|
Tòa soạn |
|
|
Tòa soạn
|
|
Người viết Ban Biên Tập
|
|
ngày 03, tháng 09, năm 2008 |
|
BÁO VIÊN GIÁC SỐ 166 TẠP CHÍ CỦA KIỀU BÀO VÀ PHẬT TỬ VIỆT NAM TỴ NẠN TẠI CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC Zeitschrif der Vietnamesen und Buddhistischen Vietnam - Flüchtlinge imn der Bundesrepublik Deutschland PL.2552 - Năm thứ 30 (08.2008 ) |
|
Đọc tiếp...
|
|
Thư tòa soạn |
|
|
Tòa soạn
|
|
Người viết Ban Biên Tập
|
|
ngày 03, tháng 09, năm 2008 |
|
Sau năm 1963, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được ra đời tại Chùa Xá Lợi và kể từ đó đến nay Giáo Hội đã kế thừa công cuộc hoằng truyền giáo pháp của Như Lai trong suốt thời gian gần hai ngàn năm lịch sử, kể từ khi Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam. Giáo Hội có hai cơ quan quan trọng. Đó là Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo. Viện Tăng Thống do Đức Tăng Thống và Hội Đồng Giáo Phẩm đạo cao lạp trọng lãnh đạo; Đức Tăng Thống được Hội Đồng Lưỡng Viện suy tôn và vị trí cũng như nhiệm kỳ của Đức Tăng Thống vĩnh viễn cho đến khi Ngài viên tịch, mới suy cử vị khác. Còn Viện Hóa Đạo gồm có một vị Viện Trưởng và thành phần Hội Đồng Điều Hành gồm chư Tăng Ni và Phật Tử lãnh đạo. Viện nầy có tính cách hành chánh và vị trí của các thành viên trong Hội Đồng Điều Hành cũng như vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo được chư Tăng Ni bầu lên và hoạt động từng nhiệm kỳ một, không có tính cách miên viễn như Viện Tăng Thống. |
|
Đọc tiếp...
|
|
Cuộc du hành sang Lạp Tát (Lhasa) của Tây Tạng (tt165) |
|
|
Tôn giáo
|
|
Người viết Guiseppe Tucci
|
|
ngày 19, tháng 09, năm 2008 |
|
Phỏng dịch : Hòa Thượng Thích Trí Chơn (Tiếp theo VG 165) CHƯƠNG 11 ĐI THUYỀN 120 DẶM TRÊN MÁI NHÀ CỦA THẾ GIỚI Từ giã thủ đô Lạp Tát (Lhasa) không giống như rời bất cứ thành phố nào khác. Du khách đến viếng thăm thủ đô Lhasa rất khó, vì nó hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài; nhưng từ Lhasa trở về quê hương mình thì dễ dàng có thể khởi hành ở nơi đâu cũng được. Chia tay thị trấn Lhasa chẳng khác gì nhìn cảnh tượng trong giấc chiêm bao để không biết bao giờ mới thấy lại. Tại cung điện Norbulinga, đông nghịt dân chúng đang ngồi xem một tuồng hát đặc biệt được trình diễn trước đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhìn thấy tôi sắp giã từ Lhasa, nhiều người dân quê Tây Tạng đỗ dồn đi ra bờ sông để tiễn đưa. Tôi định thuê riêng ba chiếc thuyền làm bằng gỗ cây dương liễu thông thường ở Tây Tạng chứ không thích đi chung với các du khách khác. Như vậy tôi cảm thấy thoải mái tự do muốn dừng nghỉ bất cứ đâu tôi thích để tìm hiểu thêm về sinh hoạt dân chúng của mỗi địa phương. Theo chương trình tôi dự tính sẽ đi thuyền xuôi về Samye và nếu thuận tiện tôi sẽ ghé thăm trước Kyichu và sau là Tsang Po. Hành lý tôi chở đầy ắp cả ba chiếc thuyền. Vì thiếu chỗ, người chèo thuyền đã chở theo ba con cừu để chúng tôi đèo thêm trên lưng một số thực phẩm, vật dụng cần thiết. Nước sông không nhiều nhưng chảy mạnh. Chúng tôi nhìn xuống trông chừng sợ đáy thuyền chạm phải đá sỏi dưới sông và mắc cạn.
|
|
Đọc tiếp...
|
|
Kinh Kim Cang trong nguồn mạch văn hiến của Phật Giáo Việt Nam (166) |
|
|
Tôn giáo
|
|
Người viết Thích Hạnh Tuấn
|
|
ngày 19, tháng 09, năm 2008 |
|
(Tiếp theo VG 165) Những chữ kỵ húy xuất hiện trong Kinh Kim Cang Có một nguồn tư liệu rất đáng tin cậy giúp cho chúng ta lý giải và chứng minh về niên đại khắc bản mà người chủ trương đã sử dụng để cho chúng ta đưa ra mà xác định được bảng đáy của những ấn bản khắc gỗ mới đó là việc kỵ huý còn lưu lại trong 16 ấn bản của Kinh Kim Cang mà chúng ta đã đề cập ở mục trên. Trong 16 ấn bản của Kinh Kim Cang, có ấn bản vào năm 1827 (số ký hiệu là AC-319), chúng tôi tìm thấy có ít nhất 7 lần người chủ trương còn giữ theo lệ kỵ huý để tránh sự trùng lặp tên huý kỵ đã được các nhà Vua vào thời Nhà Nguyễn (1802-1945) ban hành. Để đi sâu vào vấn đề nầy, chúng ta cũng nên tìm hiểu về luật lệ kỵ huý của các nhà vua đương thời thuộc Nhà Nguyễn đã trị vì từ năm 1802 đến năm 1945. Trong suốt 144 năm trị vị đất nước Việt Nam, những vị vua Nhà Nguyễn đã hơn 22 lần đề ra những luật lệ cấm kỵ dùng chữ (kỵ huý). Trong số đó có 150 chữ không được sử dụng trong lúc viết lách, sáng tác và trò chuyện kể cả khi khắc bản gỗ kinh điển của Phật giáo tại nước ta. Luật lệ nầy vẫn còn được tuân hành trong khi khắc bản Kinh Kim Cang vào năm 1827. Những ví dụ sau đây cho chúng ta thấy được sự ảnh hưởng chữ huý rất sâu đậm trong vấn đề in ấn kinh điển của Phật giáo. Có 3 chữ trong Kinh Kim Cang trùng / giống với tên của vua Gia Long và họ hàng bà con gần của nhà vua: Chữ ‘chủng’ trong cụm từ ‘chủng chư thiện căn’ vốn là tên của vua Gia Long. Chữ ‘lan’ trong cụm từ ‘a lan nhã hạnh’ vốn là tên của mẹ nhà vua Gia Long; và chữ ‘đảm’ trong cụm từ ‘hạ đảm như lai’ vốn trùng âm với tên của vua Minh Mạng (1820-1840). Trong Kinh Kim Cang, khi khắc đến 3 chữ nầy, người khắc không được phép khắc giống hệt với tên của vua hoặc tên của những người bà con với vua mà phải khắc khác đi bằng cách trên đầu của những chữ nầy phải khắc thêm 3 dấu hiệu đặc biệt giống như 3 mũi tên để làm cho khác với chữ phải tránh vì kỵ huý. |
|
Đọc tiếp...
|
|
Thư gửi bạn - Tóm lược Phật Pháp (tt165) |
|
|
Tôn giáo
|
|
Người viết Liễu Pháp
|
|
ngày 19, tháng 09, năm 2008 |
|
(tiếp theo Viên Giác số 165) II: DIỆT KHỔ: Với những người cho mình là có một đầu óc khoa học và nhất là chưa từng tìm hiểu Phật Pháp mà lại nghe nói đến “sinh diệt” như một hiện tượng có thể chứng nghiệm được, lại nói thêm về đơn vị vật chất “kalapas” nhỏ hơn nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất theo khoa học, có lẽ cho rằng là những điều này thật khó tin! Tuy nhiên, con người không biết mình là gì, sống với phiền não và đau khổ, muốn thoát ra, muốn diệt khổ thì phải đi trên con đường dẫn đến giác ngộ, muốn biết lội thì phải xuống nước để tập thôi! Không thể ngồi trên bờ bàn luận cách thức lội mà có thể biết lội được, phải nhảy xuống nước và phải tập bơi lội trong nước! Muốn an bình hòa hợp, không còn đau khổ phiền não: phải thực hành giáo pháp. Trên đây đã nhắc qua về Bốn Sự Thực Cao Thượng và Bát Chánh Đạo. Ở đây sẽ nói về Bảy Pháp Trợ Bồ Đề, nghĩa là những yếu tố, điều kiện đưa đến giác ngộ: chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỉ, thư thái, định và xả. |
|
Đọc tiếp...
|
|
Khía cạnh văn hóa, xã hội và tâm lý trong kinh A Di Đà |
|
|
Tôn giáo
|
|
Người viết HT. Thích Kiến Tánh
|
|
ngày 19, tháng 09, năm 2008 |
|
1. Khía cạnh văn hóa Văn hóa là toàn thể hình thức sinh hoạt của một tập thể loài người thế nào để thích ứng với thiên nhiên và để tồn tại có ý nghĩa rất hạnh phúc. Văn hóa với ý nghĩa rộng rãi bao gồm đủ hình thái sinh hoạt của xã hội: Văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội v.v… Nói gọn và cụ thể hơn con người sinh hoạt là để hạnh phúc cho con người. Do đó văn hóa là nhằm mục tiêu phục vụ hạnh phúc cho con người. Để đi đến mục tiêu hạnh phúc ấy, văn hóa có sức mạnh làm giảm nhẹ dần khổ đau cho đến khi khổ đau không còn có mặt. |
|
Đọc tiếp...
|
|
Vu Lan của người con Phật |
|
|
Tôn giáo
|
|
Người viết Thích Nữ Hạnh Bảo chùa Từ Nghiêm
|
|
ngày 19, tháng 09, năm 2008 |
|
Mỗi lần Vu Lan về gợi lại cho đệ tử Phật nhớ đến công ơn sanh thành của cha mẹ. Làm con luôn nhớ ơn và tìm cách báo đáp. Đạo Phật hướng con người đến chân thiện mỹ mà tâm hiếu rất quan trọng đối với chúng ta. Đức Như Lai dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”, người đem tâm và hạnh làm việc hiếu, người đó làm theo lời Phật dạy, đáng được khen ngợi. Vu Lan tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là giải đảo huyền, tiếng Việt gọi “cứu cái tội treo ngược”, vì sao có cái tội treo ngược? Bởi vì cuộc sống của chúng ta đi ngược lại con đường giác ngộ, gọi là “bối giác hiệp trần”. Nghĩa là cuộc sống con người luôn chạy theo lòng ham muốn của tâm, mê đắm đủ thứ trên đời làm cho tâm chìm đắm trong tham, sân, si. Tự gây khổ đau cho mình, người thân, rộng ra đến xã hội mà chẳng nhận ra được bản tính thanh tịnh của chính mình, nên bị tội kia.
|
|
Đọc tiếp...
|
|