KINH QUÁN
NIỆM
SATIPATTHANA
SUTTA
(Theo Kinh
Trung A Hàm—According to the Majjhima Nikaya).
·Tôi
nghe như vầy. Một thuở nọ Thế Tôn ở xứ Câu Lâu, Kiềm Ma Sắt Ðàm
là đô thị của xứ Câu Lâu. Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ Kheo: “Này các
Tỳ Kheo.” Các Tỳ Kheo vâng đáp Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn!” Thế Tôn
thuyết như sau: Thus, I have heard. On one occasion, the Blessed
One was living in the Kuru country at a town of the Kurus named
Kammasadhamma. There He addressed the Bhikkhus thus: “Bhikkhus.”
“Venerable sir,” they replied. The Blessed One said:
·Nầy
các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng
sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng
ngộ Niết Bàn. Ðó là Tứ Niệm Xứ—Bhikkhus, this is the direct path
for the purification of beings, for surmounting (overcoming)
sorrow and lamentation, for the disappearance of pain and grief,
for the attainment of the true Way, for the realization of Nibbana,
namely, the four foundations of mindfulness.
·Thế
nào là bốn? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham
ưu ở đời; sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán niệm tâm thức
trên tâm thức, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham
ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp (hay đối tượng của tâm thức
nơi các đối tượng tâm thức), nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để
chế ngự tham ưu ở đời—What are the four? Here, Bhikkhus, a Bhikkhu
abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and
mindful, having put away covetousness (envy) and grief for the world.
He abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware,
and mindful, having put away covetousness and grief for the world.
He abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful,
having put away covetousness (envy) and grief for the world. He
abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully
aware, and mindful, having put away covetousness (envy) and grief
for the world.
QUÁN THÂN—CONTEMPLATION OF THE BODY
a)
Tỉnh
Thức Về Hơi Thở—Mindfulness of Breathing:
·Và
nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên
thân thể? Này các Tỳ Kheo, ở đây, Tỳ Kheo đi đến khu rừng, đi đến
gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng
và an trú trong chánh niệm trước mặt. Vị ấy thở vô tỉnh giác là
mình đang thở vô; vị ấy thở ra tỉnh giác là mình đang thở ra. Thở
vô một hơi dài, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở vô một hơi dài.”
Thở ra một hơi dài, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở ra một hơi
dài.” Thở vô một hơi ngắn, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở vô một
hơi ngắn.” Thở ra một hơi ngắn, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở
ra một hơi ngắn.” Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập;
“cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập; “An tịnh toàn thân,
tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị
ấy tập. Này các Tỳ Kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ
quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài” hay khi quay
ngắn, vị ấy ý thức rằng: “Tôi quay ngắn.” Cũng vậy, này các Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo thở vô dài, ý thức rằng: “Tôi đang thở vô dài.” Thở ra dài,
ý thức rằng: “Tôi đang thở ra dài.” Thở vô ngắn, ý thức rằng:
“Tôi đang thở vô ngắn.” Thở ra ngắn, ý thức rằng: “Tôi đang thở
ra ngắn.” Vị ấy tập: “Tôi có ý thức rõ rệt về trọn cả hơi thở mà
tôi đang thở vào.” Vị ấy tập: “Tôi có ý thức rõ rệt về trọn cả hơi
thở mà tôi đang thở ra.” Vị ấy tập: “Tôi đang thở vào và làm cho
sự điều hành trong thân thể tôi trở nên an tịnh.” Vị ấy tập: “Tôi
đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên an
tịnh.”—An now, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating the
body as a body? Here a Bhikkhu, gone to the forest or to the root
of a tree or to an empty hut, sit down; having folded his legs crosswise,
set his body erect, and established mindfulness in front of him,
ever mindful he breathes in, mindful he breathes out. Breathing
in long, he understands: “I breathe in long;” or breathing out long,
he understands: “I breathe out long.” Breathing in short, he understands:
“I breathe in short;” or breathing out short, he understands: “I
breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing
the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out
experiencing the whole body of breath.” He trains thus: “I shall
breathe in tranquilizing the bodily formation;” he trains thus:
“I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” Just as
a skilled turner or his apprentice, when making a long turn, understands:
“I make a long turn;” or when making a short turn, understands:
“I make a short turn;” so too, breathing in long, a Bhikkhu understands:
“I breathe in long,” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing
the bodily formation.”
·Như
vậy, khi vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán
niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên
cả nội thân lẫn ngoại thân; hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi
trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân
thể; hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. Hoặc người
ấy quán niệm: “Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với
hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa,
không chấp trước vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ
Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he abides
contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating
the body as a body externally , or he abides contemplating the body
as a body both internally and externally. Or else, he abides contemplating
in the body its arising factors, ot he abides contemplating in the
body its vanishing factors, or he abides contemplating in the body
both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that
‘there is a body’ is simply established in him to the extent necessary
for bare knowledge and mindfulness. And, he abides independent,
not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides
contemplating the body as a body.
b)
Tứ
Oai Nghi—The Four Postures:
·Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi, ý thức rằng: “Tôi đang đi.” Khi
đứng, ý thức rằng: “Tôi đang đứng.” Khi ngồi, ý thức rằng: “Tôi
đang ngồi.” Khi nằm, ý thức rằng: “Tôi đang nằm.”Thân thể được xử
dụng như thế nào, vị ấy ý thức thân thể như thế ấy—Again, Bhikkhus,
when walking, a Bhikkhu understands: “I am walking;” when standing,
he understands: “I am standing;” when sitting, he understands: “I
am sitting;” when lying down, he understands: “I am lying down;”
or he understands accordingly however his body is disposed.
·Vị
ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay vị ấy sống quán niệm
thân thể trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán niệm thân thể trên
cả nội thân lẫn ngoại thân; hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi
trên thân thể; hay vị ấy sống quán niệm tánh diệt tận trên thân
thể; hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có
thân đây,” vị ấy an trú trong chánh niệm như vậy, với hy vọng
hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời nầy. Này các Tỳ Kheo, như vậy
là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he
abides contemplating the body as a body internally, externally,
and both internally and externally. And he abides independent, not
clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides
contemplating the body as a body.
c)
Hoàn
Toàn Tỉnh Thức—Full Awareness:
·Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo khi bước tới bước lui, biết rõ việc
mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm;
khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mặc áo
Tăng Già Lê, mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn,
uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiểu tiện,
biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói,
im lặng, biết rõ các việc mình đang làm—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu
is one who acts in full awareness when going forward and returning;
who acts in full awareness when looking ahead and looking away;
who acts in full awareness when flexing and extending his limbs;
who acts in full awareness when wearing his robes and carrying his
outer robe and bowl; who acts in full awareness when eating , drinking,
consuming food and tasting; who acts in full awareness when walking,
standing, siting, falling asleep, waking up, talking and keeping
silent.
·Như
vậy, vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán
niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên
cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi
trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay
sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấyan
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a
body internally, externally, and both internally and externally.
And, he abides independent, not clinging to anything in ttheworld.
That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.
d)
Thân
Uế Trược—Foulness of the Body Parts:
·Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy, từ gót chân trở
lên và từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy
những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Ðây là tóc, lông,
móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách
mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu,
mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương,
nước tiểu.” Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống
đựng đầy các loại hạt như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã
xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan
sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu
lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi.” Cũng vậy, nầy các Tỳ
Kheo, một Tỳ Kheo quan sát thân nầy dưới từ bàn chân trở lên trên
cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh
khác nhau. Trong thân nầy: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt,
gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột,
màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt,
mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.”—Again,
Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body up from the soles of
the feet and down from the top of the hair, bounded by skin, as
full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs,
body-hairs, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone-marrow,
kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, large intestines,
small intestines, contents of the stomach, feces, bile, phlegm,
pus, blood, sweat, fat, tears, grease, spittle, snot, oil of the
joints, and urine.” Just as though there were a bag with an opening
at both ends full of many sorts of grain, such as hil rice, red
rice, beans, peas, millet, and white rice, and a man with good eyes
were to open it and review it thus: “This is hill rice, this is
red rice, these are beans, these are peas, this is millet, this
is white rice;” so too, a Bhikkhu reviews this same body... as full
of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs
and urine.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm
thân trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân
lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân
thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay sống quán
niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy
các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân
thể—In this way he abides contemplating the body as a body internally,
externally, and both internaly and externally... And, he abides
independent, not clinging to anything in the world. That too is
how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body—See# 5.
e)
Thân
Tứ Ðại—Elements of the Body:
·Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy về các vị trí các
giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại,
hỏa đại, và phong đại.” Nầy các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện
xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia
từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán
sát thấy thân nầy về vị trí các giới: “Trong thân nầy có địa đại,
thủy đại và phong đại.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this
same body, however it is placed, however disposed, as consisting
of elements thus: “In this body there are the earth element, the
water element, the fire element, and the air element.” Just as though
a skilled butcher or his apprentice had killed a cow and was seated
at the crossroads with it cut up into pieces; so too, a Bhikkhu
reviews this same body... as consisting of elements thus: “In this
body there are the earth element, the water element, the fire element
and the air element.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm
thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội
thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên
thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống
quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a
body internally, externally, and both internally and externally...
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body
f-n)
Cửu Quán Về Nghĩa Ðịa—The Nine Charnel Ground Contemplations:
·Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong
nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên,
xanh đen lại, nát thối ra. Tỳ Kheo quán niệm- thân thể ấy như sau:
‘Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt
khỏi tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a
corpse thrown aside in a charnel ground, one, two, or three days
dead, bloated, livid, and oozing matter, a Bhikkhu compares this
same body with it thus: “This body too is of the same nature, it
will be like that, it is not exempt from that fate.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm
thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội
thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên
thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay sống
quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấy an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a
body internally, externally, and both internaly and externally.
And, he abides independent, not clinging to anything in the world.
That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.
·Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong
nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay
bị các chim kên kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài
giả can ăn, hay bị các loài dòi bọ rúc rỉa. Tỳ Kheo quán chiếu sự
thực ấy vào thân thể của chính mình: “Thân nầy tánh chất là như
vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again,
as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground,
being devoured by crows, hawks, vultures, dogs, jackals, or various
kinds of worms, a Bhikkhu compares this same body with it thus:
“This body too is of the same nature, it will be like that, it is
not exempt from that fate.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm
thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội
thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên
thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống
quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể—That too is how a Bhikkhu abides contemplating the
body as a body.
·Nầy
các Tỳ Kheo, lại nữa, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong
nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt
và máu, còn được nối liền bởi các đường gân..., với các bộ xương
còn liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng còn dính máu,
còn được các đường gân cột lại với nhau..., với các bộ xương không
còn dính thịt, không còn dính máu, không còn được các đường gân
cột lại với nhau, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rãi
rác chỗ nầy chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở
đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở
đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân
ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy,
không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, as though he were to
see a corpse thrown aside in a charnel ground, a skeleton with flesh
and blood, held together with sinews... a fleshless skeleton smeared
with blood, held together with sinews... a skeleton without flesh
and blood, held together with sinews.. disconnected bones scattered
in all directions, here a hand-bone, there a foot-bone, here a shin-bone,
there a thigh-bone, here a hip-bone, there a back-bone, here a rib-bone,
there a breast-bone, here an arm-bone, there a shoulder-bone, here
a neck-bone, there a jaw-bone, here a tooth, there the skull, a
Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is
of the same nature, it will be like that, it is not exempt from
that fate.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm
thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội
thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên
thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống
quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể—That too is how a Bhikkhu abides contemplating the
body as a body.
·Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong
nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc..., chỉ còn một đống
xương lâu hơn ba năm..., chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỳ
Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy,
bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again,
Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel
ground, bones bleached white, the color of shells; bones heaped
up, more than a year old; bones rotted and crumbled to dust, a Bhikkhu
compares this same body with it thus: “This body too is of the same
nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm
thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội
thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên
thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống
quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể
trên thân thể—In this way he abides contemplating the body as a
body internally, or he abides contemplating the body as a body internally,
or he abides contemplating the body as a body externally, or he
abides contemplating the body as a body both internally and externally.
Or else he abides contemplating in the body its arising factors,
or he abides contemplating in the body its vanishing factors, or
he abides contemplating in the body both its arising and vanishing
factors. Or else mindfulness that ‘there is a body’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as
a body.
QUÁN THỌ—CONTEMPLATION OF FEELING
·Nầy
các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên
các cảm thọ? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo khi cảm giác lạc thọ,
vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc.” Mỗi khi có
một cảm thọ đau khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ
đau khổ.” Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau
khổ, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ không khoái lạc
cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, vị ấy
ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất.” Khi có
một cảm thọ khoái lạc tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có
một cảm thọ khoái lạc tinh thần.” Khi có một cảm thọ khổ đau vật
chất, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau vật chất.”
Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang
có một cảm thọ khổ đau tinh thần.” Khi có một cảm thọ vật chất không
khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức rằng: “Ta đang có một
cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một
cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ý thức
rằng: “Ta đang có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không
khổ đau.”—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating
feelings as feelings? Here, when feeling a pleasant feeling, a Bhikkhu
understands: “I feel a pleasant feeling;” when feeling a painful
feeling, he understands: “I feel a painful feling;” when feeling
a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel
a neither-painful-nor-pleasant feeling.” When feeling a worldly
pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly pleasant feling;”
when feeling an unworldly pleasant feling, he understands: “I feel
an unworldly pleasant feeling;” when feeling a worldly painful feeling,
he understands: “I feel a worldly painful feeling;” when feeling
an unworldly painful feeling, he understands: “I feel an unworldly
painful feeling;” when feeling a worldly neither-painful-nor pleasant
feeling, he understands: “I feel a worldly neither-painful-nor-pleasant
feeling;” when feeling an unworldly neither-painful-nor-pleasant
feeling, he understands: “I feel an unworldly neither-painful-nor-pleasant
feeling.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm cảm thọ trên các nội thọ; hay sống quán
niệm cảm thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán cảm thọ thể trên
cả nội thọ lẫn ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi
trên các thọ; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các thọ. Hay
sống quán niệm tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây, vị ấy an
trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.
Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên
đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ
trên các cảm thọ—In this way he abides contemplating feelings as
feelings internally, or he abides contemplating feelings as feelings
externally, or he abides contemplating feelings as feelings both
internally and externally. Or else he abides contemplating in feelings
their arising factors, or he abides contemplating in feelings their
vanishing factors, or he abides contemplating in feelings both their
arising and vanishing factors. Or else, mindfulness that ‘there
is feeling’ is simply established in him to the extent necessary
for bare knowledge and mindfulness. And, he abides independent,
not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides
contemplating feelings as feelings.
QUÁN TÂM—CONTEMPLATION OF MIND
·Nầy
các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức nơi
tâm thức? Nầy các Tỳ Kheo, mội khi nơi tâm thức có tham dục, vị
ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang có tham dục. Mỗi khi tâm thức
không có tham dục, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình không có
tham dục. Mỗi khi trong tâm thức mình có sân hận, vị ấy ý thức rằng
tâm thức của mình đang có sân hận. Mỗi khi tâm thức của mình không
có sân hận, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có sân
hận. Mỗi khi tâm thức mình có si mê, vị ấy ý thức rằng tâm thức
của mình đang si mê. Mỗi khi tâm thức của mình không có si mê, vị
ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có si mê. Mỗi
khi tâm thức mình có thu nhiếp, vị ấy ý thức rằng tâm thức
của mình đang có thu nhiếp. Mỗi khi tâm thức mình tán loạn, vị ấy
ý thức rằng tâm thức của mình đang tán loạn. Mỗi khi tâm thức mình
trở thành khoáng đạt, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang trở
thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức mình trở nên hạn hẹp, vị ấy ý
thức rằng tâm thức của mình đang trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức
mình đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức của
mình đang đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình không
đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ý thức rằng tâm thức mình không
đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức mình có định, vị ấy
ý thức rằng tâm thức của mình đang có định. Mỗi khi tâm thức mình
không có định, vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có
định. Mỗi khi tâm thức mình giải thoát, vị ấy ý thức rằng tâm thức
của mình đang giải thoát. Mỗi khi tâm thức mình không có giải thoát,
vị ấy ý thức rằng tâm thức của mình đang không có giải thoát—An
how, Bhikkhus, doeas a Bhikhu abide contemplating mind as mind?
Here a Bhikhu understands mind affected by lust as mind affected
by lust, and mind unaffected by lust as mind unaffected by lust.
He understands mind affected by hate as mind affected by hate, and
mind unaffected by hate as mind unaffected by hate. He understands
mind affected by delusion as mind affected by delusion, and mind
unaffected by delusion as mind unaffected by delusion. He understands
contracted mind as contracted mind, and distracted mind as distracted
mind. He understands exalted mind as exalted mind, and unexalted
mind as unexalted mind. He understands surpassed mind as surpassed
mind, and unsurpassed mind as unsurpassed mind. He understands concentrated
mind as concentrated mind, and unconcentrated mind as unconcentrated
mind. He understands liberated mind as liberated mind, and unliberated
mind as unliberated mind.
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm tâm thức trên nội tâm; hay sống quán niệm
tâm thức trên cả nội tâm lẫn ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán niệm
tánh sanh khởi trên tâm thức; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên
tâm thức. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên tâm thức. “Có tâm
đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh
trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước
một vật gì trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán
niệm tâm thức trên các tâm thức—In this way he abides contemplating
mind as mind internally, or he abides contemplating mind as mind
externally, or he abides contemplating mind as mind both internally
and externally. Or else, he abides contemplating in mind its arising
factors, or he abides contemplating in mind its vanishing factors,
or he abides contemplating in mind both its arising and vanishing
factors. Or else mindfulness that ‘there is mind’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That is how a Bhikkhu abides contemplating mind as mind.
QUÁN PHÁP—CONTEMPLATION OF MIND-OBJECTS
(A)
Năm
Triền Cái—The Five Hindrance: Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo
sống quán niệm pháp trên các pháp? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo
sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái (năm món
ngăn che). Và nầy các Tỳ Kheo, thế nào là các Tỳ Kheo sống quán
niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái?—An how, Bhikkhus,
does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects?
Here a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the five hindrances. And how does a Bhikkhu abide contemplating
mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances?
1)
Nầy
các Tỳ Kheo, ở đây nội tâm Tỳ Kheo có ái dục, vị ấy ý thức rằng
nội tâm của mình đang có ái dục. Khi nội tâm không có ái dục, vị
ấy ý thức rằng nội tâm của mình không có ái dục. Và với ái dục chưa
sanh nay sanh khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi
một niệm ái dục đã sanh, vị ấy ý thức được sự đã sanh khởi ấy. Khi
ái dục đang được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy
ý thức như vậy—Here, there being sensual desire in him, a Bhikkhu
understands: “There is sensual desire in me;” or there being no
sensual desire in him, he understands: “There is no sensual desire
in me;” and he also understands how there comes to be the
arising of unarisen sensual desire, and how there comes to be the
abandoning of arisen sensual desire, and how there comes to be the
future non-arising of abandoned sensual desire.
2)
Khi
nội tâm có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang có sân hận.
Khi nội tâm không có sân hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang
không có sân hận. Khi một niệm sân hận chưa sanh nay bắt đầu sanh
khởi, vị ấy ý thức được sự bắt đầu sanh khởi ấy. Khi một niệm sân
hận đã sanh khởi, nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn
diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được đoạn diệt và tương lai không
còn sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being ill-will
in him, a Bhikkhu understands: “There is ill-will in me;” or there
being no ill-will in him, he understands: “There is no ill-will
in me;” and he also understands how there comes to be the
arising of unarisen ill-will, and how there comes to be the abandoning
of arisen ill-will, and how there comes to be the future non-arising
of abandoned ill-will.
3)
Khi
nội tâm có hôn trầm thụy miên (mê muội và buồn ngủ), vị ấy ý thức
được sự hôn trầm thụy miên ấy. Khi nội tâm không có hôn trầm thụy
miên, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang không có hôn trầm
thụy miên. Khi hôn trầm và thụy miên chưa sanh nay bắt đầu sanh
khởi, vị ấy ý thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi hôn trầm và thụy
miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đang đoạn
diệt ấy. Khi hôn trầm và thụy miên đã được đoạn diệt và tương lai
không thể sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được điều đó—There being sloth
and torpor in him, a Bhikkhu understands: “There are sloth and torpor
in me;” or there being no sloth and torpor in him, he understands:
“There are no sloth and torpor in me;” and he also understands how
there comes to be the arising of unarisen sloth and torpor,
and how there comes to be the abandoning of arisen sloth and torpor,
and how there comes to be the future non-arising of abandoned sloth
and torpor.
4)
Khi
nội tâm có trạo hối (sự dao động bất an và hối hận), vị ấy ý thức
rằng mình đang có dao động bất an và hối hận. Khi nội tâm không
có dao động bất an và hối hận, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang
không có sự dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an
và hối hận sanh khởi, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình đang sanh khởi
dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận đã sanh
nay được đoạn diệt, vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với dao động
bất an và hối hận đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi
nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being restlessness and remorse
in him, a Bhikkhu understands: “There are restlessness and remorse
in me;” or there being no restlessness and remorse in him, he understands:
“There are no restlessness and remorse in me;” and he also understands
how there comes to be the arising of unarisen restlessness
and remorse, and how there comes to be the abandoning of arisen
restlessness and remorse, and how there comes to be the future non-arising
of abandoned restlessness and remorse.
5)
Khi
nội tâm có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm của mình đang có nghi.
Khi nội tâm không có nghi, vị ấy ý thức được nội tâm mình đang không
có nghi. Khi nội tâm với nghi chưa sanh nay đang sanh khởi, vị ấy
ý thức được sự sanh khởi ấy. Với nghi đã sanh nay được đoạn diệt,
vị ấy ý thức được sự đoạn diệt ấy. Với nghi đã được đoạn diệt, tương
lai không sanh khởi nữa, vị ấy ý thức được như vậy—There being doubt
in him, a Bhikkhu understands: “There is doubt in me;” or there
being no doubt in him, he understands: “There is no doubt in me;”
and he also understands how there comes to be the arising
of unarisen doubt, and how there comes to be the abandoning of arisen
doubt, and how there comes to be the future non-arising of abandoned
doubt.
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp
lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán
niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy
các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp—
In this way he abides contemplating mind-objects as mind-objects
internally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects
externally, or he abides contemplating mind-objects as mind-objects
both internally and externally. Or else he abides contemplating
in mind-objects their arising factors, or he abides contemplating
in mind-objects their vanishing factors, or he abides contemplating
in mind-objects both their arising and vanishing factors. Or else
mindfulness that ‘there are mind-objects’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the five hindrances.
(B)
Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với ngũ uẩn. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp
trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán
chiếu như sau: Again, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating mind-objects
as mind-objects in terms of the five aggregates affected by clinging.
And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the five aggregates affected by clinging? Here a Bhikkhu
understands:
1)
Ðây
là sắc (hình thể), đây là sắc tập (sự phát sinh ra hình thể), đây
là sắc diệt—Such is material form, such its origin, such its disappearance.
2)
Ðây
là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt—Such is feeling, such its
origin, such its disappearance.
3)
Ðây
là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt—Such is perception,
such its origin, such its disappearance.
4)
Ðây
là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt—Such are the formations,
such their origin, such their disappearance.
5)
Ðây
là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt—Such is consciousness,
such its origin, such its disappearance.
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp
lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán
niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy
các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với ngũ uẩn—In this way, he abides contemplating mind-objects
as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects both internally and externally. Or else he abides
contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides
contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides
contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors.
Or else mindfulness that ‘there are mind-objects’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the five aggregates.
(C)
Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với sáu nội ngoại xứ. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống
quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ?—Again, Bhikkhus,
a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms
of the six internal and external bases. And how does a Bhikkhu abide
contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the six internal
and external bases?
1)
Vị
ấy ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc và về những ràng
buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Vị ấy ý thức về những ràng buộc
chưa sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã
phát sanh nay được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã
được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands
the eye, he understands forms, and he understands the fetter that
arises dependent on both; and he understands how there comes to
be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to be
the future non-arising of the abandoning fetter.
2)
Vị
ấy ý thức về tai và đối tượng của tai là âm thanh và về những ràng
buộc tạo nên do tai và âm thanh. Vị ấy ý thức về những ràng buộc
chưa sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã
sanh, nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã
được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu
understands the ear, he understands sounds, and he understands the
fetter that arises dependent on both; and he understands how there
comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes
to be the future non-arising of the abandoning fetter.
3)
Vị
ấy ý thức về lổ mũi và đối tượng của mũi là mùi hương và những ràng
buộc tạo nên do lổ mũi và mùi hương. Vị nầy ý thức về những ràng
buộc chưa phát sanh nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng
buộc đã phát sanh và đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những
ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here
a Bhikkhu understands the nose, he understands odours, and he understands
the fetter that arises dependent on both; and he understands how
there comes to be the arising of the unarisen fetter, and how there
comes to be the future non-arising of the abandoning fetter.
4)
Vị
ấy ý thức về cái lưỡi và đối tượng của lưỡi là vị nếm và những
ràng buộc tạo nên do cái lưỡi và vị nếm. Vị ấy ý thức về những ràng
buộc chưa phát sanh nay đang phát sanh. Vị ấy ý thức về những ràng
buộc đã phát sanh nay đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những
ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—
Here a Bhikkhu understands the tongue, he understands flavours,
and he understands the fetter that arises dependent on both; and
he understands how there comes to be the arising of the unarisen
fetter, and how there comes to be the future non-arising of the
abandoning fetter.
5)
Vị
ấy ý thức về thân và đối tượng của thân là sự xúc chạm. Vị ấy ý
thức về những ràng buộc chưa sanh khởi nay đang được sanh
khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh khởi đang được đoạn
tận. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã được đoạn diệt, tương lai
không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands the body, he
understands tangibles, and he understands the fetter that arises
dependent on both; and he understands how there comes to be the
arising of the unarisen fetter, and how there comes to be the future
non-arising of the abandoning fetter.
6)
Vị
ấy ý thức về đối tượng của ý là tư tưởng và về những ràng buộc tạo
nên do ý là tư tưởng. Vị ấy ý thức về những ràng buộc chưa sanh
khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã sanh
khởi đang được đoạn diệt. Vị ấy ý thức về những ràng buộc đã đoạn
diệt, tương lai không còn sanh khởi nữa—Here a Bhikkhu understands
the mind, he understands mind-objects, and he understands the fetter
that arises dependent on both; and he understands how there comes
to be the arising of the unarisen fetter, and how there comes to
be the future non-arising of the abandoning fetter.
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp
lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán
niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy
các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với sáu nội ngoại xứ—In this way he abides contemplating mind-objects
as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects both internally and externally. Or else he abides
contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides
contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides
contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors.
Or else mindfulness that ‘there are mind-objects’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the six internal and external bases.
(D)
Lại
nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên pháp đối
với thất giác chi. Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán
pháp trên pháp đối với thất giác chi?—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu
abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the
seven enlightenment factors. And how does a Bhikkhu abide contemplating
mind-objects as mind-objects in terms of the seven enlightenment
factors?
1)
Khi
nội tâm có niệm giác chi (yếu tố chánh niệm), vị ấy ý thức là mình
có chánh niệm. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có chánh niệm.
Khi không có chánh niệm, vị ấy ý thức rằng tâm mình không có chánh
niệm. Vị ấy ý thức về chánh niệm chưa sanh khởi nay đang sanh khởi.
Vị ấy ý thức về chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu viên
mãn—Here, there being the mindfulness enlightenment factor in him,
a Bhikkhu understands: “There is the mindfulness enlightenment factor
in me;” or there being no mindfulness enlightenment factor in him,
he understands: “There is no mindfulness enlightenment factor In
me; and also understands how there comes to be the arising
of the unarisen mindfulness enlightenment factor, and how the arisen
mindfulness enlightenment factor comes to fulfilment by development.”
2)
Khi
nội tâm có trạch giác chi (giám định đúng sai thiện ác). Vị ấy ý
thức là mình đang có sự phân định đúng sai thiện ác. Vị ấy quán
chiếu rằng tâm mình đang có sự giám định đúng sai thiện ác. Khi
không có sự giám định, vị ấy ý thức là mình đang không có sự giám
định. Vị ấy ý thức về một sự giám định chưa sanh nay đang sanh khởi.
Vị ấy ý thức về một sự giám định đã sanh khởi nay đang thành tựu
viên mãn—Here, there being the investigation-of-states enlightenment
factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the investigation-of-states
enlightenment factor in me;” or there being no investigation-of-states
enlightenment factor in him, he understands: “There is no investigation-of-states
enlightenment factor In me; and also understands how there comes
to be the arising of the unarisen investigation-of-states
enlightenment factor, and how the arisen investigation-of-states
enlightenment factor comes to fulfilment by development.”
3)
Khi
nội tâm có tinh tấn giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có sự tinh
chuyên. Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có sự tinh chuyên. Khi
nội tâm không có sự tinh chuyên, vị ấy ý thức rằng tâm mình không
có sự tinh chuyên. Vị ấy ý thức về một sự tinh chuyên chưa sanh
khởi nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự tinh chuyên đã sanh
khởi nay đang đi đến thành tựu viên mãn— Here, there being the energy
enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the
energy enlightenment factor in me;” or there being no energy enlightenment
factor in him, he understands: “There is no energy enlightenment
factor in me;” and also understands how there comes to be the arising
of the unarisen energy enlightenment factor, and how the arisen
energy enlightenment factor comes to fulfilment by development.
4)
Khi
nội tâm có hỷ giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có an vui. Vị
ấy quán chiếu rằng tâm mình đang an vui. Khi nội tâm không có an
vui, vị ấy ý thức là mình đang không có an vui. Vị ấy ý thức về
niềm an vui chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về
niềm an vui đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn—Here,
there being the rapture enlightenment factor in him, a Bhikkhu understands:
“There is the rapture enlightenment factor in me;” or there being
no rapture enlightenment factor in him, he understands: “There is
no rapture enlightenment factor in me; and also understands how
there comes to be the arising of the unarisen rapture enlightenment
factor, and how the arisen rapture enlightenment factor comes to
fulfillment by development.
5)
Khi
nội tâm có khinh an giác chi, vị ấy ý thức tâm mình đang có khinh
an (nhẹ nhõm). Vị ấy quán chiếu rằng tâm mình đang có khinh an.
Khi nội tâm không có khinh an, vị ấy ý thức rằng nội tâm mình không
có sự khinh an. Vị ấy ý thức về sự khinh an chưa sanh khởi, nay
đang sanh khởi. Vị ấy ý thức về sự khinh an đã sanh khởi, nay đang
đi đến thành tựu viên mãn—Here, there being the tranquility enlightenment
factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the tranquility
enlightenment factor in me;” or there being no tranquility enlightenment
factor in him, he understands: “There is no tranquility enlightenment
factor In me; and also understands how there comes to be the arising
of the unarisen tranquility enlightenment factor, and how the arisen
tranquility enlightenment factor comes to fulfillment by development.
6)
Khi
nội tâm có định giác chi, vị ấy ý thức là mình đang có định. Khi
nội tâm không có định, vị ấy ý thức là mình đang không có định.
Khi định chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi, vị ấy ý thức như vậy.
Khi định đã sanh khởi, nay đang đi đến thành tựu viên mãn, vị ấy
cũng ý thức như vậy—Here, there being the concentration enlightenment
factor in him, a Bhikkhu understands: “There is the concentration
enlightenment factor in me;” or there being no concentration enlightenment
factor in him, he understands: “There is no concentration enlightenment
factor in me;” and also understands how there comes to be the arising
of the unarisen concentration enlightenment factor, and how the
arisen concentration enlightenment factor comes to fulfillment by
development.
7)
Khi
nội tâm có xả giác chi, vị ấy ý thức là mình đang buông xả. Vị ấy
quán chiếu là tâm mình có buông xả. Khi nội tâm không có sự buông
xả, vị ấy ý thức là tâm mình đang không có sự buông xả. Vị ấy ý
thức về sự buông xả chưa sanh khởi, nay đang sanh khởi. Vị ấy ý
thức về sự buông xả đã sanh khởi, nay đang đi đế sự thành tựu viên
mãn—Here, there being the equanimity enlightenment factor in him,
a Bhikkhu understands: “There is the equanimity enlightenment factor
in me;” or there being no equanimity enlightenment factor in him,
he understands: “There is no equamity enlightenment factor in me;”
and also understands how there comes to be the arising of
the unarisen equanimity enlightenment factor, and how the arisen
equanimity enlightenment factor comes to fulfillment by development.
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp
lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán
niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy
các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với thất giác chi—In this way he abides contemplating mind-objects
as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects both internally and externally. Or else he abides
contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides
contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides
contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors.
Or else mindfulness that ‘there are mind-objects’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the seven enlightenment factors.
(E)
Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với Tứ Diệu Ðế. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán
pháp trên các pháp đối với bốn sự thật cao quý? Nầy các Tỳ Kheo,
ở đây Tỳ Kheo ý thức: “Khi sự kiện là đau khổ, vị ấy quán niệm đây
là đau khổ. Khi sự kiện là nguyên nhân tạo thành đau khổ, vị ấy
quán niệm đây là nguyên nhân tạo thành sự đau khổ. Khi sự kiện là
sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán chiếu đây là sự chấm dứt khổ đau.
Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, vị ấy quán
niệm đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.”—Again, Bhikkhus,
a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms
of the Four Noble Truths. And how does a Bhikkhu abide contemplating
mind-objects as mind-objects in terms of the Four Noble Truths?
Here a Bhikkhu understands as it actually is: “This is suffering;”
he understands as it actually is: “This is the origin of suffering;”
he understands as it actually is: “This is the cessation of suffering;”
he understands as it actually is: “This is the way leading to the
cessation of suffering.”
·Như
vậy vị ấy sống quán niệm pháp trên các nội pháp; hay sống quán niệm
pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán niệm pháp trên cả nội pháp
lẫn ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các
pháp; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các pháp. Hay sống quán
niệm tánh sanh diệt trên các pháp. “Có pháp đây, vị ấy an trú chánh
niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị
ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Nầy
các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp
đối với Tứ Diệu Ðế—In this way he abides contemplating mind-objects
as mind-objects internally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects externally, or he abides contemplating mind-objects
as mind-objects both internally and externally. Or else he abides
contemplating in mind-objects their arising factors, or he abides
contemplating in mind-objects their vanishing factors, or he abides
contemplating in mind-objects both their arising and vanishing factors.
Or else mindfulness that ‘there are mind-objects’ is simply established
in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness.
And he abides independent, not clinging to anything in the world.
That is how a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects
in terms of the Four Noble Truths.
(F)
Nầy
các Tỳ Kheo, vị nào tu tập Tứ Niệm Xứ nầy như vậy trong bảy năm,
vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng
Chánh Trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư báo, thì
cũng đạt được quả vị Bất Hoàn (không còn tái sanh nữa). Nầy các
Tỳ Kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị Tỳ Kheo nào tu tập Tứ
Niệm Xứ nầy như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm,
trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một
trong hai quả vị sau đây: Một là chứng được Chánh Trí trong hiện
tại, hay nếu còn hữu dư báo, thì chứng quả Bất Hoàn. Nầy các Tỳ
Kheo, không cần gì đến một năm, một vị Tỳ Kheo nào tu tập Tứ Niệm
Xứ nầy như vậy trong vòng bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong
hai quả vị sau đây: Một là chứng được Chánh Trí trong hiện tại,
hay nếu còn hữu dư báo, thì chứng quả Bất Hoàn. Nầy các Tỳ Kheo,
không cần gì đến bảy tháng, một vị Tỳ Kheo nào tu tập Tứ Niệm Xứ
nầy như vậy trong vòng sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng,
trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng,
vị ấy có thể chứng một trong hai quả vị sau đây: Một là chứng được
Chánh Trí trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư báo, thì chứng quả
Bất Hoàn. Nầy các Tỳ Kheo, không cần gì đến nửa tháng, một vị Tỳ
Kheo nào tu tập Tứ Niệm Xứ nầy như vậy trong vòng bảy ngày, vị ấy
có thể chứng một trong hai quả vị sau đây: Một là chứng được Chánh
Trí trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư báo, thì chứng quả Bất Hoàn—Bhikkhus,
if anyone should develop these four foundations of mindfulness
in such a way for seven years, one of two fruits could be expected
for him: either final knowledge here and now, or if there is a trace
of clinging left, non-return. Let alone seven years, Bhikkhus. If
anyone should develop these four foundations of mindfulness in such
a way for six years, for five years, for four years, for three years,
for two years or for one year, one of two fruits could be expected
for him: either final knowledge here and now, or if there
is a trace of clinging left, non-return. Let alone one year, Bhikkhus.
If anyone should develop these four foundations of mindfulness in
such a way for seven months, for six months, for five months, for
four months, for three months, for two months, for one monthor for
half a month, one of two fruits could be expected for him:
either final knowledge here and now, or if there is a trace of clinging
left, non-return.
(G)
Nầy
các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng
sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ứu, thành tựu Chánh Trí, chứng
ngộ Niết Bàn. Ðó là Bốn Niệm Xứ. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các
Tỳ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn—Bhikkhus, this is
the direct path for the purification of beings, for surmounting
(overcoming) sorrow and lamentation, for the disappearance of pain
and grief, for the attainment (achievement) of the true Way, for
the realization of Nibbana, namely, the four foundations of mindfulness.
That is what the Blessed One said. The Bhikkhus were satisfied and
delighted in the Blessed One’s words.
Phật
Ngôn và Tổ Ngôn—The
Buddha’s Words and the Patriarchs’ Words:
Quá
khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả
đắc: The mind of the past, the present and the future is indeed
unreal.
Kinh
Kim Cang—The
Diamond Sutra
Gốc
rễ của sanh tử luân hồi là lục căn: The root of birth and death
is the six senses.
Kinh
Niết Bàn—The Nirvana Sutra
Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận
thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
This
body, like lightning, appears, then disappears.
Plants
and trees are fresh in the Spring, wither in the Fall.
Just
look at the prosperity and decadence without fear.
They
are all like dewdrops on the tips of grass.
Zen
Master Vạn Hạnh
Bồ
đề bổn vô thọ, minh cảnh diệt phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ
nhạ trần ai?
Bodhi
is actually not a tree, the mirror bright is nowhere shinning, basically
there is nothing in the first place, where can the dust be accumulated?
The
Sixth Patriarch Hui-Neng