng, không tạo ảnh hưởng gì nếu chúng
không đến tai chúng ta:Praise, if worthy, is pleasing to the ears.
If unworthy, as in the case of flattery, though pleasing, it is deceptive.
However, they all are sounds which will produce no effect if they
do not reach our ears.
·
Từ quan điểm trần thế, lời khen có thể đem lại đặc ân
đặc lợi hay đặc quyền: From a worldly standpoint, a word of praise
may bring forth special grace, special benefit, or special authority.
·
Tuy nhiên, bậc đại trượng phu không cần đến nịnh bợ,
và cũng không mong muốn được người khác nịnh bợ. Cái gì đáng khen,
họ khen, không đố kỵ. Cái gì đáng trách, họ trách không khinh thường
mà vì muốn sửa đổi người: The wise man do not resort to flattery;
nor do they wish to be flattered by others. The praiseworthy, they
praise without being envious. The blameworthy, they blame not contemptuously
but out of compassion with the object of reforming others.
b)
Tóm lại, những gì đáng tán tụng nên tán tụng một cách nghiêm
chỉnh—In summary, the praiseworthy, one should praise seriousnessly.
2)
Chê—Blame:
a)
Đa phần phàm phu chỉ chực tìm cái xấu mà không bao giờ tìm
cái tốt và cái đẹp của người khác: Most of ordinary people are prone
to seek the ugliness in others but not the good and beautiful.
b)
Đức Phật dạy: “Người nói nhiều bị chê, người nói ít bị chê,
người im lặng cũng bị chê. Trong thế giới nầy không ai là người không
bị chê.” Trên thế gian nầy, trừ Đức Phật ra, không có ai hoàn toàn
tốt, mà cũng không ai hoàn toàn xấu—The Buddha says: “Those who speak
much are blamed, those who speak little are blamed, and those who
are silent are also blamed. In this world there is none who is not
blamed.” In this world, except the Buddha, nobody is perfectly
good and nobody is totally bad.
c)
Chê dường như là một di sản của con người, vì con người ta
có thể phục vụ và tận tình giúp đở người khác bằng tất cả tấm lòng;
tuy nhiên những người được giúp đở chẳng những lại quay sang tìm lỗi
của người đã từng mang công lãnh nợ để cứu giúp mình, mà còn vui mừng
trước sự suy sụp của người ấy. Một lần Đức Phật được một vị Bà La
Môn mời đến nhà để cúng dường. Khi Đức Phật đến, thay vì làm cho Ngài
vui, hắn đã thóa mạ Đức Phật bằng những lời hết sức thô tục. Đức Phật
hỏi: “Này ông Bà La Môn, có phải khách đến thăm nhà ông không?” Người
Bà La Môn trả lời: “Phải.” Đức Phật nói: “Ông làm gì khi khách đến?”
Người Bà La Môn nói: “Ồ! Tôi sửa soạn một bữa tiệc thịnh soạn.” Đức
Phật lại hỏi: “Nhưng nếu khách không ăn được thì ông phải làm sao
với những thực vật ấy?” Người Bà La Môn đáp: “Thì chúng tôi phải vui
vẻ chia nhau ăn.” Đức Phật nói: “Tốt! Này ông bạn Bà La Môn, ông mời
ta đến đây để cúng dường mà ông lại đối xử với ta bằng những lời thóa
mạ. Ta không nhận chút nào cả. Làm ơn nhận lại.” Qua câu chuyện trên,
chúng ta thấy Đức Phật từ bi, không trả thù trả oán. Ngài khuyến khích:
“Hận thù không thể chấm dứt được hận thù mà chỉ có tình thương mới
chấm dứt được hận thù.”—Blame seems to be a universal legacy of people,
for one may serve and help others to the best of one’s ability; however
latter, those very persons whom one has helped will not only find
fault with him who once incurred debts or sold property to save them;
but they will also rejoice in his downfall. On one occasion, the Budha
was invited by a brahmin to his house for alms. When the Buddha arrived
at his house, instead of entertaining the Buddha, he poured a torrent
of abuse with the filthiest words. The Buddha politely inquired, “Do
visitors come to your house, good Brahmin?” The brahmin said: “Yes.”
The Buddha asked: “What do you do when the visitors come?” The brahmin
replied: “Oh, we prepare a sumptuous feast.” If they don’t eat the
food you serve, then what would you do?” The brahmin said: “We gladly
partake of it.” The Buddha then said: “Well, good Brahmin, you have
invited me for alms and you have entertained me with abuse. I accept
nothing. Please take it back.” Through this story, we see that the
Buddha did not retaliate. The Buddha exhorts: “Hatreds do not cease
through hatreds but through love alone they cease.”
d)
Trong lịch sử, không có một vị đạo sư nào được hết sức khen
ngợi mà cũng bị kịch liệt công kích, chửi rủa và chê trách như Đức
Phật. Khi Đức Phật đến một xóm Bà La Môn để hóa duyên khất thực, Ngài
đã bị buộc tội giết một phụ nữ với sự giúp đở của các đệ tử của Ngài.
Những người không phải là Phật tử tố cáo và công kích Ngài đến nỗi
ngài A Nan phải thưa với Phật là nên dời đi làng khác. Nhân đó, Đức
Phật bảo A Nan: “Này A Nan! Nếu những người dân làng ấy cũng ngược
đãi chúng ta thì sao?” Ông A Nan đáp: “Thưa Thế Tôn, thì chúng ta
lại di chuyển tới một làng khác nữa.” Đức Phật bèn nhắc ngài A Nan:
“Này A Nan! Nếu cứ làm như vậy thì tất cả xứ Ấn Độ này cũng không
có chỗ cho chúng ta dung thân. Hãy kiên nhẫn. Những ngược đãi, chửi
mắng đó sẽ tự động chấm dứt.”—In history, there was no teacher so
highly praised as the Buddha and so severely criticized, reviled and
blamed as the Buddha. When the Buddha arrived at a Brahman village
to beg for alms, non-Buddhists accused the Buddha and his disciples
of murdering a woman, and they criticized the Buddha to such an extent
that the Venerable Ananda appealed to the Buddha to leave for another
village. The Buddha said: “How, Ananda, if those villagers also
abuse us?” Ananda replied: “Well then, Lord, we will proceed to another
village.” The Buddha then reminded Ananda: “Then, Ananda, the whole
of India will have no place for us. Be patient. These abuses will
automatically cease.”
e)
Đức Phật dạy: “Người tự giữ được im lặng trước những lời tấn
công chửi bới và lạm dụng, người đó đang ở ngay tại Niết Bàn dù rằng
chưa đạt đượt Niết Bàn thực sư.”—The Buddha says: “He who can keep
silent himself when attacked, insulted and abused, he is in
the presence of Nirvana although he has not yet attained Nirvana.”
Khen
Ngợi: See Khen.
Khen
Tịnh Yếm Thiền: Khen Tịnh Độ chê Thiền tông (đây là thái
độ của người chấp vào chỉ một pháp môn)—To praise the Pure Land, but
degenerate Zen (this is the attitude of someone who is so attached
to one dharma-door or method).
Khéo:
Skilful—Skilled.
Khéo
Léo: See Khéo.
Khéo
Nói: Good talker.
Khép:
To close.
Khép
Tội: To charge someone with a crime.
Khế:
Khế ước hay sự đồng ý—To agree with.
Khế
Hội: To meet—To rally to—To unite in the right or middle
path, and not in either extreme.
Khế
Kinh: Kinh văn khế hợp với căn cơ của con người, với cái
lý của pháp (các khế kinh mà Phật thuyết hợp với căn cơ của mọi hạng
người, được ngài A Nan nhớ và trùng tuyên lại trong lần kết tập kinh
điển đầu tiên)—The sutras, because they tally with the mind
of men and the laws of nature.
Khế
Ngộ: Spiritual connection—Trạng thái tu hành cao trong
đó hành giả cảm ứng đạo giao với chư Phật và chư Bồ Tát và ngộ được
chơn tâm của mình—A high state of cultivation in which a cultivator
is able to establish a special connection with the Buddhas and Bodhisattvas,
and to realize own True Nature (which is the Buddha Nature all sentient
beings possess).
Khế
Phạm: The covenants and rules, or standard contracts. ,
i.e. the sutras—See Khế Kinh.
Khế
Tuyến: See Khế Kinh.
Khệ
Nệ: To struggle with a heavy thing.
Khi
Cõi Hư Không Hết Thì Nguyện Tôi Hết: Đây là lời nguyện
của Phổ Hiền Bồ Tát—Samantabhadra Bodhisattva vowed: “When the realm
of empty space is exhausted, my vow will be exhausted.”
Khi
Dễ: To despite (scorn) someone.
Khi
Mạn: To scorn—To contemn—To despite.
Khi
Sướng Lúc Khổ: Happiness and siffering.
Khi
Vui Lúc Buồn: Joy and sadness.
Khí:
Khí cụ—A vessel—Utensil—Tool.
Khí
Giới:
1)
Vũ Khí: Weapon.
2)
Thế giới:
·
Quốc độ là khí vật thế gian chứa đựng chúng sanh—The
world as a vessel containing countries and peoples.
·
Thế giới vật chất—The material world.
·
Vạn hữu giới—A realm of things.
Khí
Giới Thuyết: Như Lai dùng thần lực bất khả tư nghì có thể
thuyết pháp cho ngay cả thế giới của loài cây cỏ nghe được diệu pháp
(cây Bồ Đề làm Phật sự quan biểu tượng giác ngộ)—The supernatural
power of the Buddha to make the material realm (trees and the like)
proclaim his truth (Bodhi-tree has been doing Buddha work by showing
to all beings as a symbol of enlightenment).
Khí
Lượng: Khả năng chứa đựng—Capacity.
Khí
Thế Gian: See Khí Giới (2).
Khí
Thế Giới: See Khí Giới (2).
Khía
Cạnh: Aspect.
Khía
Cạnh Quan Trọng: Important aspects.
Khích:
Kẻ nứt—A crack.
Khích
Bác: To find fault with—To criticize.
Khích
Du Trần: Còn gọi là Nhật Quang Trần, hay là bụi trần bay
trong không trung, mắt trần có thể nhìn thấy được khi có tia nắng
chiếu vào—Motes in a sunbeam—A minute particle, visible to the physical
eyes under the sunlight.
Khích
Khí La: Khakkhara (skt)—Cây tích trượng của nhà sư—A mendicant’s
staff; a monk’s staff.
Khích
Lệ: To encourage—To stimulate—To incite—To excite.
Khiêm
Cung: Modest and Respectful.
Khiêm
Nhã: Humble and courteous.
Khiêm
Tốn: Humble—Modest—Unpresumptuous—Humility—Khiêm tốn là
một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà những
cao ngạo cũng như các tật xấu khác đều biến mất—Humility is one of
the most important entrances to the great enlightenment; for with
it, haughtiness and all other vicious ill will disappear.
Khiếm:
1)
Thiếu nợ: To owe.
2)
Nợ: Debt.
Khiếm
Diện: Absent.
Khiếm
Khuyết: Insufficient—deficient.
Khiếm
Nhã: Uncivil—Discourteous—Rude—Impolite—Immodest.
Khiên:
1)
Ảnh hưởng: To influence—To implicate.
2)
Kéo đi—To drag—To haul.
Khiên
Dẫn Nhân: Sarvatraga-hetu (skt)—Nhân ảnh hưởng tất cả mọi
hành động, như tà kiến—Omnipresent causes, like false views which
affect every act.
Khiển:
Điều khiển hay sai khiển—To send, or to drive away.
Khiển
Hoán: Vẫy chào (Đức Phật A Di Đà vẫy chào Đức Thích Ca
Mâu Ni khi ngài từ cõi Ta Bà cỡi thuyền nguyện đi đến cõi Cực Lạc)—To
send and to call (talk of Amitabha Buddha’s welcome of Sakyamuni Buddha
in the Pure Land).
Khiển
Trách: To blame—To reproach—To reprimand—To scold—To rebuke
Khiếp
Nhược: Cowardice.
Khiếp
Sợ: To be frightened—To be afraid.
Khiết:
Tinh khiết—Pure—Clean.
Khiết
Trai: Thanh tịnh bằng cách dứt bỏ ruợu thịt—To purify a
monastery—To cleanse away all immortality and impropriety—A pure establishment.
Khiêu
Khích: To provoke
Khiếu:
To call—To cry.
Khiếu
Hoán: Raurava (skt).
1)
La khóc: To cry—To wail.
2)
Khiếu Hoán Địa ngục: Lâm Cát—Đề Khốc Khiếu Hoán—Địa ngục thứ
tư và thứ năm (đại khiếu hoán) trong bát nhiệt địa ngục, nơi tội nhơn
bị cực khổ không chịu được nên kêu gào khóc lóc—The wailing hells,
the fourth and the fifth of the eight hot hells, where the inmates
cry aloud on account of pain.
Khiếu
Nại: To complain.
Khinh:
1)
Khinh rẻ: To disdain—To scorn—To despite—To slight.
2)
Nhẹ: Light.
Khinh
An: Prasrabdhi-bodhyanga (skt).
1)
Khinh an là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác,
vì nhờ đó mà hành vi của chúng ta dễ dàng được kiểm soát—Not oppressed—At
ease—Entrustment is one of the most important entrances to the great
enlightenment; for with it, conduct is at ease already managed.
2)
Một trong thất giác chi hay thất bồ đề phần: One of the seven
limbs of enlightenment, or bodhi-shares—For more information, please
see Thất Bồ Đề Phần (B) (4) in Vietnamese-English Section.
Khinh
Bạc: Thoughtless—Careless.
Khinh
Bỉ: To despite—To disdain—To scorn.
Khinh
Chê: To disdain—To scorn—To slander—To deprecate.
Khinh
Khỉnh: Disdainful—Scornful
Khinh
Lờn: Disrespect and over-familiarity.
Khinh
Mạn: Xem rẻ người nào—To slight—To look down—The pride
of thinking lightly of others.
Khinh
Mao: Các vị Bồ Tát ở trong Thập Địa được ví nhẹ như chiếc
lông. Các vị nầy trong Phật đạo lên xuống trong các đường cứu độ chúng
sanh không cố định—As light as a hair, as unstable as a feather (talk
of Bodhisattvas).
Khinh
Miệt: To scorn—To disdain—To despite—To slight.
Khinh
Suất: Unattentive—Thoughtless—Unthinking.
Khinh
Thân: Khả năng bay bỗng—Levitation.
Khinh
Thường: To feel contempt for—Contemptuous of something.
Khinh
Trọng: Nhẹ và nặng—Light and heavy.
Khoù:
Difficult.
Khó
Bảo: Disobedient
Khó
Chịu: Unendurable—Intolerable (conduct)—Insufferable (person)--Uncomfortable.
Khó
Coi: Shaking.
Khó
Dạy: Disobedient—Undisciplined—Unmanageable.
Khó
Hiểu: Incomprehensible—Difficult to understand.
Khó
Khăn: Difficulties.
Khó
Khăn Trong Cuộc Đời: Life’s problems.
Khó
Lắm: Very difficult.
Khó
Lòng: See Khó.
Khó
Nghe: Difficult to hear.
Khó
Nhọc: Hard—Laborious.
Khó
Tả Nên Lời: It is difficult to express in words.
Khó
Tánh: Hard to please.
Khó
Thể Nhập: Dup-pativijjho (p)—Difficult to penetrate.
Khó
Tin: Difficult to believe.
Khoù
Xử: To be in a dilemma.
Khoa:
1)
Bước ngang qua: To straddle—To Bestride—To pass over.
2)
Khoa thi: An examination.
3)
Khoa trương: To boast about.
4)
Lớp học, bài học, hay cuộc thi—A class, a lesson.
Khoa
Đại: Khoa trương—To brag—To boast about oneself—To show
off.
Khoa Nghi: Phép
tắc của văn kinh (kinh văn được sắp đặt theo một thể loại nào đó cho
dễ đọc và dễ thâm nhập)—The rule of the lesson to make it easier for
the readers (to understand).
Khoa
Tiết: Danh mục do tông Thiên Thai thành lập, căn cứ theo
ý của Kinh Pháp Hoa mà định các ý trong các kinh khác—To interpret
one sutra by another a T’ien-T’ai term, e.g. interpreting all other
sutras in the ligh of the Lotus sutra.
Khoa
Văn: Phân chia một quyển sách hay một bài học thành đoạn
(Ngài Đạo An đời Tần đã áp dụng sự phân chia nầy vào kinh điển)—A
set portion of a book, a lesson (started from T’ao-An).
Khoác
Lác: To brag—To boast about.
Khoái:
1)
Vui sướng: Glad—Joyful.
2)
Nhanh chóng: Quick.
Khoái
Cảm: Pleasant feeling.
Khoái
Khẩu: Pleasant to taste.
Khoái
Lạc: Pleasure—Delight—Glad—Joyful.
Khoái
Lạc Nhục Dục: Sensual delight
Khoái
Lạc Vương: Sudhira, the quick-eyed king, highly intelligent,
who could see through a wall 40 miles away, yet who took out his eyes
to give alms.
Khoái
Mục Vương: Sudhira (skt)—Vị vua có cặp mắt lanh lợi, thật
thông minh, có thể nhìn thấu tường cách xa 40 dậm dù đã móc mắt ra
bố thí—The quick-eyed king, or highly intelligent, who could see through
a wall of 40 miles away, yet who took out his eyes to give as alms.
Khoái
Tâm: Pleased—Content.
Khoái
Ý: Satisfied.
Khoan
Dung: To tolerate—Tolerance (n)
Khoan
Thai: Slowly.
Khoản
Đãi: To entertain.
Khoáng:
1)
Khoáng chất: Minerals.
2)
Khoáng dã: Wilderness—Wild—Prairie.
3)
Khoáng đãng: Vast—Immense—Spacious—Extensive.
4)
Lâu xa hay rất dài: Far—Long—Wide.
Khoáng
Dã: See Khoáng (2).
Khoáng
Đãng: See Khoáng (3).
Khoáng
Kiếp: Nhấn mạnh về độ dài của một kiếp lâu xa về quá khứ
(nhấn mạnh về độ dài của một kiếp lâu xa về tương lai thì gọi là “vĩnh
kiếp”)—A past kalpa; the part of a kalpa that is past.
Khoảnh
Khắc Của Sự Sống: An instance of life—Theo Tăng sĩ người
Đức Nyanatiloka kể lại lời của Visuddhi-Magga như sau: “Các thực thể
chỉ có một khoảnh khắc rất ngắn để sống, ngang với thời gian của một
tia chớp. Khi thời gian đó kết thúc thì thực thể ấy tiêu tan. Thế
là thực thể của quá khứ đã chết, không còn đang sống và cũng không
sống lại được trong hiện tại hay tương lai. Thực thể trong hiện tại
không sống trong quá khứ, nó đang sống trong khoảng khắc hiện tại,
nhưng cũng không sống trong tương lai không sống trong quá khứ hay
hiện tại, nó chỉ sống về sau nầy. Một thực thể trong tương lai—A German
monk named Nyanatiloka, reiterated the momentariness of existence
from Asuddhi-Magga as follows: “All beings have only a very short
instant to live, only so long as a moment of a slash of a lightning.
When this is extinguished, the being is also extinguished. The beings
of the last moment is now no longer living, and does not live now
or will not live again later. The being of the present moment did
not live previously, lives just now, but later will not live any more.
The being of the future has not lived yet in the past, does not yet
lived now, and will only live later.”
Khoát:
1)
Mở ra: To open.
2)
Phóng khoáng (người): Well-off—Liberal.
3)
Rộng rãi: Broad—Wide—Spacious.
4)
Thông minh: Intelligent.
Khoát
Tất Đa: Khusta (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học
Từ Điển, Khoát Tất Đa là một khu vực thuộc vương quốc cổ Tukhara,
có lẽ bây giờ là miền nam của Talikhan. Tuy nhiên, Khoát Tất Đa cũng
có thể là vùng Khost ở A Phú Hãn, thuộc tây nam Peshawar—According
to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Khusta,
a district of ancient Tukhara, probably the region south of Talikhan.
However, it may be Khost in Afghanistan, south-west of Peshawar.
Khóc:
To shed tears—To weep.
Khóc
Than: Weeping and lamenting.
Khóc
Thầm: To cry in silence
Khoe
Danh: To brag of one’s honor
Khoe
Tài: To brag of one’s ability—To show off one’s ability
Khỏe
Mạnh: Healthy
Khởi:
Utpada (skt).
1)
Khởi hành: Bắt đầu—To start—To begin.
2)
Khởi lên: To rise—Uprising.
Khởi
Chỉ Xứ: Nơi đại tiểu tiện—A latrine—Cesspool.
Khởi
Dậy: To rise.
Khởi
Diệt: Rise and extinction—Birth and death—Beginning and
end.
Khởi
Giả: Người khởi lên suy nghĩ rằng tự mình khởi lên tội
phúc (đây là một trong những ngã kiến)—One who begins, or starts;
one who thinks he creates his own welfare or otherwise.
Khởi
Hành: Bắt đầu cuộc sống sắp tới (nghĩa là bắt đầu tu tập
tạo thiện nghiệp cho đời sau)—To start out for the life to come.
Khởi
Lên:
·
Khởi lên: Samutthahati (p)—To rise up.
·
Sự khởi lên: Samutthanam (p)—Rising.
Khởi
Niệm Tà Kiến: To develop a perverse thought.
Khởi
Tận: Bắt đầu và chấm dứt—Beginning and end.
Khởi
Thi Quỷ: Quỷ nhập tràng, tên một loài quỷ khi đọc chú Tỳ
Đà La có khả năng dựng dậy thây ma mới chết để làm hại hay giết chết
người khác—To resurrect a corpse by demonical influence and cause
it to kill another person—To aise the newly dead to slay an enemy.
Khởi
Thỉnh: Thề sự thật, hay đánh thức Thần Thánh hay Tam Bảo
về chứng giám cho lời nói chân thực của mình (tuy nhiên khởi thỉnh
ở đây có nghĩa là “thề nguyền” bị cấm kỵ trong đạo Phật)—To call on
the gods or the Buddhas (as witness to the truth of one’s statements).
Khởi
Tín: Khởi lên niềm tin—The uprise or awakening of faith.
Khởi
Tín Luận: Sraddhhopada-Sastra (skt)—Tên gọi tắt của sách
Đại Thừa Khởi Tín Luận do ngài Mã Minh Bồ Tát biên soạn. Có hai bản
dịch sang Hoa ngữ, thứ nhất là bản dịch của ngài Chân Đế vào năm 554
sau Tây Lịch, bản thứ hai do ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào năm 700
sau Tây Lịch. Bản thứ nhất có lẽ được đại chúng chấp nhận hơn vì Đại
sư Trí Giả, vị tổ thứ tư của tông Thiên Thai cũng là vị thơ ký cho
ngài Chân Đế, và sau được ngài Pháp Tạng biên soạn lời bình giải tiêu
chuẩn, mặc dầu sau nầy chính ông đã giúp cho ngài Thực Xoa Nan Đà
dịch bản thứ nhì. Đại Thừa Khởi Tín Luận là tác phẩm nói về cực lý
của Đại Thừa, giúp cho người đọc nghe khởi lên trong lòng niềm tin
chân chính đối với giáo pháp Đại Thừa. Bộ sách nầy đã được ngài Teitaro
Suzuki dịch sang Anh ngữ vào năm 1900—Awakening of Faith, one of the
earliest remaining Mahayana texts and is attributed to Asvaghosa.
Two translations have been made, one by Paramartha in 554 A.D., another
by Siksananda, around 700 A.D. The first text is more generally accepted,
as Chih-I, the fourth patriarch of T’ien-T’ai was Paramarth’s amanuensis,
and Fa’Tsang made the standard commentary on it, though he had assisted
Siksananda in his translation. It gives the fundamental principles
of Mahayana, and was translated into English by Teitaro Suzuki in
1900, also by T. Richard.
Khởi
Tín Luận Nghĩa Ký: Những bài luận do ngài Pháp tạng tuyển
chọn từ bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch—Selections
of essays on The Awakening of Faith, composed by Fa-Tsang, around
700 A.D.
Khởi
Tín Nhị Môn: Bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận thuyết minh cái
tâm của chúng sanh thì chia ra “tâm chân như môn” và “tâm sinh diệt
môn.” Thuyết minh về bản thể nói về tâm chân như, thuyết minh về sinh
diệt nói về hiện tượng của tâm chúng sanh—Two characteristics of mind
in the Sraddhopada-sastra, as eternal and phenomena.
Khởi
Tử Nhân: See Khởi Thi Quỷ.
Khô:
Decay—Wither.
Khô
Mộc:
1)
Cây khô: Withered timber, decayed, dried-up trees.
2)
Ám chỉ một số nhà tu khổ hạnh Phật giáo, chỉ ngồi thiền, chớ
không bao giờ nằm, nên người ta gọi là “thạch sương khô mộc chúng”—Applied
to a class of ascetic Buddhists, who sat in meditation, never lying
down, like petrified rocks and withered stumps.
Khô
Mộc Đường: Phòng thiền của những nhà sư chẳng bao giờ nằm—The
hall in which “never-lying down” ascetic Buddhists sat in meditation.
Khô
Mộc Thiền: See Khô Mộc (2).
Khố:
Kho—Treasury—Storehouse.
Khố
Luân: Khố Luân là một trung tâm Lạt Ma Giáo tại Mông Cổ,
một thành phố thiêng liêng (cách Trường Thành chừng 600 dậm về phía
bắc bên bờ sông Thổ Lạp. Dân cư tại đây khoảng 30.000 mà hơn phân
nửa là tín đồ của Lạt Ma Giáo. Tại đây có một tòa Phật Đường rất nguy
nga tráng lệ. Vùng nầy được xếp hàng thứ nhì sau Lahsa ở Tây Tạng)—K’urun,
Urga, the Lamaistic centre in Mongolia, the sacred city.
Khổ:
Duhkha (skt)—Đậu Khư—Nạp Khư—Nhạ Khư—Trạng thái khổ não bức bách thân
tâm (tâm duyên vào đối tượng vừa ý thì cảm thấy vui, duyên vào đối
tượng không vừa ý thì cảm thấy khổ). Đức Phật dạy khổ nằm trong nhân,
khổ nằm trong quả, khổ bao trùm cả thời gian, khổ bao trùm cả không
gian, và khổ chi phối cả phàm lẫn Thánh, nghĩa là khổ ở khắp nơi nơi—Bitterness—Unhappiness—Suffering—Pain—Distress—Misery—Difficulty.
The Buddha teaches that suffering is everywhere, suffering is already
enclosed in the cause, suffering from the effect, suffering throughout
time, suffering pervades space, and suffering governs both philistine
and saint.
1)
Khổ nằm trong nhân—Suffering is already enclosed in the cause:
Bồ Tát sợ nhân chúng sanh sợ quả, nghĩa là chúng sanh vì mê mờ nên
chỉ khi nào quả khổ tới mới lo sợ, khi đang gây nhân khổ thì lại không
nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không, nhiều khi lại cho là vui
sướng—It is said that the Bodhisattva fears the cause while the philistine
fears the effect. In fact, human beings do not care about the cause
when doing what they want. They only fear when they have to suffer
from their wrong-doings.
2)
Khổ nằm trong quả—Suffering from the effect: Gây nhân nào gặt
quả nấy, đó là định luật tự nhiên, thế nhưng trên đời có ít người
công nhận như vậy, ngược lại còn than trời trách đất cho những bất
hạnh của họ—We always reap what we have sown. This is a natural law,
but some people do not know it; instead they blame God or deities
for their misfortune.
3)
Khổ bao trùm cả thời gian—Suffering throughout time: Từ vô
thỉ đến nay, cái khổ của chúng sanh chưa bao giờ dứt, đây là một phần
của định luật nhân quả luân hồi (cứ nhân tạo quả, rồi trong quả có
nhân, cứ thế mãi không bao giờ ngừng nghỉ)—Humankind has suffered
from time immemorial till now, because suffering never ceases;
it is part of the law of causality.
4)
Khổ bao trùm cả không gian—Suffering throughout space: Ở đâu
có vô minhthì ở đó có khổ. Vô minh khônh những chỉ bao trùm trong
thế giới nầy mà nó còn trùm khắp vô lượng thế giới—Suffering goes
together with ignorance. Since ignorance is everywhere, in this world
as well as in the innumerable other worlds, sufering also follows
it.
5)
Khổ chi phối cả phàm lẫn Thánh—Suffering governs both philistine
and saint: Chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la phải
khổ sở vô cùng. Loài người bị tham sân si chi phối cũng bị lặn ngụp
trong biển khổ. Chư Thiên cũng không tránh được khổ vì ngũ suy tướng
hiện. Cho đến các hàng Thánh Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, Thanh
Văn, Duyên Giác, vân vân, vì còn mê pháp, nên không tránh khỏi nỗi
khổ biến dịch sinh tử. Xem thế nỗi khổ lớn lao vô cùng. Riêng chỉ
các vị Bồ Tát nhờ lòng đại bi, thường ra vào sinh tử, lấy pháp lục
độ để cứu độ chúng sanh, mà vẫn ở trong Niết Bàn tự tại—Those people
who are damned in Hell, in the realm of the starved ghosts, the animals,
and Asura undergo all kinds of suffering. Human beings driven by greed,
anger, and ignorance are condemned to suffer. Deities, when their
bliss is over, suffer from their decay body. All saints of Hinayana
school, except the Arhats, including the Stream Enterer, the Once-Returner,
the Non-Returner who are still infatuated with their so-called attainment,
are subject to the suffering from the cycle of birth and death. Only
the Bodhisattvas are exempt from suffering since they voluntarily
engage themselves in the cycle in order to save people with their
six Noble Paramita Saving Devices (see Lục Độ Ba La Mật).
** For more
information, please see Nhị Khổ,
Tam Khổ, Tứ Khổ, Ngũ Khổ và Bát Khổ.
Khổ
Ách: The obstruction caused by pain, or suffering.
Khổ
Ấm: Khổ Uẩn—Thân tâm của chúng hữu tình là sự tập hợp của
ngũ uẩn—The body with its five skandhas.
Khổ
Bổn: Tham dục là gốc rễ của khổ đau—The root of misery,
i.e. desire.
Khổ
Bảnh: Miserable situation.
Khổ
Căn: See Khổ Bổn.
Khổ
Chủ: Victim—Sufferer.
Khổ
Công: To take great pains—Hard work.
Khổ
Cực: Hardship—Miserable.
Khổ
Dư: Một trong tam dư. Người theo nhị thừa, đã ra khỏi sanh
tử trong ba cõi, nhưng còn nỗi khổ sinh tử biến dịch—The remains of
suffering awaiting the Hinayana disciple who escapes suffering in
this world, but still meet it in succeeding world, one of the three
after-death remainders.
** For more information,
please see Tam Dư.
Khổ
Đạo: Từ khổ đạo phiền não khởi lên, từ phiền não nghiệp
khởi lên, từ nghiệp khởi lên đau khổ, cứ thế chuyển vần trong vòng
xấu xa—The resultant path of suffering—The path of suffering; from
illusion arises karma, from karma suffering, from suffering illusion,
in a vicious circle.
Khổ
Đau: Duhkha—Suffering (n)—Unhappy—Wretched—Miserable—Hardship
(n)—Sorrow.
Khổ
Đau Không Chịu Nổi: Unbearable suffering
Khổ
Đau Không Dứt: Incessant suffering.
Khổ
Đau Mãi Mãi: Eternal damnation
Khổ
Đế: The truth of suffering.
** For more information,
please see Tứ Diệu
Đế (1) and Tứ Thánh Đế (1).
Khổ
Hà: Nỗi khổ sở sâu như sông—Misery deep as a river.
Khổ
Hải: Biển khổ vô biên—The ocean of misery, or sea of troubles,
its limitlessness. Great sea of suffering—The great bitter sea—Bitter
sea of mortality.
Khổ
Hành:
1)
Undergoing difficulties.
2)
Asceticism—To lead an austere life.
Khổ
Hạnh: Duskara-carya (skt).
(I)
Nghĩa của Khổ Hạnh—The meanings of Duskara-carya: Chịu đựng
những khổ hạnh hay hành xác (ngoại đạo tu khổ hạnh để cầu sanh Thiên,
đạo Phật gọi khổ hạnh là “Đầu Đà”)—Ascetic practices—Undergoing difficulties,
hardships, or sufferings, i.e. burning, tormenting; hence religious
austerity, mortification.
(II) Lời
Phật dạy về Khổ Hạnh trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings on
Ascetic practices in the Dharmapada Sutra:
·
Chẳng phải đi chân không, chẳng phải để tóc xù (bờm),
chẳng phải xoa tro đất vào mình, chẳng phải tuyệt thực, chẳng nằm
trên đất, chẳng phải để thân mình nhớp nhúa, cũng chẳng phải ngồi
xổm mà người ta có thể trở nên thanh tịnh, nếu không dứt trừ nghi
hoặc—Neither walking bare footed, nor matted locks, nor dirt, nor
fasting, nor lying on the bare ground, nor dust, nor squatting on
the heels, can purify a mortal who has not overcome his doubts (Dharmapada
141).
Khổ
Hạnh Lâm: Uruvilva (skt)—Rừng khổ hạnh, nơi Ca Diếp, Thích
Ca Mâu Ni cùng các người khác thực hành khổ hạnh trước khi Phật thành
chánh giác, vì vậy rừng nầy có tên là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp—Papaya
forest—The place near Gaya where Kasyapa, Sakyamuni and others practised
their austerities before the latter’s enlightenment, hence the former
is styled Uruvilva Kasyapa.
Khổ
Khổ: Duhkha-duhkhata (skt)—Một trong tam khổ, nỗi khổ sinh
ra nơi thân tâm chúng sanh do đói khát, bệnh tật, mưa gió, và những
hạnh hạ khác—The pain or painfulness of pain—Pain produced by misery
or pain—Suffering arising from external circumstances (famine, storm,
sickness, torture), one of the three kinds of sufferings.
** For more information,
please see Tam Khổ.
Khổ
Không: Hai trong Tứ Hành Tướng—Misery and unreality, or
pain and emptiness, two of the four disciplinary processes—See Tứ
Hành Tướng (1) (2).
Khổ,
Không, Vô Thường, Vô Ngã: Suffering, Emptiness, Impermanence,
No-self.
Khổ
Lạc: Khổ đau và Hạnh phúc—Bình thường chúng ta chào đón
hạnh phúc, nhưng không vui vẻ với sự khổ đau phiền não—Usualy we welcome
happiness, but not sorrow.
1)
Khổ—Sorrow: Dukha (skt)—Cái gì mang lại khó khăn là đau khổ.
Khổ đau hay phiền não đến trong nhiều lốt vỏ khác nhau—What is difficult
to bear is sorrow. Sorrow or suffering comes in different guises—See
Bát Khổ.
2)
Lạc—Happiness: Sukkha (skt)—Cái gì mang lại thoải mái là hạnh
phúc—What can be borne with ease is happiness—See Hạnh Phúc.
Khổ
Loại Trí: Duhkhe-nvaya-jnanam (skt)—Một trong tám trí,
vô lậu trí hay chân trí sáng suốt do quán “khổ đế” mà đắc được (thoát
khỏi khổ đau phiền não trong luân hồi sanh tử) trong các cõi (dục,
sắc và vô sắc)—The wisdom which releases from suffering in all worlds,
one of the eight forms of understanding.
Khổ
Loại Trí Nhẫn: Một trong tám loại nhẫn khởi lên từ “khổ
loại trí” quán. Khổ loại trí nhẫn là nhân, khổ loại trí là quả—One
of the eight forms of endurance arising out of contemplation of “duhkhe-nvaya-jnanam.”
The wisdom of endurance is the cause, and Duhkhe-nvaya-jnanam is the
fruit.
** For more information,
please see Bát Trí.
Khổ
Luân: Khổ quả sanh tử luân chuyển không ngừng, quay mãi
như bánh xe—The wheel of suffering, i.e. reincarnation.
Khổ
Mệnh: Unhappy destiny.
Khổ
Nạn: Calamity.
Khổ
Não: Misery and trouble—Distress.
Khổ
Nghiệp: Nghiệp khổ đau—The karma of suffering.
Khổ
Ngôn: Lời khiển trách—Bitter words—Words of rebuke.
Khổ
Nhân: The cause of suffering, or pain.
Khổ
Nhọc Đắng Cay: Suffering and vagaries of life.
Khổ
Nhục: Severe bodily pain.
Khổ
Pháp Trí: Một trong Bát Trí, do quán khổ đế ở cõi dục giới
mà phát sanh trí huệ sáng suốt, chặt đứt mê hoặc—The knowledge of
the law of suffering and the way of release, one of the eight
forms of understanding.
** For more information,
please see Bát Trí.
Khổ
Phược: Hệ lụy của khổ đau—The bond of suffering.
Khổ
Quả: Quả báo do ác nghiệp sinh ra làm cho thân tâm khổ
(chủ yếu là do tiền kiếp để lại)—The physical and mental suffering
resulting from evil conduct (chiefly in previous existences).
Khổ
Sai: Hard labored.
Khổ
Sở: Miserable—Affliction
Khổ
Tâm: Broken-hearted.
Khổ
Tân: Bến khổ cần phải vượt qua để đến bên bờ giác
ngộ—The deep ford or flood of misery which must be crossed in order
to reach enlightenment.
Khổ
Tập: Samudaya (skt)—Huân tập khổ đau, đế thứ nhì trong
Tứ Diệu Đế. Khổ đế càng tăng khi ham muốn dục vọng tăng, đây lá nguyên
nhân của luân hồi sanh tử—Arising, coming together, collection, multitude.
The second of the four axioms that of “accumulation,” that misery
is intensified by craving or desire and the passions, which are the
cause of reincarnation.
** For more information,
please see Tứ Thánh
Đế.
Khổ
Tập Diệt Đạo: Bốn chân lý, khổ đế, tập đế, diệt đế, và
đạo đế—The four axioms of truths, i.e suffering or pain: duhkha, accumulation
of suffering: samudaya, The extinguishing of suffering (pain) and
reincarnation: nirodha, Extinction of suffering: marga.
** For more information,
please see Tứ Thánh
Đế.
Khổ
Tế: Dukkhssant (skt)—Giới hạn cuối cùng của khổ là cửa
vào Niết Bàn—The limit of suffering, i.e. entrance to nirvana.
Khổ
Thánh Đế: Duhkha-arya-satyam (skt)—Cái khổ chỉ có các bậc
Thánh mới liễu tri nên gọi là Thánh Đế, một trong Tứ Thánh Đế—The
dogma of suffering, the first of the four dogmas.
** For more information,
please see Tứ Diệu
Đế (1) and Tứ Thánh Đế (1).
Khổ
Thay: What a great pity !
Khổ
Tính: Theo Câu Xá Luận có ba tánh khổ—According to the
Kosa Sastra, there are three kinds of nature of misery, or sorrowful
spirit:
1)
Khổ Khổ Tánh: Dukkha as ordinary sufferings.
2)
Hành Khổ: Dukha as conditioned states.
3)
Hoại Khổ: Dukkha as produced by change.
** For more information,
please see Tam Khổ.
Khổ
Trí: Một trong mười trí, cái trí hiểu biết được cái lý
của khổ đế—The knowledge or understanding of the axiom of suffering,
one of the ten forms of understanding.
** For more information,
please see Thập Trí.
Khổ
Uẩn: Ngũ ấm thạnh suy khổ—The bundle of suffering, i.e.
the body as composed of the five skandhas.
** For more information,
please see Bát Khổ
(8).
Khổ
Về Tinh Thần: Mental suffering.
Khổ
Võng: Lưới khổ—The net of suffering.
Khổ
Vui: Suffering (bitter) and fortunate.
Khổ
Vực: Thế giới khổ, cõi Ta bà hay bất cứ cõi nào còn luân
hồi sanh tử là còn đầy dẫy khổ đau—The region of misery (every realm
of reincarnation).
Khốc:
Tragic—Terrible.
Khốc
Hại: Calamitous—Disastrous.
Khốc
Liệt: Fierce—Violent—Raging.
Khôi:
1)
Cừ khôi—Gigantic—Monstrous.
2)
Nửa người nửa quỷ: Part man part devil.
Khôi
Hài:
1)
Humorous—Comic.
2)
To joke—To jest.
Khôi
Lỗi Tử: Thằng bù nhìn—A puppet.
Khôi
Ngô: Handsome—Good-looking.
Khôi
Phục: To reconquer—To restore.
Khốn:
Poor and miserable.
Khốn
Cùng: Extremely poor.
Khốn
Cực: Utterly miserable.
Khốn
Đốn: To be in a very bad situation.
Khốn
Khổ: See Khốn cực.
Khốn
Nạn: Miserable.
Khốn
Nỗi: Unfortunately.
Không:
a)
Không dùng trong nghĩa phủ định: Makhada (p)—Do not—Not.
b)
Không có nghĩa là “Bất” hay “Phi,” thí dụ như Bất nhị, Phi
không, vân vân: A (p & skt)—Non, i.e., non-duality, non-empty,
etc.
c)
Không có nghĩa là “Hư” hay “Vô,” thí dụ như Hư vân, Vô úy,
vân vân: Nis, Nih, Nir, or Ni (skt)—Im—Less, i.e., cloudless, fearless,
etc.
d)
Không có thật: Non-existent.
e)
Trống không: Sunyata or Sunya (skt)—Bare—Bald—Naked—Empty—Void
(absolute non-existence)—Hollow.
f)
Không có thể tánh: Tất cả các sự vật trong tam giới đều không
phải là thật—Devoid of physical substance—The empty state (the state
in which reality is as it is)—The immaterial which is empty, or devoid
of physical substance (opposed to matter).
g)
Sự trống rỗng không có gì. Phật Giáo Đại Thừa thường được đồng
nhất hóa với triết học “Không Tánh,” điều nầy đúng về mặt nó phủ nhận
cái lý thuyết về bản thể mà các trường phái duy thực của Phật
giáo chủ trương, nhưng chúng ta phải nhớ rằng Đại Thừa có cái khía
cạnh tích cực của nó luôn luôn kèm theo với học thuyết Không Tánh
của nó. Khía cạnh tích cực nầy gọi là học thuyết như như hay như thị.
Kinh Lăng Già luôn cẩn thận làm cân bằng Tánh Không với Như Như, hay
cẩn thận nhấn mạnh rằng khi thế giới được nhìn như là “không,” thì
nó được người ta nắm bắt về cái như như của nó. Dĩ nhiên một học thuyết
như thế nầy vượt qua cái nhìn luận lýđược đặt căn bản trên sự nhận
biết suy diễn vì nó thuộc phạm vi của trực giác mà theo thuật ngữ
của Kinh Lăng Già, nó là sự thể chứng cái trí tuệ tối thượng trong
tâm thức—Emptiness, void. Mahayana Buddhism is popularly identified
with Sunyata philosophy: that is right as far as it concerns the denial
of substance theory as held by the realistic schools of Buddhism,
but we must remember that the Mahayana has its positive side which
always goes along with its doctrine of Emptiness. The positive side
is known as the doctrine of Suchness or Thusness (Tathata). The Lankavatara
Sutra is always careful to balance Sunyata and Tathata, or to insist
that when the world is viewed as “sunya,” or empty, it is grasped
in its suchness. Naturally, such a doctrine as this goes beyond the
logical survey based on our discursive understanding as it belongs
to the realm of intuition, which is, to use the Lanka terminology,
the realization of supreme wisdom in the inmost consciousness.
h)
Theo Tam Luận Tông trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo của
Giáo Sư Junjiro Takakusu—According to Prof. Junjiro Takakusu in the
Essentials of Buddhist Philosophy:
·
Không hiểu theo Tam Luận Tông—Sunyata in San-Lun Tsung:
Về mặt tiêu cực, ‘Sunya’ có nghĩa là ‘Không,’ nhưng về mặt tích cực
nó có nghĩa là ‘Duyên Sinh,’ hay viễn ly thực tại tự hữu, hay viễn
ly tự tánh như thế “Sunyata” là vô thể đồng thời là duyên sinh, nghĩa
là pháp chỉ có duyên khởi. Hình như quan niệm về duyên khởi nầy được
truyền bá rất mạnh ở Trung Quán Ấn Độ. Về phía Trung Hoa, Tam Luận
Tông cũng vậy, chữ ‘Duyên hội’ là đồng nghĩa với ‘Trung đạo,’ ‘vô
tự tánh’ ‘pháp tự tánh’ và ‘Không.’ Duyên khởi cũng được gọi là ‘tánh
không.’ Danh từ ‘Không’ không hoàn toàn thích hợp và thường bị lầm
lẫn, nhưng nếu chúng ta tìm một danh từ khác, thì lại không có chữ
nào đúng hơn. Rốt cuộc, không một ý niệm nào được thiết lập bằng biện
chứng pháp. Nó vô danh và vô tướng. Đó chỉ là sự phủ định một thực
tại tự hữu hay phủ định cá tính đặc hữu. Ngoài sự phủ định, không
có gì khác. Hệ thống Tam Luận Tông do đó là một phủ định luận, lý
thuyết về sự tiêu cực. Vạn hữu đều không có thực tại tính tự hữu,
nghĩa là chúng chỉ hiện hữu tương quan, hay tương quan tính theo
nghĩa bất thực trên cứu cánh, nhưng lại thực ở hiện tượng—‘Sunya’
negatively means ‘Void,’ but positively means ‘Relative,’ i.e., ‘devoid
of independent reality,’ or ‘devoid of specific character.’ Thus ‘Sunyata’
is non-entity and at the same time ‘relativity,’ i.e., the entity
only as in causal relation. The idea of relativity seems to be strongly
presented in the Indian Madhyamika School. In the Chinese Madhyamika
School, too, they have the term 'causal union’ as a synonym of
the Middle Path, absence of nature (svabhava-abhava), dharma nature
(dharma-svabhava) and void. It is well known that the causal origination
is called ‘Sunyata.’ The word ‘void’ is not entirely fitting and is
often misleading, yet, if we look for another word, there will be
none better. It is, after all, an idea dialectically established.
It is nameless (akhyati) and characterless (alaksana). It is simply
the negation of an independent reality or negation of specific character.
Besides the negation there is nothing else. The Madhyamika system
is on that account a negativism, the theory of negation. All things
are devoid of independent reality, that is, they are only of relative
existence, or relativity in the sense of what is ultimately unreal
but phenomenally real.
·
Không hiểu theo Hữu Bộ—Sunyata in Sarvastivadins: Học
thuyết Không không phải không tán thành lý duyên khởi vì hiện hữu
ở tục đế thuộc tổ hợp nhân quả, và nó cũng không loại bỏ nguyên lý
luân hồi, vì cần phải có nó để giải thích trạng thái biến hành sinh
động. Chúng ta thấy rằng Hữu Bộ công nhận cả ba giới hệ của thời gian
đều thực hữu và tất cả các pháp cũng thực hữu trong mọi khoảnh khắc—The
doctrine of Void does not disavow the theory of the Chain of Causation,
for our worldly existence is of causal combination, nor does it reject
the principle of the stream of life (samsara), for it is necessary
to explain the state of dynamic becoming. We have seen already that
the Realistic School assumes that the three worlds of time are real
and so are all dharmas at any instant.
·
Không hiểu theo Thành Thật Tông—Sunyata in Satyasiddhi
school: Chống lại chủ trương nầy, Thành Thật luận chủ trương hư vô,
thừa nhận chỉ có hiện tại là thực hữu còn quá khứ và vị lai thì vô
thể. Như tất cả các tông phái Đại Thừa khác, tông nầy thứa nhận cái
Không của tất cả các pháp (sarva-dharma-sunyata), kể cả ngã không
(pudgala-sunyata). Thêm nữa, nó thừa nhận có hai chân lý: chân đế
và tục đế. Đây là lý do chính yếu khiến Thành Thật tông trong một
thời gian dài được xem là thuộc Đại Thừa ở Trung Hoa. (for more information,
please see Tam Chấp Thủ, and Tứ Cú, and Tam Học)—Against this assertion,
the nihilisctic Satyasiddhi School contends that the present only
is real while the past and the future have no entity. The school asserts,
as all the other Mahayanistic schools do, the Void of all elements
(sarva-dharma-sunyata) as well as the Void of self (pudgala-sunyata).
In addition, it recognizes the two-fold truth, the supreme truth
and worldly truth. These are chiefly the reasons for which this school
had long been treated as Mahayana in China.
i)
Theo Hán văn, ‘Sunyata’ có nghĩa là ‘Không,’ nó bao hàm tất
cả những giai đoạn thiết yếu của ý nghĩa—The Chinese equivalent of
‘Sunyata’ is ‘K’ung,’ which connotes all the necessary phases of meaning:
·
Đản không hay thiên không: Void in the sense of antithesis
of being.
·
Vô tự tánh, tự tánh không, hay vô tự tướng: Svabhava-sunyata
(skt)—Void in the state of beign devoid of specific character.
·
Không trong ý nghĩa cao nhứt hay ‘không’ siêu việt:
Paramartha-sunyata (skt)—Void in the highest sense, or transcendental
void, i.e., all oppositions synthesized.
·
Thắng nghĩa ‘Không’: Atyanta-sunyata (skt)—Đệ nhứt nghĩa
đế ‘không’—The absolute void.
Không
Ai Muốn: Undesirable.
Không
Ăn Sái Thời: Vikala-bhojanad (virati)—Not to eat out of
regulation hours.
Không
Ăn Thịt: Vikalabhojana—Not to eat meat (flesh)—Part of
the sixth of the ten commandments against eating flesh.
Không
Bào Chữa Được: Not justifiable
Không
Bắt Kịp: Not to keep abreast of
Không
Bền Lâu: Impermanent (a)
—Impermanence (n)
Không
Biến Xứ: See Không Nhứt Thiết Xứ.
Không
Cầu Phước Báo Nhân Thiên Mà Chỉ Cầu Làm Phật: Not to seek
human or deva bless, but to seek to become a Buddha.
Không
Chấp: See Không Hữu Nhị Chấp.
Không
Chấp Nhận: To fail to take account
Không
Chịu Đựng Được: Unbearable—Unendurable.
Không
Chóng Thì Chầy: Sooner or later .
Không
Có Quyền: To have no right—We have no right to take what
is not given: Chúng ta không có quyền lấy cái không được cho.
Không
Có Tạo Tác: Uncreated.
Không
Cư Thiên: Antarisavasina (skt)—Chư Thiên cư ngụ tầng trời
trên không—Devas dwell in space—The heavenly regions—Heavens in space,
i.e. the devalokas and rupalokas.
Không
Diễn Tả Quá Mức: Without recourse to exaggeration
Không
Dứt: Endless—Ceaseless—Never-ending.
Không
Đại: Space—Hư không, một trong ngũ đại (đất, nước, lửa,
gió, hư không)---One of the five elements (earth, water, fire, wind,
space).
Không
Đáng: Unworthy.
Không
Đâu: Not at all.
Không
Đế: Một trong ba đế mà tông Thiên Thai lập ra. Tất cả pháp
thế gian, bất luận là hữu tình hay vô tình, đều do nhân duyên sinh
ra, tự thể không thực—The doctrine of immateriality, one of the thre
dogmas of T’ien-T’ai, that all things animate and inanimate, seeing
that they result from previous causes and are without reality in themselves,
are therefore or not material, but spiritual.
Không
Điểm: Điểm nằm trên chữ “m” và “n” trong Phạn ngữ, biểu
hiệu cho vạn vật trống không hay không thật; được tông Chân Ngôn dùng
với nhiều nghĩa—The dot over the “m” or “n” in Sanskrit, symbolizing
that all things are empty or unreal; used by the Shingon sect with
various meanings.
Không
Điểu: Một loại chim kêu “không-không,” ám chỉ người không
biết diệu pháp mà lại nói huyên thuyên về pháp—The bird that cries
“kung-kung,” the cuckoo, i.e. one who, while not knowing the wonderful
law of true immateriality or spirituality, yet prates about it.
Không
Định: Sunnata-samadhi (p)—Sunyata-samadhi (skt)—Thiền định
quán không tướng—Emptiness-samadhi—The meditation which dwells on
the Void or the Immaterial.
1)
Không Định Nội Đạo: See Tam Tam Muội.
2)
Không Định Ngoại Đạo: Giới hạn trong tứ không định—Limited
to the four dhyanas, except the illusion that things have a reality
in themselves, as individuals—See Tứ Vô Sắc Định.
Không
Đo Lường Được: Unmeasurable
Không
Động: Nis-cale (skt)—Motionless—Immovable.
Không
Đủ Sức: Incompetent.
Không
Đủ Tài: See Không Đủ Sức.
Không
Được Người Tin: To be disbelieved.
Không
Giả Trung: Ba đế mà tông Thiên Thai đã dựng lênHệ thống
‘Tam Quán’ nầy dựa trên triết lý của ngài Long Thọ, người đã sống
ở Đông Nam Ấn Độ vào thế kỷ thứ hai—Three prongs established by the
T’ien-T’ai sect. The system of threefold observation is based on the
philosophy of Nagarjuna, who lived in south-eastern India about the
second century A.D.
1)
Không: Không dĩ pháp nhất thiết pháp (không để phá cái hoặc
kiến tư, nghĩa là phá tất cả các pháp quán sát cái tâm chẳng ở trong,
chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa, tức là không có thật). ‘Không’ còn là
sự phá bỏ ảo tưởng của cảm quan và sự kiến tạo tri thức tối thượng
(prajna)—Unreality, that things do not exist in reality. Sunya
(universality) annihilates all relatives. The ‘Empty’ mode destroys
the illusion of sensuous perception and constructs supreme knowledge
(prajna).
2)
Giả: Giả dĩ lập nhất thiết pháp (Giả dùng để phá các hoặc trần
sa và để lập tất cả các pháp quán sát thấy cái tâm đó có đủ các pháp,
các pháp đều do tâm mà có, tức là giả tạm, không bền, vô thường).
‘Giả’ là sự chấm dứt những lậu hoặc của trần thế và giải thoát khỏi
các điều xấu—Reality, things exist though in “derived” or “borrowed”
form, consisting of elements which are permanent. Particularity establishes
all relativities. The ‘Hypothetical’ mode does away with the defilement
of the world and establishes salvation from all evils.
3)
Trung: Trung dĩ diệu nhất thiết pháp (Trung để phá cái hoặc
vô minh và thấy được sự huyền diệu tất cả các pháp, quán sát thấy
cái tâm chẳng phải không không, cũng chẳng phải giả tạm, vừa là không
vừa là giả, tức là trung Đạo). ‘Trung’ là sự phá bỏ ảo giác do vô
minh mà ra và có được một đầu óc giác ngộ—The “middle” doctrine of
the Madhyamaka School, which denies both positions in the interests
of he transcendental, or absolute. The middle path transcends and
unites all relativities. The ‘Medial’ mode destroys hallucination
arising from ignorance (avidya) and establishes the enlightened mind.
Không
Giải: Sự giải thích về tánh không—The interpretation or
doctrine of ultimate reality.
Không
Giải Thoát Môn: Một trong ba giải thoát. Quán hết thảy
các pháp đều do nhơn duyên hòa hợp mà sanh ra, không có tự tính (nếu
thành đạt như vậy là mình đang bước vào cổng giải thoát)—The gate
of salvation or deliverance by the realization of the immaterial,
i.e. that the ego and things are formed of elements and have no reality
in themselves; one of the three deliverances.
** For more information,
please see Tam Giải
Thoát.
Không
Giáo: Tông phái cho rằng vạn hữu vi không. Pháp Tướng Tông
lập ra ba thời giáo—The teaching that all is unreal—Teaching of unreality.
The Dharmalaksana School divided Buddha’s teaching into three periods:
1)
Pháp Hữu Giáo: Thời kỳ thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, coi
tất cả Tiểu Thừa là thuyết pháp Hữu Giáo—The first period of the Buddha’s
teaching; the Hinayana period, teaching that things are real.
2)
Pháp Không Giáo: Thời kỳ thuyết pháp thứ nhì của Đức Phật;
các bộ kinh Bát Nhã là thuyết pháp Không giáo—The second period of
the Buddha’s teaching, the Prajna period, that things are unreal.
3)
Trung Đạo Giáo: Thời kỳ thuyết pháp thứ ba của Đức Phật, các
kinh như Hoa Nghiêm và Pháp Hoa huyết pháp Trung Đạo—The third period
of the Buddha’s teaching, the Hua-Yen and Lotus period of the middle
or transcendental doctrine.
Không
Giết Hại: Not to kill—Abstaining from killing.
Không
Giới: Cõi hư không bao trùm mọi vật, một trong sáu giới
(đất, nướ, lửa, gió, hư không và thức)—The realm of space—One of the
six realms (earth, water, fire, wind, space and knowledge).
Không
Giới Sắc: Hư không có thể nhìn thấy được qua mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý—The visible realm of space, the sky, beyond which
is real space.
Không
Gò Bó: Spontaneously.
Không
Hải:
1)
Hư không và biển cả—Space and ocean—Sky and sea.
2)
Kukai (jap)—Một vị đại sư nổi tiếng người Nhật, vị khai tổ
tông Chân Ngôn Nhật Bản, cùng thời nhà Đường bên Trung Quốc. Không
một tu sĩ nào được biết đến nhiều hoặc được tôn kính nhiều qua các
thời đại ở Nhật Bản bằng Không Hải. Ông còn nổi tiếng hơn nữa trong
số những “Hoằng Pháp Đại Sư.” Là một tu sĩ Chân Ngôn tông, ông đã
hệ thống hóa chủ thuyết của tông phái nầy trong cuốn Thập Trụ Tâm
Luận, nói về mười bậc trên đường học đạo; và cuốn luận khác nói về
sự khác biệt giữa Phật giáo Mật tông và các tông phái khác. Ngoài
ra, sự đóng góp của ông cho nền văn hóa Nhật Bản trong các lãnh vực
nghệ thuật, giáo dục, và an sinh xã hội cũng thật là đáng kể: A famous
Japanese monk, the founder of the Japanese Shingon Sect, at the same
time with the T’ang dynasty in China. No other monk has been more
popular than Kukai among the Japanese nor regarded with greater respect
throughout the ages. He is even more famous among a group of people
known as the “Kobo Daishi.” As a monk of the Shingon sect he systematized
the doctrine of his sect by writing a treatise on the ten stages of
the mind, a treatise on the distinction between Tantric Buddhism and
other sects. Besides, his contribution to Japanese culture in
the field of the arts, education, and social welfare was considerable.
Không
Hành: Thực hành phép quán không, ngã không và pháp không,
để đoạn tận phiền não—The discipline or practice of the immaterial
or infinite, thus overcoming the illusion that the ego and all phenomena
are realities.
Không
Hoa: Khapuspa (skt).
1)
Hoa trong hư không: Flowers in space (the sky).
2)
Hoa đốm trước mắt hay trong hư không: Muscoe volitantes (l)—Spots
before the eyes, compared with flowers in the sky.
3)
Ảo tưởng: Illusion.
4)
Hoa Không Ngoại Đạo: Sunyapuspa (skt)—Đệ tử của ảo tưởng—Sky-flower
heretics, or followers of illusion.
5)
Tiểu Thừa Ấn Độ tự xưng là Đại Thừa: The Indian Hinayanists
style Mahayanists.
Không
Hoàn Toàn: Incompleteness
Không
Hoạt Động Được: Inability to function
Không
Hối Tiếc: Without regret
Không
Huệ: Wisdom which beholds spiritual truth.
Không
Hư: Nothingness.
Không
Hư Dối: Nirmythia (skt)—Unfalse.
Không
Hữu:
1)
Không thật và thật: Unreal and real.
2)
Không hiện hữu và hiện hữu: Non-existent and existent.
3)
Trừu tượng và cụ thể: Abstract and concrete.
4)
Phủ nhận và thừa nhận: negative and positive.
5)
Tà kiến của kẻ không thừa nhận lý nghiệp quả và niết bàn: See
Không Kiến.
Không
Hữu Nhị Chấp: Mê tình của phàm phu chấp không chấp có—The
two false tenets or views.
1)
Chấp Không: Chấp rằng nghiệp và niết bàn là không thực—Beholding
that karma and nirvana are not real.
2)
Chấp Hữu: Chấp rằng có thực ngã và thực pháp—Beholding that
the ego and phenomena are real—See Nhị Chấp.
** Những tà chấp nầy có thể
khắc phục được bằng cách quán tánh không thực của ngã và pháp, cũng
như quán thực tánh của nghiệp và niết bàn—These wrong views are overcome
by the meditating on the unreality of the ego and phenomena, and the
reality of karma and nirvana (see Không Hữu Nhị Quán).
Không
Hữu Nhị Quán: Để khai phá hai tà chấp không hữu nên quán
tánh không thực của “ngã” và “pháp.” Đồng thời quán thực tánh của
nghiệp và niết bàn—Meditating on the unreality of the ego and phenomena,
and the reality of karma and nirvana, which is used to practice to
overcome the false tenets or views of real and unreal.
Không
Hữu Nhị Tông: Hai tông “Không” và “Hữu”—The two schools
of “Unreal” and “Real.”
(A) Tiểu
Thừa Không Hữu—The two schols in Hinayana:
1)
Tiểu Thừa Không Tông: Thành Thực Tông—Satyasiddhi Sect.
2)
Tiểu Thừa Hữu Tông: Câu Xá Tông—Kosa Sect.
(B) Đại
Thừa Không Hữu—The two schools in Mahayana:
1)
Đại Thừa Không Tông: Tam Luận Tông—Madhyamika School.
2)
Đại Thừa Hữu Tông: Pháp Tướng Tông—Dharmalaksana School.
Không
Hý Luận: Avikarsa (skt)—Not talking vainly or idly.
Không
Kể Siết: Incalculable.
Không
Khi Nào: Never.
Không
Khởi: Anabhinirvritti (skt)—Not rising.
Không
Khổ Không Lạc: The tone of indifference.
Không
Không: Khi tất cả được xem như ảo tưởng hay không thật,
ý tưởng trừu tượng của không thật tự nó bị triệt tiêu—Unreality of
unreality. When all has been regarded as illusion, or unreal, the
abstract idea of unreality itself must be destroyed.
Không
Không Tịch Tịch: Mọi vật trong vũ trụ, sắc hay vô sắc,
là không thật—Void and silent (everything in the universe, with form
or without form, is unreal and not to be considered as real.
Không
Kiên Nhẫn: Akshanti (skt)—Impatience.
Không
Kiến: Tà kiến của kẻ không thừa nhận lý nghiệp quả (nhân
quả, tội phúc, luân hồi), và niết bàn—The heterodox view that karma
and nirvana are not real.
Không
Kiếp: Không kiếp, một trong bốn kiếp—The empty kalpa, one
of the four kalpas.
** For more information,
please see Tứ Kiếp.
Không
Kinh: Kinh nói về tánh không, như Kinh Bát Nhã Ba La Mật
Đa—The sutras of unreality or immateriality, i.e. the Prajnaparamita.
Không
Lời: Avaca (skt)—Wordless.
Không
Lợi Ích Thiết Thực: With no practical benefit.
Không
Lộ Thiền Sư: Zen Master Không Lộ (?-1119)—Thiền sư Việt
Nam, quê ở Hải Thanh, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền
sư Hà Trạch. Ngài là pháp tử đời thứ 9 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài
thị tịch năm 1119—A Vietnamese Zen master from Hải Thanh, North Vietnam.
He left home and became a disciple of Zen master Hà Trạch. He was
the dharma heir of the ninth generation of the Wu-Yun-T’ung Zen Sect.
He passed away in 1119.
Không
Luân:
1)
Không Đại: Một trong ngũ đại (đất, nước, lửa, gió, hư không)—Space,
one of the five great elements (earth, water, fire, wind, space).
2)
Bánh xe hư không: The wheel of space.
3)
Cõi hư không thấp nhất của thế giới nầy—The wheel of space
below the water and wind wheels of a world. The element space is called
the wheel of space.
Không
Lý: Lý không của ngã và pháp—The sunya principle or law—The
doctrine of Emptiness (the unreality of the ego and phenomena).
Không
Lý Luận Xét Đoán: Avitakko (p)—Non reasoning and judgment.
Không
Ma: Tà kiến ma chướng khởi lên từ tâm cho rằng nghiệp quả
không có thật—The demons who arouse in the heart the false belief
that karma is not real.
Không
Mê Lòa: Clear-sighted.
Không
Môn:
1)
Sunyata school—Pháp môn không tướng hay trường phái dạy về
tánh không thực của vạn pháp, phá bỏ kiến chấp thường hữu, ngã không,
pháp không, hữu vi không, vô vi không, một trong bốn tông phái Thiên
Thai—The teaching which regards everything as unreal or immaterial,
which also denies that there can be any static existence, one of the
four divisions made by T’ien-T’ai.
2)
Cửa vào Niết Bàn: The door to nirvana.
3)
Tên gọi chung cho Phật Giáo: A general name for Buddhism.
Không
Môn Tử: Vị Tăng—Buddhist monks.
Không
Nằm Giường Cao Rộng: Anuccasayanamaha-sayana—Not to sit
on a high, broad, large bed.
Không
Nên Câu Chấp:
1)
Should not be inflexible.
2)
Should not be attached to anything.
Không
Nghi Ngờ Gì Cả: Undoubtedly
Không
Nghi Ngờ Là Con Vật Bị Giết Để Làm Đồ Ăn Cho Mình: Not
in doubt that the creature has been killed to feed us.
Không
Ngoảnh Mặt Dửng Dưng Với Chúng Sanh: Be never indifferent
toward sentient beings.
Không
Ngờ: Accisdental.
Không
Ngớt: See Không ngừng nghỉ.
Không
Ngôn Thuyết: Anabhilapya (skt)—To be inexpressible.
Không
Ngừng Nghỉ: Endlessly—Continuously.
Không
Nhàn Đàm Hý Luận: To refrain from gossiping.
Không
Nhàn Xứ: Aranya (skt)—A Lan Nhã—Một khu rừng hay một nơi
an cư cách nhà dân từ 300 đến 600 bước, thích hợp cho chư Tăng Ni
tu hành—A forest or a retired place, 300 to 600 steps away from human
habitation suitable for the religious practices of monks and nuns.
Không
Nhẫn: Nhẫn đạt được khi xem những khổ đau phiền não là
không thật—Patience attained by regarding suffering as unreal.
Không
Nhúc Nhích: To stand still.
Không
Như Lai Tạng: Như Lai Tạng là anh của chân như. Thể
tính của chân như là không tịch và thanh tịnh (như trong chiếc gương
sáng, không có một thực chất nào nên gọi là không, chứ không phải
gọi cái thể của chân như là không)—The Bhutatathata in its purity—Absoluteness.
Không
Nhứt Thiết Xứ: Không Biến Xứ—Biến nhất thiết xứ định hay
là một loại thiền định có thể loại bỏ tất cả những giới hạn trong
hư không—The samadhi which removes all limitations of space—Universal
emptiness—Space.
Không
Nói: Avakha (skt)—Speechless.
Không
Nói Chuyện Tạp Vô Ích: To refrain from useless chatting.
Không
Nói Dối: Mrsavadaviratih (skt)—Not to lie—No lying—Not
to lie because if we lie, nobody would believe—Not to lie will help
us become truthful and trustful—See Bất Vọng Ngữ.
Không
Phai: Unfaded.
Không
Pháp:
1)
Theo Kinh Bát Nhã, Không Pháp là quán về lý không của các pháp
như ngã không, pháp không, hữu vi không, vô vi không, vân vân—According
to the Prajna Sutra, Dharma of void which regards everything
(things, ego, dynamics) as unreal.
2)
Theo Kinh Pháp Hoa, Phẩm Thí Dụ, với Tiểu Thừa Không Pháp có
nghĩa là Niết Bàn—According to the Lotus Sutra, Chapter Parable, Dharma
of Void means the nirvana of Hinayana.
Không
Phân Biệt: Avikalpa (skt)—The indivisible—Non-discriminating—The
middle way (Trung đạo).
Không
Phân Biệt Trí: See Vô Phân Biệt Trí.
Không
Quả: Quả giải thoát khỏi tất cả phiền não vì chấp vào pháp
và ngã—Empty fruit—Fruit of freedom from all illusions that things
and the ego are real.
Không
Quán: Sunnatanupassana (p)—Contemplation of emptiness—Giả
quán hay quán sát mọi vật đều không—Contemplation of all things as
void or immaterial—The meditation on the void, in comparison with
the meditation on the relative truth (giả quán) with the idea of illusory
existence.
** For more information,
please see Không
Hữu Nhị Chấp.
Không
Quen: Unaccustomed to.
Không
Quyền: Riktamusti (skt)—Quả đấm vào hư không, như gạt một
đứa trẻ với một nắm tay không, đây không phải là những gì Phật dạy—Empty
fist, i.e. deceiving a child by pretending to have something for it
in the closed hand; not the Budha’s method.
Không
Quyết Định: To be undetermined.
Không
Rung Động: Alola (skt)—Unagitated.
Không
Sanh:
1)
Tu Bồ Đề: Subhuti (skt)—Một trong mười đại đệ tử của Phật,
người có biệt tài thuyết giảng về tánh không—One of the ten great
pupils of the Buddha—One who expounded vacuity or immateriality—Who
was said to be foremost in understanding of Sunyata.
2)
Trạng thái giống như sự trống rỗng: Sunyata (skt)—The state
that is like emptiness—Born emptiness.
Không
Sát Sanh: Pranatipataviratih (skt)—Pranatipatad-vairamani
(p)—Không sát sanh là không giết hại vì lòng từ bi mẫn chúng. Đây
là giới luật đầu tiên dành cho cả xuất gia lẫn tại gia, không sát
sanh bao gồm không giết, không bảo người giết, không hoan hỷ khi thấy
giết, không nghĩ đến giết hại bất cứ lúc nào, không tự vận, không
tán thán sự giết hay sự chết bằng cách nói: “Ông/bà thà chết đi còn
sướng hơn sống.” Không sát sanh cũng bao gồm không giết hại thú vật.
Không sát sanh cũng bao gồm không giết thú làm thịt, vì làm như vậy,
chúng ta chẳng những cắt ngắn đời sống mà còn gây đau đớn và khổ sở
cho chúng nữa (ba lý do trọng yếu để ngăn chặn sát sanh:
a) Nghiệp báo nhơn quả:
sát nghiệp bị sát báo, tức là giết người sẽ bị người giết lại. Đức
Phật dạy: “Tất cả các loài hữu tình chúng sanh loài nào cũng quý trọng
thân mạng, đều tham sống sợ chết. Tất cả già trẻ đều lo tiếc giữ thân
mạng, thậm chí đến lúc già gần chết đến nơi vẫn còn sợ chết. Vì quý
trọng sự sống, nên khi bị gia hại là họ căm thù trọn kiếp. Lúc gần
chết lại oán ghét nhau, lấy oán để trả oán, oán không bao giờ chấm
dứt.” b) Sát sanh cùng với tâm cứu hộ trái nhau. c) Bồi dưỡng thân
tâm: Phật giáo cấm Phật tử đích thân giết hại, cố ý giết hại, nhơn
giết, duyên giết; không cho phép Phật tử chế tạo và bán các dụng cụ
sát sanh như cung tên, đao gươm, súng đạn, vân vân)—Not to kill—No
killing—Not to kill out of the pity of others—Not to kill will help
us become kind and full of pity. This is the first Buddhist precept,
binding upon clergy and laity, not to kill and this includes not to
kill, not to ask other people to kill, not to be joyful seeing
killing, not to think of killing at any time, not to kill oneself
(commit suicide), not to praise killing or death by saying “it’s better
death for someone than life.” Not to kill is also including
not to slaughtering animals for food because by doing this, you do
not only cut short the lives of other beings, but you also cause pain
and suffering for them—See Bất Sát sanh.
Không
Sắc:
1)
Không dục lạc thế gian: Ni-raga (skt)—Free from worldly pleasure.
2)
Không sắc và sắc: Formless and with form.
3)
Lý và sự: Noumena and phenomena.
Không
Sợ Hãi: Nir-bhaya (skt)—Fearless—See Vô Úy.
Không
Tà Dâm: Kamamithyacaradviratih (skt)—Không tà hạnh vì chúng
ta không muốn làm người xấu trong xã hội. Không tà dâm giúp cho thân
tâm chúng ta thanh bạch và lương thiện (Giới nầy chia làm hai loại,
tại gia và xuất gia. Không tà dâm chỉ dành cho người tại gia thọ trì
năm giới cấm, nghĩa là vợ chồng không chính thức cưới hỏi, phi thời,
phi xứ, đều thuộc tà dâm. Giới cấm nầy chẳng những giúp ta tránh được
quả báo, mà còn đặc biệt gìn giữ và trưởng dưỡng thân tâm không cho
chạy theo tình dục phi thời phi pháp. Về phần Tăng chúng xuất gia,
với ý chí cầu phạm hạnh, giới nầy đòi hỏi Tăng chúng đoạn tuyệt với
tất cả mọi hành vi dâm dục, cho đến khởi tâm động niệm đều là phạm
giới)—Not to have adultery—No adultery—Not to have unchaste because
we don’t want to be a bad person in the society. Not to have unchaste
will help us become pure and good—See Bất Dâm Dục.
Không
Tả Nổi: Inexpressible.
Không
Tách Rời Được: Inseparable—In Buddhism, moral precepts
and intellectual enlightenment are inseparable: Trong đạo Phật, trì
giới và tinh thần giác ngộ không bao giờ tách rời nhau được.
Không
Tam Muội: Asakrt samadhi (skt)—Phép Tam Muội Không hay
quán tưởng lẽ không, một trong ba phép Tam Muội (thấy ngũ uẩn không
có ta, không có cái của ta)—The samadhi which regards the ego
and things as unreal, one of the three samadhis.
** For more information,
please see Tam Tam
Muội.
Không
Tạng Bồ Tát: Akasagarbha Bodhisattva—Empty Store Bodhisattva.
Không
Tánh: Sunyata (skt)—The nature of the Void or immaterial—The
Bhutatathata.
Không
Tâm: Acitta (skt)—No-mind—Not an object of thought—Inconceivable—Unnoticed—Tâm
quán không hay tâm không còn vướng víu vào nhân quả—An empty mind
or heart—A mind meditating on the void or infinite—A mind not entangled
in cause and effect—A mind detached from the phenomenal.
Không Tận
Hữu Vi Không Trụ Vô Vi: Not exhausting the mundane state—Theo
Kinh Duy Ma Cật, phẩm mười một, Bồ Tát Hạnh, Phật bảo các Bồ Tát rằng:
“Có pháp môn ‘Tận, Vô Tận Giải Thoát’ các ông nên học. Sao gọi là
Tận? Nghĩa là pháp hữu vi. Sao gọi là Vô Tận? Nghĩa là pháp vô vi.
Như Bồ Tát thời không tận hữu vi, cũng không trụ vô vi.” Lại vì đủ
các phước đức mà không trụ vô vi; vì đủ cả trí tuệ mà không tận hữu
vi; vĩ đại từ bi mà không trụ vô vi; vì mãn bổn nguyện mà không tận
hữu vi; vì nhóm thuốc pháp mà không tận hữu vi; vì tùy bệnh cho thuốc
mà không tận hữu vi; vì biết bệnh chúng sanh mà không trụ vô vi; vì
dứt trừ bệnh chúng sanh mà không tận hữu vi. Các Bồ Tát chánh sĩ tu
tập pháp nầy thời không tận hữu vi, không trụ vô vi, đó gọi là pháp
môn Tận, Vô Tận Giải Thoát mà các ông cần phải học—According to the
Vimalakirti Sutra, chapter eleven, the Bodhisattva Conduct, the Buddha
said to the Bodhisattvas: “There are the exhaustible and the inexhaustible
Dharmas which you should study. What is the exhaustible?
It is the active (yu wei or mundane) Dharma. What is the inexhaustible?
It is the non-active (wu wei or supramundane) Dharma. As Bodhisattvas,
you should not exhaust (or put an end to) the mundane (state); nor
should you stay in the supramundane (state). Further, to win merits,
a Bodhisattva does not stay in the supramundane, and to realize wisdom
he does not exhaust the mundane. Because of his great kindness
and compassion, he does not remain in the supramundane, and in order
to fullfil all his vows, he does not exhaust the mundane. To
gather the Dharma medicines he does not stay in the supramundane,
and to administer remedies he does not exhaust the mundane.
Since he knows the illnesses of all living beings he does not stay
in the supramundane, and since he wants to cure their illnesses, he
does not exhaust the mundane. Virtuous Ones, a Bodhisattva practicing
this Dharma neither exhausts the mundane nor stays in the supramundane.
This is called the exhaustible and inexhaustible Dharma doors to liberation
which you should study.
(A)
Sao gọi là Không Tận Hữu Vi? Nghĩa là không lìa đại từ, không
bỏ đại bi, sâu phát tâm cầu nhứt thiết trí mà không khinh bỏ, giáo
hóa chúng sanh quyết không nhàm chán; đối pháp tứ nhiếp thường nghĩ
làm theo , giữ gìn chánh pháp không tiếc thân mạng, làm các việc lành
không hề nhàm mỏi, chí thường để nơi phương tiện hồi hướng, cầu pháp
không biếng trễ, nói pháp không lẫn tiếc, siêng cúng dường chư Phật,
cố vào trong sanh tử mà không sợ sệt, đối việc vinh nhục lòng không
lo không mừng, không khinh người chưa học, kỉnh người học như Phật,
người bị phiền não làm cho phát niệm chánh, cái vui xa lìa không cho
là quý, không đắm việc vui của mình mà mừng việc vui của người, ở
trong thiền định tưởng như địa ngục, ở trong sanh tử tưởng như vườn
nhà, thấy người đến cầu pháp tưởng như thầy lành, bỏ tất cả vật sở
hữu tưởng đủ nhứt thiết trí, thấy người phá giới tâm nghĩ cứu giúp,
các pháp Ba La Mật tưởng là cha mẹ, các pháp đạo phẩm tưởng là quyến
thuộc, làm việc lành không có hạn lượng, đem các việc nghiêm sức ở
các cõi Tịnh Độ trau dồi cõi Phật của mình, thực hành bố thí vô hạn,
đầy đủ tướng tốt, trừ tất cả điều xấu, trong sạch thân khẩu ý, nhiều
số kiếp sanh tử mà lòng vẫn mạnh mẽ, nghe các Đức Phật quyết chí không
mỏi, dùng gươm trí tuệ phá giặc phiền não, ra khỏi ấm giới nhập, gánh
vác chúng sanh để được hoàn toàn giải thoát, dùng sức đại tinh tấn
phá dẹp ma quân, thường cầu vô niệm, thực tướng trí huệ, thực hành
ít muốn biết đủ mà chẳng bỏ việc đời, không sái oai nghi mà thuận
theo thế tục, khởi tuệ thần thông dẫn dắt chúng sanh, đặng niệm tổng
trì đã nghe thời không quên, khéo biết căn cơ dứt lòng nghi của chúng
sanh, dùng nhạo thuyết biện tài diễn nói pháp vô ngại, thanh tịnh
mười nghiệp lành hưởng thọ phước trời người, tu bốn món vô lượng mở
đường Phạm Thiên, khuyến thỉnh nói pháp, tùy hỷ ngợi khen điều lành,
đặng tiếng tốt của Phật, thân khẩu ý trọn lành, đặng oai nghi của
Phật, công phu tu tập pháp lành sâu dầy càng tiến nhiều lên,
đem pháp Dặi thừa giáo hóa thành tựu Bồ Tát Tăng, lòng không buông
lung, không mất các điều lành. Làm các pháp như thế gọi là Bồ Tát
không tận hữu vi—“What is meant by not exhausting the mundane (state)?
It means not discarding great benevolence; not abandoning great compassion;
developing a profound mind set on the quest of all-knowledge (sarvajna)
or Buddha knowledge) without relaxing for even an instant; indefatigable
teaching and converting living beings; constant practice of the four
Bodhisattva winning methods; upholding the right Dharma even at the
risk of one’s body and life; unwearied planting of all excellent roots;
unceasing application of expedient devices (upaya) and dedication
(parinamana); never-ending quest of the Dharma; unsparing preaching
of it; diligent worship of all Buddhas; hence fearlessness when entering
the stream of birth and death; absence of joy in honour and of sadness
in disgrace; refraining from slighting non-practisers of the Dharma;
respecting practisers of Dharma as if they were Buddhas; helping those
suffering from klesa to develop the right thought; keeping away from
(desire and) pleasure with no idea of prizing such a high conduct;
no preference for one’s happiness but joy at that of others; regarding
one’s experience in the state of samadhi as similar to that in a hell;
considering one’s stay in samsara (i.e. state of birth and death)
as similar to a stroll in a park; giving rise to the thought of being
a good teacher of Dharma when meeting those seeking it; giving away
all possessions to realize all-knowledge (sarvajna); giving rise to
the thought of salvation when seeing those breaking the precepts;
thinking of the (six) perfections (paramitas) as dear as one’s parents;
thinking of the (thirty-seven) conditions contributory to enlightenment
as if they were one’s helpful relatives; planting all excellent roots
without any restrictions; gathering the glorious adornments of all
pure lands to set up one’s own Buddha land; unrestricted bestowal
of Dharma to win all the excellent physical marks (of the Buddha);
wiping out all evils to purify one’s body, mouth and mind; developing
undiminished bravery while transmigrating through samsara in countless
aeons; untiring determination to listen to (an account of) the Buddha’s
countless merits; using the sword of wisdom to destroy the bandit
of klesa (temptation) to take living beings out of (the realm of the
five) aggregates (skandhas) and (twelve) entrances (ayatana) so as
to liberate them for ever; using firm devotion to destroy the army
of demons; unceasing search for the thought-free wisdom of reality;
content with few desires while not running away from the world in
order to continue the Bodhisattva work of salvation; not infringing
the rules of respect-inspiring deportment while entering the world
)to deliver living beings); use of the transcendental power derived
from wisdom to guide and lead all living beings; controlling (dharani)
the thinking process in order never to forget the Dharma; being aware
of the roots of all living beings in order to cut off their doubts
and suspicions (about their underlying nature); use of the power of
speech to preach the Dharma without impediment; perfecting the ten
good (deeds) to win the blessings of men and devas (in order to be
reborn among them to spread the Dharma); practicing the four infinite
minds (kindness, pity, joy and indifference) to teach the Brahma heavens;
rejoicing at being invited to expound and extol the Dharma in order
to win the Buddha’s (skillful) method of preaching; realizing excellence
of body, mouth and mind to win the Buddha’s respect-inspiring deportment;
profound practice of good Dharma to make one’s deeds unsurpassed;
practicing Mahayana to become a Bodhisattva monk; and developing a
never-receding mind in order not to miss all excellent merits.
“This is the Bodhisattva not exhausting the mundane state.
(B)
Sao gọi là không trụ vô vi? Nghĩa là tu học môn Không; không
lấy không làm chỗ tu chứng; tu học môn vô tướng, vô tác, không lấy
vô tướng, vô tác làm chỗ tu chứng; tu học pháp Vô Sanh không lấy Vô
Sanh làm chỗ tu chứng; quán Vô Thường mà không nhàm việc lành (lợi
hành); quán Thế Gian Khổ mà không ghét sanh tử; quán Vô Ngã mà dạy
dỗ người không nhàm mỏi; quán Tịch Diệt mà không tịch diệt hẳn; quán
xa lìa (buông bỏ) mà thân tâm tu các pháp lành; quán Không Chỗ Về
(không quy túc) mà vẫn về theo pháp lành; quán Vô Sanh mà dùng pháp
sanh (nương theo hữu sanh) để gánh vác tất cả; quán Vô Lậu mà không
đoạn các lậu; quán không chỗ làm (vô hành) mà dùng việc làm (hành
động) để giáo hóa chúng sanh; quán Không Vô mà không bỏ đại bi; quán
Chánh Pháp Vị (chỗ chứng) mà không theo Tiểu thừa; quán các pháp hư
vọng, không bền chắc, không nhân, không chủ, không tướng, bổn nguyện
chưa mãn mà không bỏ phước đức thiền định trí tuệ. Tu các pháp như
thế gọi là Bồ Tát không trụ vô vi—“What is the bodhisattva not staying
in the supra-mundane state (nirvana)? It means studying and
practicing the immaterial but without abiding in voidness; studying
and practicing formlessness and inaction but without abiding in them;
studying and practicing that which is beyond causes but without discarding
the roots of good causation; looking into suffering in the world without
hating birth and death (i.e. samsara); looking into the absence of
the ego while continuing to teach all living beings indefatigably;
looking into nirvana with no intention of dwelling in it permanently;
looking into the relinquishment (of nirvana) while one’s body and
mind are set on the practice of all good deeds; looking into the (non-existing)
destinations of all things while the mind is set on practicing excellent
actions (as true destinations); looking into the unborn (i.e. the
uncreate) while abiding in (the illusion of) life to shoulder responsibility
(to save others); looking into passionlessness without cutting off
the passion-stream (in order to stay in the world to liberate others);
looking into the state of non-action while carrying out the Dharma
to teach and convert living beings; looking into nothingness without
forgetting about great compassion; looking into the right position
(of nirvana) without following the Hinayana habit (of staying in it);
looking into the unreality of all phenomena which are neither firm
nor have an independent nature, and are egoless and formless, but
since one’s own fundamental vows are not entirely fulfilled, one should
not regard merits, serenity and wisdom as unreal and so cease practicing
them.
“This is the Bodhisattva not staying in the non-active (wu wei) state.
Không
Tế: Thực Tế—Vùng phi vật chất hay niết bàn—The region of
immateriality, or nirvana.
Không
Tên: No name—Unonymous.
Không
Thánh: Vị Thánh hữu danh vô thực—A saint who bears the
name without possessing the character.
Không
Thấy E Ngại: Without paranoia
Không
Thấy Lỗi Người: Not to look for people’s mistakes.
1)
Phật dạy: “Khi nào chúng ta không còn thấy lỗi người hay chỉ
thấy cái hay của chính mình, chừng đó chúng ta sẽ được các bậc trưởng
lão nễ vì và hậu bối kính ngưỡng—The Buddha taught: “When we do not
see others’ mistakes or see only our own rightness, we are naturally
respected by seniors and admired by juniors.”
2)
Theo Kinh Pháp Cú, câu 50, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada,
sentence 50, the Buddha taught: “Chớ nên dòm ngó lỗi người, chớ nên
dòm coi họ đã làm gì hay không làm gì, chỉ nên ngó lại hành động của
mình, thử đã làm được gì và chưa làm được gì—Let not one look on the
faults of others, nor things left done and undone by others;
but one’s own deeds done and undone.”
Không
Thể Chê Trách Được: Blamelessly
Không
Thể Diễn Tả Đúng Được: Cannot be exactly described.
Không
Thể Nghĩ Bàn: Vượt ra ngoài sự hiểu biết, trí thông minh
và trì huệ của con người—Unimaginable—Beyond the comprehensive
level of human knowledge, intelligence and wisdom.
Không
Thể Tránh Được: Inevitably.
Không
Thể Truyền Đạt Được: Cannot be communicated
Không
Thích Đáng: Irrelevant—Inappropriate.
Không
Thích Hợp: See Không thích đáng.
Không
Thích Nghi: To have no relevance to.
Không
Thích Thú: Unpleasant.
Không
Thủy Pháp: Đại Thừa Thủy Giáo. Giáo thứ hai trong năm giáo
mà tông Hoa Nghiêm dựng lên. Thủy giáo Hoa Nghiêm chia làm hai phần
là Không Thủy, thuyết minh về lý các pháp đều không như trong các
kinh Bát Nhã và Tam Luận, vân vân. Tướng thủy giáo xây dựng mọi pháp
trong kinh Thâm Mật và Du Già Luận—The initial teaching of the undeveloped
Mahayana doctrines is the second of the five periods of Sakyamuni’s
teaching as defined by the Hua-Yen School. His consists of two parts:
The initial doctrine of Sunya, the texts for which are the Prajna
and the Madhyamika schools, etc; the initial doctrine of the essential
nature as held by he esoterics, in the Yogacara texts.
Không
Thực Chất: Ephemeral—See Vô Thường.
Không
Thực Chất Tính: Nihsvabhava-sunya (skt)—Non-substantiality.
Không
Thực Tế: Not practical.
Không
Tịch: Sunyta-sama (skt).
·
Không tịch: Emptiness of calmness or tranquility.
·
Trạng thái không tịch, trạng thái của niết bàn—Immaterial—A
condition beyond disturbance, the condition of nirvana.
Không
Tiền Khoáng Hậu: Unprecedent—Unique.
Không
Tinh Tấn: Aceshta (skt)—Effortless—Motionless.
Không
Tính: Sunyata (skt)—Thuấn Nhã Đa—Tên khác của chân như,
thoát ly chấp ngã và chấp pháp thì thực thể của chân như hiển hiện—The
nature of void or immaterial—The Bhutatathata, the universal substance,
which is not ego and things. But while not Void is of the Void-nature.
Không
Tông: Tông lấy lý không (ngã không và pháp không) làm tông
chỉ (Tiểu Thừa Thành Thực tông, Đại Thừa Tam Luận tông)—The
Sunya sect, i.e. those which make the unreality of the ego and things
their fundamental tenet.
Không
Tránh Khỏi: Unavoidable.
Không
Trần: Không Kiến Trần—Sự quán không của phái ngoại đạo
cho rằng phi vật chất là một thực thể, do đó cho rằng tâm thức hay
ngã có thật—Sunya as sub-material, ghostly, or spiritual, as having
diaphanous form, a non-Buddhist view of the immaterial as an entity,
hence the false view of a soul or ego that is real.
Không
Trộm Cắp: Adinnadana-veramani (skt).
(A) Nghĩa
của “Không Trộm Cắp”—The meanings of “Adninnadana-veramani:
1)
Không trộm cắp là giới thứ nhì trong ngũ giới. Chúng ta không
có quyền lấy bất cứ thứ gì mà người ta không cho. Không trộm cắp giúp
cho chúng ta trở nên lương thiện hơn (bất cứ vật gì của người không
cho mà mình cố ý lấy, thì gọi là thâu đạo hay trộm cắp. Ý nghĩa ngăn
cản trộm cắp là để diệt trừ nghiệp báo, nhơn quả ở ngoài, chủ yếu
là trừ tâm niệm tham và diệt hẳn ngã chấp, ái dục mạnh thì khởi tâm
tham cầu, tham cầu không được thì sanh ra trộm cắp. Một khi chấp ngã,
nghĩa là chấp có ta, thì có của mình mà không có của người, chỉ nghĩ
đến sở hữu của ta, không nghĩ đến sở hữu của người. Ngăn ngừa trộm
cướp tức là chận đứng lòng tham và chấp ngã)—Not to steal—No stealing—The
second of the ten commandments—Not to steal because we have no right
to take what is not given. Not to steal will help us becom honest.
(B) Kết
quả của việc không trộm cắp—The consequences of “Not to steal”
·
Tăng lòng quảng đại: To increase one’s generosity.
·
Tăng lòng thành tín nơi người: To increase trust in
other people.
·
Tăng lòng thành thật: To increase one’s honesty.
·
Không khốn khổ: Life without sufferings.
·
Không thất vọng: Life without disappointment.
Không Tụ:
1)
Một nơi trống trải: An empty a bode or place.
2)
Thân nầy là sự hội tụ của ngũ uẩn, giả hợp và không có tự tánh—The
body as composed of the six skandhas, which is a temporary assemblage
without underlying reality.
Không
Tuệ: Trí tuệ quán chân lý hay lý không—The wisdom which
beholds spiritual truth.
Không
Tư Duy Biện Luận: Avicara (p)—Non discursive thinking.
Không
Từ Bỏ: Unimpeded.
Không
Tự Dối Mình: No self-deception—Không tự dối mình là một
trong những cửa ngõ đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không tự
khen mình và chê người—No self-deception is one of the most important
entrances to the great enlightenment; for with it, we do not praise
ourselves and blame others.
Không
Tự Tánh: Nihsvabhava (skt)—Without self-nature.
Không
Tức Thị Sắc, Sắc Tức Thị Không: Sunyata is rupa—Không bất
dị sắc, sắc bất dị không (không tức là sắc, sắc tức là không; không
không khác sắc, sắc không khác không)—The immaterial is the material
(matter), and vice versa.
Không
Tướng: Animitta (skt)—Voidness—Idle fancies—Emptiness—Space—Formless—No-form—Devoid
of appearances—Tướng trạng của các pháp đều là không, pháp do nhân
duyên sanh ra không có tự tính. Tính không nầy không thể nào được
diễn tả bằng lời (chỉ có Đức Phật mới thấu triệt được cái không tướng)—The
characteristic of all things is unreality, i.e. they are composed
of elements which disintegrate. Immaterial which cannot be expressed
in the terms of material.
Không
Tưởng:
1)
Nghĩ tưởng viễn vông: Vainly thinking or desiring.
2)
Nghĩ tưởng về tánh phi vật chất (không): Thinking of immateriality.
Không
Tưởng Tượng Nổi: Can scarcely imagine
Không
Tựu: See Không Tụ.
Không
Uống Chất Cay Độc: Not to drink intoxicated sunstances.
Không
Uống Rượu: Madyapanaviratih (skt)—Sura-maireya-madya (p)—Không
uống rượu vì uống rượu sẽ làm cho tánh người cuồng loạn, rượu là cội
gốc của buông lung (Rượu làm cho thân tâm sanh nhiều thứ bệnh, người
uống rượu thường ưa đấu tranh, mất dần trí huệ, vì uống rượu mà dẫn
đến tội ác. Khi uống rượu say rồi, người ấy có thể phạm các giới khác
và làm các việc ác khác rất là dễ dàng. Đức Phật cấm không cho Phật
tử uống rượu là vì muốn cho họ giữ gìn thân tâm thanh tịnh, và tăng
trưởng đạo niệm)—Not to drink liquor. Not to drink liquor because
it leads to carelessness and loss of all senses. Not to drink will
help us to become careful with all clear senses—The fifth of the ten
commandments against alcohol.
Không
Vọng Ngữ: Musavada-veramani—The fourth commandment of not
to lie or not to speak false speaking—See Bất Vọng Ngữ.
Không
Vô: Tất cả sự vật đều không có tự tính—Unreality, or immateriality,
of things, which is defined as nothing existing of independent or
self-contained nature.
Không
Vô Biên Xứ: Akasanantyayatana (skt)—Tầng trời thứ nhất
của cõi vô sắc giới (chán các thân hình sắc, mong cái không vô biên)—The
state or heaven of boundless (infinite) space in the formless realm—The
abode of the infinite space, the formless, or immaterial world. The
first of the Arupaloka heavens, one of the four Brahmalokas.
Không
Vô Biên Xứ Định: Aksanantyayatana-dhyana (skt)—Thiền định
liên hệ tới cõi không vô biên xứ. Khi phát định trong cõi nầy thì
hành giả chỉ còn cảnh giới là không vô biên xứ, chứ không còn biết
cũng không còn hiểu—The dhyana, or meditation connected with the abode
of the infinite space (the formless or immaterial), in which all thought
of form is suppressed.
Không
Vô Ngã: Không và vô ngã—Unreal and without ego.
Không
Vương: Bhismagarjitasvara raja (skt).
1)
Tên gọi khác của Đức Phật—The king of immateriality—Buddha—Lord
of all things—King of Majestic Voice.
2)
Vị Phật đầu tiên hiện ra trong Không Kiếp trong Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa—The first Buddha to appear in the Kalpa of Emptiness in the
Lotus Sutra.
Không
Vương Phật: Dharmagahanabhyudgata-raja (skt)—Theo Kinh
Pháp Hoa thì Không Vương Phật là tên của một vị Phật ở thời quá khứ,
ngài đã dạy về trí tuệ tánh không hay trí tuệ tuyệt đối—According
to the Lotus Sutra, Buddha who is said to have taught absolute intelligence,
or knowledge of the absolute.
Không
Xâm Phạm Người Khác: Not to infringe upon others.
Không
Xứ: Akasanantyayatana (skt)—See Không Vô Biên Xứ.
Khổng:
1)
Cái lổ: A hole.
2)
Họ của Đức Khổng Phu Tử: Surname of Confucius.
3)
Khổng lồ: Great—Very.
Khổng
Đạo: Confucianism—Hệ thống luân lý đạo đức thoát thai từ
giáo lý của Đức Khổng Phu Tử, nhấn mạnh về lòng hiếu, để, trung, lễ,
tín, công bằng, liêm sĩ. Khổng Tử sanh vào khoảng năm 557-479
trước Tây lịch, người nước Lỗ. Ông sống vào thời luân lý và văn hóa
của Nhà Châu đang suy vi, nên đã cố gắng tìm cách chấn hưng; ông dạy
3.000 đệ tử về thi, sử, lễ và nhạc. Ông là nhà giáo dục vĩ đại của
Trung quốc và được người hiện đời gọi ông là “Vạn Thế Sư Biểu.” Tuy
nhiên, đạo Khổng và đạo Phật hoàn toàn khác biệt nhau. Đạo Khổng chỉ
nặng về gia đình và xã hội, con cái lớn lên lập gia đình, lấy vợ gả
chồng, rồi sanh con đẻ cháu nối dõi tông đường, thờ vua giúp nước,
vân vân. Ngược lại, đạo Phật thì chủ trương việc xuất gia, rời bỏ
gia đình cha mẹ, vợ con, và lục thân quyến thuộc mà đi tu. Cho nên
lúc khởi đầu các học giả Khổng học, khi chưa hiểu thấu suốt về đạo
Phật, cho rằng đạo Phật là tà giáo ngoại đạo, bỏ cha mẹ, vợ con, phá
hoại nền tảng gia đình và xã hội, bất trung bất hiếu. Vì thế mà khi
đạo Phật mới được đưa vào Trung Quốc đã bị các học giả Khổng giáo
quyết liệt chống đối—The system of morality growing out of the teachings
of the Chinese philosopher Confucius, which stressed on filiality,
respect for the elderly, loyality, propriety, faith, justice, decency
and shame. Confucius (557-479) was born in the state of Lu.
He lived in the time when the moral and cultural tradition of Chou
were in rapid decline. In attempting to uphold the Chou culture, he
taught poetry, history, ceremonies and music to about 3,000 diciples.
He was the first Chinese Great Educator that Chinese people still
give him the title “Master of Ten Thousand Years.” However, Confucianism
and Buddhism are totally different. Confucianism emphasizes on the
ideas of family and society. Confucianism emphasizes on teaching children
to grow up, to get married, to bear children and grandchildren, to
continue the family line, to be a productive member in society.
In contrast, Buddhism is founded on the essence of ‘abandoning worldly
ways,’ to leave home, to detach from family, parents, wife, husband,
children, relatives, friends, etc. Therefore, Confucian scholars considered
Buddhism as wicked and false teachings. That was why when Buddhism
was first introduced into China, it was strongly opposed by Confucian
scholars.
Khổng
Giáo: See Khổng Đạo.
Khổng
Mạnh: Confucius and Mencius
Khổng
Tử: Confucius.
Khổng
Tước: Mayura (skt)—Peacocks.
Khổng
Tước Minh Vương: Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng Tước Minh
Vương—Tiền thân của Phật Thích Ca, khi còn là chim khổng tước, ngài
đã từng nút lấy nước từ đá để làm thần dược trị bệnh; bây giờ là một
đại minh vương Bồ Tát một đầu bốn tay, cưỡi chim khổng tước—Peacock
king—A former incarnation of Sakyamuni, when as a peacock he sucked
from a rock water of miraculous healing power; now one of the maharaja
bodhisattva, with four arms, who rides on a peacock.
Khổng
Tước Thành: Mathura—Krsnapura (skt)—Một thành phố hay vương
quốc cổ của Ấn Độ, nơi có rất nhiều tháp—An ancient city and kingdom
of India, famous for its stupas, reputed birthplace of Krisna.
Khổng
Tước Vương: Peacock king—See Khổng Tước Minh Vương.
Khơø:
Stupid—Brainless—Unwise.
Khởi:
To begin—To start.
Khởi
Đầu: To commence—To start.
Khởi
Điểm: Initial point—Starting point.
Khởi
Hành: To start off—To start away.
Khởi
Sự: See Khởi Đầu.
Khởi
Tín Luận: Awakening of Faith.
Khởi
Xướng: To take the initiative.
Khu:
Đuổi—To drive out or away—To expel.
Khu
Long: Người đuổi độc long, từ dùng để chỉ vị a la hán có
phẩm chất và năng lực cao, có thể trừ khử được loài độc long—Dragon-expeller,
a term for an arhat of high character and powers, who can drive away
evil nagas.
Khu
Ô:
1)
Đuổi quạ—To drive away crows—Scarecrow.
2)
See Khu Ô Sa Di.
Khu
Ô Sa Di: Một tu sĩ trẻ, tuổi từ 13 đến 18, có người nói
tuổi từ 7 đến 13, là tuổi còn nhỏ nhưng đủ lớn để đuổi quạ trong những
khu đất quanh chùa—A novice monk who is from 13 to 18 years of age,
some says from seven to thirteen, he being old enough to drive away
crows.
Khù
Khờ: Idiot—Stupid.
Khuất:
1)
Bị che khuất: Hidden.
2)
Cóp xuống: To bend.
3)
Khuất phục: Oppression.
4)
Sai lạc: Wrong.
Khuất
Chi: Kutche or Kutcha (skt)—Khuất Từ—Khố Xa—Quy Tư—Khưu
Tư—Một vương quốc cổ thuộc Turkestan, đông bắc Kashgar—An ancient
kingdom and city in Turkestan, north-east of Kashgar.
Khuất
Đà Ca A Hàm: Khuddakagama (p)—Bộ thứ năm trong năm bộ A
Hàm, chỉ hết thảy tạp kinh chưa kể trong tứ A Hàm kia như Kinh Pháp
Cú, Bổn Sanh Kinh (Tiền Thân Đức Phật), Bổn Sự Kinh (những chuyện
xãy ra trong quá khứ)—The fifth of the Agamas, containing fifteen
or fourteen works, including such as the Dharmapada, Itivrttaka, Jataka,
Buddhavamsa, etc.
** For more information,
please see
Khuddaka-Nikaya in Sanskrit/Pali-
Vietnamese Section.
Khuất
Khuất Sá Ba Đà: Kukkutapadagiri (skt)—Núi Chân Gà, ở xứ
Ma Kiệt Đà, khoảng 100 dậm về phía đông cây Bồ Đề. Theo Eitel trong
Trung Anh Phật Học Từ Điển, núi nầy nằm cách Gaya khoảng 7 dậm về
phía đông nam nơi ngài Ca Diếp nhập Niết Bàn—Cock’s foot, a mountain
said to be 100 miles east of the bodhi tree, and, by Eitel, in The
Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, it is 7 miles south-east
of Gaya, where Kasyapa entered into nirvana.
Khuất
Khuất Sá A Lạm Ma: See Khuất Sá A Lạm Ma.
Khuất
Lãng Na: Kuran (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học
Từ Điển của Giáo Sư Soothill, Khuất Lãng Na là tên của một vương quốc
cổ thuộc Tokhara, bây giờ là Garana, nơi có nhiều mỏ ngọc bích—According
to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this
is an ancient kingdom in Tokhara, the modern Garana, with mines of
lapis lazuli.
Khuất
Lộ Đa:
1)
Một vương quốc cổ nằm về phía bắc Ấn Độ, nổi tiếng vì có nhiều
đền đài xây dựng bằng đá: Kuluta (skt)—An ancient kingdom in north
India, famous for its rock temples.
2)
Một vùng nằm về phía bắc Kangra: A region north of Kangra.
Khuất
Ma La: Khuất Mãn La—Nụ sen hay búp sen chưa nở (trong các
thứ hoa, hoa sen là đẹp nhất, búp sen chưa nở gọi là khuất-ma-la,
khi sen nở xòe gọi là phân-đà-lợi hay pundarika, khi hoa sắp tàn gọi
là ca-ma-la hay kamala)—A lotus bud.
Khuất
Phục: To yield—To give in.
Khuất
Sá A Lạm Ma: Kukkuta-arama (skt)—Tịnh xá được vua A Dục
xây trên núi Chân Gà (theo Tây Vực Ký, vua Vô Ưu tức A Dục Vương đã
xây chùa Kê Viên trên núi Chân Gà, chùa cổ đã bị đỗ nát nhưng nền
cũ vẫn còn)—A monastery built on the Cock’s Foot Mountain by king
Asoka.
Khuất
Sương Nhĩ Ca: Kashanian (skt)—Một vùng gần Kermina—A region
near Kermina.
Khuây
Khỏa: To relieve the time.
Khuấy
Rối: To harass.
Khúc:
1)
Cong: Bent—Crooked.
2)
Gù lưng: Humpbacked.
Khúc
Lục: Ghế tựa trong nhà chùa (làm bằng cách đục gỗ mà thành)—A
bent chair used in monasteries.
Khúc
Nữ Thành: Thành của những người đàn bà lung gù. Người ta
nói đây là thành Kanyakubja, một vương quốc thời cổ và là kinh đô
của Trung Ấn. Theo truyền thuyết trong Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang
thì vì từ chối không kết hôn với Mahavrksa mà 99 nàng công chúa con
vua Brahmadatta đều bị Mahavrksa làm cho gù lưng—The city of hunchback
women, said to be Kanyakubja, an ancient kingdom and capital of central
India. The legend in the Hsuan-Tsang’s Records of Western Lands is
that ninety-nine of King Brahmadatta’s daughters were thus deformed
by the rsi Mahavrksa whom they refused to marry.
Khúc
Xỉ: Kutadanti or Malakutadanti (skt)—Tên của một loài La
Sát Nữ—Name of a Raksasi.
Khuê
Phong Tông Mật: Kuei-Fong-Tsung-Mi—Một thiền sư uyên bác
đời nhà Đường—A Zen master of great learning during the T’ang dynasty.
Khuể:
Sân giận—Hate—Anger—Rage.
Khuể
Kết: Sự trói buộc của sân hận là một trong cửu kết trói
buộc chúng sanh trong luân hồi sanh tử (chúng sanh do làm việc bất
thiện sân hận thù oán, nên chuốc lấy cái khổ sống chết luân chuyển
không ngừng, không sao thoát ra được ba cõi)—One of the nine bonds
that bind men to mortality, the fetter of hatred binding to transmigration—See
Cửu Kết.
Khuể
Nộ: Sân hận và phẫn nộ, một trong tam độc—One of the three
poisons, hate and anger—See Tam Độc.
Khum
Lưng: To curve one’s back.
Khúm
Núm: To cower before someone.
Khùng:
Crazy—Cracked.
Khủng
Bố: Persecution.
Khủng
Khiếp: Dreadful.
Khuôn
Không: Culasunnatasuttam (skt)—Bài Kinh Tiểu Không trong
hệ phái Nguyên Thủy. Kinh dạy về những nguyên tắc thiền quán căn bản—The
Lesser Discourse on Emptiness Sutra of Theravadan Buddhism, which
teaches basic meditation principles.
Khuôn
Mẫu: Example—Model—Pattern
Khuôn
Phép: Discipline.
Khuông
Việt: Thiền Sư Khuông Việt (933-1011)—Zen Master Khuông
Việt—Thiền sư Khuông Việt, đời thứ tư dòng Vô Ngôn Thông, quê ở Cát
Lợi, quận Thường Lạc. Ông là một trong những đệ tử xuất sắc nhất của
Thiền sư Vân Phong. Khi ông được 40 tuổi thì danh tiếng ông đã truyền
đi khắp nơi. Vua Đinh Tiên Hoàng thường mời ông vào triều bàn việc
chính trị và ngoại giao. Vua còn phong cho ông tước vị “Khuông Việt
Đại Sư.” Về già, sư dời về núi Du Hý cất chùa Phật Đà để chấn hưng
và hoằng dương Phật pháp; tuy nhiên, ngài vẫn tiếp tục phục vụ nhà
Đinh cho đến khi thị tịch vào năm 1011, lúc ấy sư đã 79 tuổi—Zen Master
Khuông Việt, the fourth dharma heir lineage of the Wu-Yun-T’ung Sect,
a Vietnamese Zen master from Cát Lợi, Thường Lạc district. He was
one of the most outstanding disciples of Zen Master Vân Phong. When
he was 40 years old, his reputation spread all over the place. King
Đinh Tiên Hoàng always invited him to the Royal Palace to discuss
the national political and foreign affairs. King Đinh Tiên Hoàng honoured
him with the title of “Khuông Việt Great Master.” When he was old,
he moved to Mount Du Hý to build Phật Đà Temple and stayed there to
revive and expand Buddhism; however, he continued to help the Đinh
Dynasty until he died in 1011, at the age of 79.
Khuy
Cơ: Ksi-Ki—Một vị Tăng nổi tiếng vào thời nhà Đường, một
đệ tử xuất sắc của Huyền Trang. Dường như ông là người độc nhất truyền
thừa học thuyết Duy Thức. Pháp Tướng tông quả nhiên là do Khuy Cơ
hệ thống hóa và chính yếu sáng lập nên. Hai sáng tác quan trọng của
Khuy Cơ là Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương, và Thành Duy Thức
Luận Thuật Ký, nghĩa là căn bản của tông phái nầy—A noted monk during
the T’ang Dynasty, an outstanding pupil of Hsuan-Tsang. Ksi-Ki seems
to have monopolized the transmission of the idealistic doctrine. The
Fa-Hsiang School was actually systematized and founded chiefly by
Ksi-Ki. His two important works: Fa-Yuan-I-Lin-Chang and Wei-Shih-Shu-Chi,
are the fundamental texts of this school.
Khuyên
Bảo: To counsel—To advise—To give advice—To recommend.
Khuyên
Can: To dissuade—To advise against—To dissuade someone
from something.
Khuyên
Giải: To console—To comfort.
Khuyên
Ngăn: To advise against—To dissuade.
Khuyến:
Khuyến tấn—To persuade—To amonish—To exhort.
Khuyến
Cáo: To recommend
Khuyến
Chuyển: Lần chuyển Pháp Luân thứ nhì trong ba lần chuyển
Pháp Luân của Phật trong vườn Lộc Uyển. Con người phải hiểu rõ nghĩa
và nguyên nhân của khổ đau phiền não, phải đoạn tận khổ tập, và phải
tu tập theo Bát Chánh Đạo để thành Chánh quả—The second, or exhortation
turn of the Buddha’s wheel in the Deer Park, one of the three turns
of the law-wheel when the Buddha preached in the deer Park. Men must
know the meaning and cause of suffering, cut off its accumulation,
realize that it may be extinguished, and follow the eightfold noble
path to attainment of enlightenment.
Khuyến
Dụ: To counsel—To admonish.
Khuyến
Giới: Dạy làm điều thiện gọi là “khuyến,” ngăn cấm làm
điều ác gọi là “giới.” Giáo pháp của Phật đầy đủ hai môn Khuyến Giới
(như chư ác mạc tác thuộc về Giới Môn, còn chúng thiện phụng hành
thuộc về Khuyến Môn)—Exhortation and prohibition; to exhort and admonish;
exhort to be good and forbid the doing of evil.
Khuyến
Hóa: Khuyến tấn người chuyển hóa—To exhort to conversion,
to convert.
Khuyến
Học: To encourage learning.
Khuyến
Khích: To encourage—To stimulate—To hearten.
Khuyến
Lệ: See Khuyến khích.
Khuyến
Môn: Pháp môn khuyến tấn con người làm việc thiện, đối
lại với “Giới Môn” (ngăn cấm con người làm việc ác)—The method of
exhortation or persuation, in contrast with prohibition or command.
Khuyến
Phát: Khuyến tấn ai bắt đầu sống tu theo Phật—To exhort
to start the the Buddhist way.
Khuyến
Tán: To advise and to help.
Khuyến
Tấn: To advise and to push.
Khuyến
Thiện: To encourage someone in well-doing.
Khuyến
Tu: To encourage everyone to cultivate the Way.
Khuyết:
1)
Bể ra: Broken.
2)
Cửa ngách trong thành: A city gate.
3)
Khiếm khuyết: Không đủ—Insufficient—Deficient—Wanting—Lacking.
Khuyết
Điểm: Defective—Imperfect—Deficient.
Khuyết
Lậu: Người tu giữ giới như bờ đê ngăn nước lũ. Không giữ
giới gọi là khuyết; không giữ giới mà để sai sót lộ ra ngoài gọi là
lậu—A breach and leakage, a breach of the discipline.
Khuynh
Đảo: To overthrow—To subvert—To topple.
Khuynh
Hướng: Tendency—Trend.
Khuynh
Hướng Xấu: Daushthulya (skt)—Evil tendency—Cái tâm thức
phân biệt vốn đã bị khuynh hướng xấu hay tập khí vốn có trong mê lầm
lấn phá từ thời vô thỉ—The discriminating consciousness that is found
infested since beginningless time by the evil tendency or habit-energyinherent
in the delusion.
Khưù:
To go away—To depart—To leave—To remove—To dismiss.
Khứ
Lai: Đi và đến—Go and Come.
Khứ
Lai Kim: Quá khứ, vị lai và hiện tại—Past, future, present.
Khứ
Lai Thực Hữu Tông: Một trong mười sáu tông phái ngoại đạo
chấp rằng quá khứ vị lai và hiện đều là thực hữu—One of the sixteen
heretical sects, which believed in the reality of past and future
as well as present.
Khứ
Thức Xoa Ca La Ni: Siksakarani (skt)—Đột Kiết La.
1)
Một vị Bà La Môn trẻ còn đang tòng học: A young brahman studying
with his preceptor.
2)
Một chương trong Luật Tạng gọi là “Thức Xoa” gồm 100 điều luật
cho người mới xuất gia tu học: A section of the Vinaya called Siksakarani
consisting of 100 regulations with reference to the conduct of novices.
Khử
Độc: To decontaminate.
Khử
Trừ: To eliminate.
Khước:
Khước từ—To reject—To decline.
Khước
Nhập Sanh Tử: Từ bỏ cuộc sống đi trong sanh tử luân hồi
của một vị Bồ Tát—To leave his perfect life to enter into the round
of births and deaths as a Bodhisattva does.
Khương:
Cây gừng—Ginger.
Khương
Kiết La: Kankara (skt)—Con số lớn—A high number.
Khương
Tăng Hội: Sanghavarman or Sanghapala (skt).
1)
Khương Tăng Hội là tên của một nhà sư người Thiên Trúc, dòng
dõi Tây Tạng, nhưng lại có một vị sư khác cũng tên Khương Tăng Hội,
người đã dịch bộ Kinh Vô Lượng Thọ tại thành Lạc Dương vào năm 252
sau Tây Lịch—An Indian monk supposed to be of Tibetan descent; but
Sanghapala is described as the eldest son of the prime minister of
Soghdiana, and is porbably a different person. Sanghavarman was the
one who conducted translation of The Indefinite Life Sutra in Lo-Yang
in 252 A.D.
2)
Khương Tăng Hội, người nước Khương Cư, cha mẹ sang đất Giao
Châu làm ăn buôn bán kiếm sống. Ngài mồ côi cha từ lúc mới lên mười.
Sau đó ngài xuất gia và trở thành một nhà sư nổi tiếng thời bấy giờ.
Ngài thông hiểu Tam Tạng kinh điển. Ngài sang Đông Ngô (bây giờ là
miền Trung nước Tàu) để hoằng dương Phật Pháp. Ngài dịch nhiều kinh
điển từ chữ Phạn ra chữ Hán như Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh An Ban Thủ
Ý, vân vân. Ngài thị tịch khoảng năm 280 sau Tây Lịch—Sanghapala,
a native of Sogdiane, now belongs to China. His parents came to North
Vietnam to do business to earn a living. His father passed away when
he was only ten years old. After that he left home and became
a very famous monk at that time. He thoroughly understood the Tripitaka.
He went to Tung-Wu (now Central China) to expand the Buddha Dharma.
He also translated many sutras from Sanskrit into Chinese such as
the Infinite Life Sutra, the Anapanasati Sutra, etc. He passed away
in around 280 A.D.
Khưu:
1)
Gò đất: A mound—A plot.
2)
Tên riêng của Đức Khổng Phu Tử: Personal name of Confucius.
Khưu
Tĩnh: Một cái giếng khô trên đỉnh đồi, biểu trưng cho tuổi
già—A dry well on a hill top, symbolical of old age.
Kleang:
Tên một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng,
Nam Việt Nam. Chùa được xây cất từ năm 1533 và được trùng tu nhiều
lần. Ngôi chánh điện được trùng tu cách đây 80 năm. Đây là một trong
những ngôi chùa cổ nổi tiếng của thị xã Sóc Trăng—Name of a temple,
located in Sóc Trăng town, Sóc Trăng province, South Vietnam. The
temple was built in 1533 and has been restored many times. The main
hall was restored 80 years ago. This is one of the most ancient famous
temples of Soc Trăng town.
---o0o---
Mục Lục Tự điển Phật Học Việt-Anh
| A | Ba
| Be | Bi
| Bo | Bu
| Ca
| Ch
| Co
| Cu | D
|
Đa
| Đe | Đi
| Đo | Đu
|
| E
| G
| Ha | He
| Hi | Ho
| Hy | I
|
K | La | Le
| Li | Lo
| Lu | Ly
|
| Ma
| Me
| Mi | Mo
| Mu, My |Na
| Ne
| Ng | Nh
| Ni
| No
| Nu
|
| O |
Pha | Phe
| Phi | Pho
| Phu |
Q | R | S
| Ta | Te
|Tha | Thă,
Thâ |
| The | Thi
| Tho | Thu
| Ti | To
| Tr | Tu
| Ty | U
| V |
X | Y|
---o0o---
Mục Lục |
Việt-Anh | Anh -Việt | Phạn/Pali-Việt
| Phụ Lục