Thứ sáu ngày 30.07.2010
Khối đối lập chỉ trích bà Schavans về chính sách nhập cư.
Đề xướng (Vorstoß) của bà Annette Schavan (CDU), Bộ trưởng Bộ Huấn
dục (Bundesbildungsministerin) cho nhiều chuyên viên (Fachkraft) ngoại kiều
trong Đức đã gặp phản ứng của phe đối lập (Opposition). Đảng SPD và đảng Tả
khuynh (Linkspartei) yêu cầu bà Schavan dành ưu tiên (vorrangig) cho những người
trẻ tại Đức vì thiếu chuyên viên (Fachkräftemangel).
„Trong nước Đức hiện có 1,3 triệu người ở số tuổi từ 20 đến 30 không có bằng
tốt nghiệp (Berufsabschluss). Đây là một công trường xây dựng (Baustelle) mà
bà Bộ trưởng Huấn dục phải tích cực (aktiv) trước tiên“, ông Ernst Dieter Rossmann,
chuyên gia về huấn dục đảng SPD phát biểu trên nhật báo „Hamburger Abendblatt“.
Ông Klaus Ernst, trưởng đảng Tả khuynh nói với tờ này rằng, người ta phải cẩn
thận (aufpassen) đối với mọi đề nghị (Vorschlag). „Bằng không sẽ mất đi một
thế hệ (Generation).“ Đặc biệt là các gia đình gốc ngoại kiều (Migrantenfamilie).
Đảng Tả khuynh nói đến một quỹ huấn nghệ (Ausbildungsfond) cho những năm khủng
hoảng học vấn để chăm lo (versorgen) chỗ huấn nghệ cho những thanh thiếu niên
(Jugendliche) này. Quỹ phải có đủ tài chánh để chi tiêu trong vài năm cho những
ngành nghề có nhu cầu đào tạo (ausbilden) trong những năm qua, ông Ernst yêu
cầu.
Cuối tuần qua bà Schavan đã yêu cầu tính hấp dẫn của nước Đức phải được làm
tăng (erhöhen) hơn cho tất cả chuyên gia khắp nơi trên thế giới. Xã hội cảm
nhận được tình trạng thoái lui dân số (Bevölkerungsrückgang) và vấn đề thiếu
thợ chuyên (Facharbeitermangel). Bà Schavan kêu gọi (aufrufen) những đồng nghiệp
trong nội các (Kabinettskollege) có trách nhiệm (zuständig) hãy điều nghiên
những đề nghị làm dễ dàng hóa (Erleichterung) thủ tục cấp chiếu khán (Visaerteilung).
Đồng thời bà cảnh báo (vorwarnen) việc đánh giá (beurteilen) những người nhập
cư (Einwanderer) chỉ theo nhu cầu (Bedürfnisse) thị trường lao động (Arbeitsmarkt).
Họ không chỉ là những người trám chỗ (Lückenfüller).
DPA
Hình dpa: Bà Annette Schavan (CDU), Bộ trưởng Huấn dục Đức.
Thứ năm ngày 29.07.2010
Có hơn 162.000 quyết định trợ cấp Hartz-IV sai.
Nhiều năm sau ngày thực hiện việc cải cách (Reform) trợ cấp xã hội
Hartz-IV vẫn còn nhiều Trung tâm Tìm việc (Jobcenter) cấp phát (ausstellen)
quyết định (Bescheide) sai – tuy nhiên đến nay đã có rất nhiều trường hợp đã
được điều chỉnh đúng (korrekt).
Riêng trong năm qua có 162.300 trường hợp vẫn còn bị sai, theo báo cáo hàng
năm (Jahresbericht) của Cục Lao động (Bundesagentur für Arbeit). Con số này
được đăng tải trên nhật báo „Bild“.
Cục Lao động có trụ sở (Sitz) tại Nürnberg đã viện dẫn rằng đây phát xuất từ
những nguyên nhân gây ra bởi chính sách thay đổi nhân viên (Personalwechsel)
thường xuyên trong các Trung tâm Tìm việc. Vì tính cách phức tạp của vụ việc
và sự thay đổi luật lệ (Gesetz) thường xuyên nên các nhân viên thừa hành phải
được hướng dẫn cụ thể hơn. Dù vậy, những quyết định có khiếm khuyết (fehlerhaft)
mỗi năm lên đến 25 triệu hồ sơ, gần 0,7 phần trăm. Có 830.200 người nhận trợ
cấp xã hội đã nộp đơn khiếu nại (Widerspruch) chống lại quyết định. Một phần
ba đơn khiếu nại đã thành công.
DPA
Hình dpa: Con dấu của Cơ quan nhận đơn khiếu nại (Widerspruchsstelle) của những
người nhận trợ cấp xã hội thuộc Tổ hợp Lao động (Arbeitsgemeinschaft) Leipzig.
Thứ tư ngày 28.07.2010
Tiền ốm đau tăng lên thành 7,2 tỷ Euro.
Các hãng bảo hiểm sức khoẻ (Krankenkasse) luật định phải chi thêm
tiền đau ốm (Krankengeld). Giờ đây họ muốn giảm gánh nặng (Belastung) này. Trong
năm qua, sự chi tiêu (Ausgabe) của họ cho tiền ốm đau tăng khoản 10 phần trăm
thành 7,2 tỷ Euro, theo báo cáo của một lá thư luân lưu (Rundbrief) của Hiệp
hội trung ương (Spitzenverband) của các hãng bảo hiểm sức khoẻ luật định (GKV).
Năm 2006 họ chi 5,7 tỷ Euro, kể từ đó (seitdem) sự chi tiêu này tăng (steigen)
liên tục (kontinuierlich).
Một trong nhiều lý do chính là hội viên đóng bảo hiểm sức khoẻ (Kassenmitglieder)
ngày càng lớn tuổi và thường nhận tiền đau ốm. Số người ở lứa tuổi 45 đến 65
tuổi từ năm 2006 chiếm hơn 30 phần trăm. Theo thống kê (Statistik) của họ, mỗi
năm tăng hơn 2 phần trăm. Số bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) tăng rõ rệt,
những chứng bệnh này thông thường (oft) kéo dài lâu cho nên đưa đến quyền lợi
(Anspruch) hưởng tiền đau ốm. Các hãng bảo hiểm sức khoẻ - tối đa (maximal)
70 phần trăm lương chưa trừ thuế (Bruttolohn) – trên nguyên tắc sau tuần thứ
sáu (sechs) sau khi bệnh (Krankheitswoche).
Các hãng bảo hiểm sức khoẻ cũng đưa ra nhiều lý giải về gánh nặng tài chánh
của họ. Đến lúc những biện pháp (Maßnahme) hồi phục sức khoẻ (Rehabilitation)
có thể bắt đầu thì bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherung) Đức có thẩm quyền (zuständig)
cần (brauchen) rất nhiều thời gian.
Thời gian chờ đợi (Wartezeit) của người bệnh thân tâm lý (psychosomatisch) trong
vòng hai năm tăng từ 59 đến 72. Trong thời gian này, bệnh nhân (Patient) nhận
(bekommen) tiền đau ốm. Có nhiều trường hợp người thất nghiệp nhận tiền đau
ốm. Theo ước đoán (Einschätzung), những người này chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp
loại II – Hartz IV trợ cấp xã hội.
DPA
Hình dpa: Chi tiền đau ốm tăng lên thành 7,2 phần trăm.
Thứ ba ngày 27.07.2010
Chính sách hạt nhân „sai lầm kinh khủng“.
Ông Stefan Mappus (CDU), Thủ hiến (Ministerpräsident) tiểu bang
Baden-Württemberg, đánh giá (bezeichnen) đường hướng hạt nhân (Atomkurs) của
chính phủ đen-vàng Đức là một „chính sách sai lầm kinh khủng“.
Ông đặc biệt chỉ trích ông Nobert Röttgen (CDU), Bộ trưởng Môi sinh (Umwelt)
Đức, muốn kéo dài thời gian hoạt động (Laufzeit) các lò nguyên tử lực (Atomkraftwerke).
„Không thể được đối với một người có thẩm quyền như vậy“, ông Mappus phát biểu
hôm thứ bảy (Samstag) trong một buổi tổ chức (Veranstaltung) của đảng CDU tại
Walldorf gần Heidelberg.
Vị Thủ hiến phê phán (vorwerfen) ông Röttgen đã không giữ (halten) đúng hợp
đồng liên minh cầm quyền (Koalitionsvertrag) cũng như những thỏa thuận (Absprache)
trong đảng CDU. „Một việc tương đối (relativ) làm tôi phải choáng váng khi một
điều đã được thoả thuận trong phủ Thủ tướng (Kanzleramt) nhưng ra ngoài thì
người ta diễn đạt khác đi (anders).“ Ông tiếp: „Điều làm chúng tôi khó chịu
và đặc biệt việc xử sự như vậy, điều này hoàn toàn không thể chấp nhận được.“
Trước đây nhiều tuần (Woche), ông Mappus đã gián tiếp (indirekt) đòi (auffordern)
Röttgen phải từ chức. Cái có thể tối đa ở năng lượng hạt nhân (Kernkraft) là
:“càng lâu (lang) càng tốt và càng ngắn (kurz) như có thể (möglich).“
DPA
Hình dpa: Ông Stefan Mappus (CDU), Thủ hiến tiểu bang Baden – Württemberg đã
chỉ trích nặng nề đường lối hạt nhân của chính quyền đen-vàng.
Thứ hai ngày 26.07.2010
Những người phòng hộ dữ liệu cho rằng việc kiểm tra dân
số là việc làm thừa thải.
Ông Thilo-Weichert, Giám đốc việc phòng hộ (Datenschutz) tiểu bang
Schleswig-Holstein, cho rằng kế hoạch kiểm tra dân số (Volkszählung) là chuyện
dư thừa. „Đối với những kế hoạch chính trị thì những con số chính xác rất quan
trọng (wichtig), nhưng chúng ta cũng có thể đạt được không cần một sự kiểm tra
dân số rộng rãi (umfassend)“, ông phát biểu trên nhật báo „Lübecke Nachrichten“
phát hành ngày chủ nhật (Sonntag).
Theo quan kiến (Sicht) của ông, không nhất thiết phải tra hỏi (befragen) mười
(zehn) phần trăm người dân (Bürger) và tất cả những căn hộ tư nhân (Eigentumswohnung)
trực tiếp (direkt) vì những lý do (Grund) của gói tiết kiệm (Sparpakett) và
sự thân thiện dân chúng (Bürgerfreundlichkeit). Dù vậy việc kiểm số (Zählung)
vẫn hợp pháp (rechtsmäßig), ông Weichert quả quyết (betonnen). Cục Thống kê
Liên bang (Statisches Bundesamt) tại Wiesbaden dự định sẽ điều tra (Ermittlung)
sự phát triển quần chúng (Bevölkerungsstruktur) tại nước Đức trong tháng năm
(Mai) năm tới.
DPA
Hình dpa: Truyền đơn rơi (Flugblatt) chống kiểm tra dân số trong năm 2011.
Chủ nhật ngày 25.07.2010
Chưa lên kế hoạch lệ phí khám bệnh rộng rãi.
Lệ phí phòng mạch bác sĩ chưa được lên kế hoạch. „Chính phủ chưa
có kế hoạch nào về vấn đề này“, nữ phát ngôn viên Bộ Y Tế Đức (Bundesgesundheitsministerium)
đã phát biểu tại Berlin và cho biết thêm rằng: „Đây không phải là đề tài được
bàn đến.“
Điều này đã phản bác (zurückweisen) sáng kiến của cánh kinh tế (Wirtschaftsflügel)
thuộc CDU/CSU. Gói tiết kiệm mới đây (jüngst) đã được liên minh cầm quyền khẳng
định rằng, bệnh nhân không bị khó khăn thêm (zusätzlich) qua việc trả lệ phí
khám bệnh (Praxisgebühr) hoặc khoản trả thêm (Zusatzzahlung) nào cao hơn, nữ
phát ngôn viên nói.
Ông Josef Schlarmann, Chủ tịch (Vorsitzender) Hiệp hội doanh nghiệp trung lưu
(Mitelstandsvereinigung) đã lên tiếng về việc trả lệ phí khám bệnh mỗi lần đi
bác sĩ (Arztbesuch). Lệ phí khám bệnh 10 Euro mỗi quý (Quartal) phải được thay
thế (ersetzen) bằng một loại lệ phí phòng mạch du di xã hội cho mỗi lần đi bác
sĩ như Thụy Điển (Schweden) đang thực hiện. Và như vậy lệ phí phòng mạch sẽ
được giảm đi (weniger) rõ rệt (deutlich).“
Ông dẫn chứng trên nhật báo „Bild“ về con số khám bệnh cao tại Đức. Trong khi
(während) ở Đức có trung bình 18 lần đi bác sĩ khám bệnh trong năm. „Cho nên
bệnh nhận cũng phải có trách nhiệm (Verantwortung), để có thể nắm bắt được sự
chi tiêu cao trong nền y tế (Gesundhietwesen)“, ông Schlarmann nói.
DPA
Hình dpa: Lệ phí khám bệnh mỗi lần đi bác sĩ theo chính phủ vẫn chưa lên kế
hoạch.
Thứ bảy ngày 24.07.2010
Công ty BP muốn bán một phần doanh nghiệp.
Đại doanh nghiệp dầu hỏa (Ölkonzern) Anh quốc đang tiến hành bán
một phần doanh nghiệp. Đại doanh nghiệp này và cố vấn (Berater) của họ đang
xúc tiến thủ tục cuối cùng, theo bài tường thuật của „Financial Times“ đáng
tin cậy.
Dự kiến sẽ công bố (bekanntmachen) những vụ sang nhượng (Verkauf) đầu tiên trước
khi công khai (Veröffentlichung) những con số của tam cá nguyệt (Quartalzahl)
trong ngày 27 tháng bảy (Juli) năm nay, tờ báo này tường thuật. Công ty BP cần
(brauchen) tiền (Geld) để xóa bỏ (beseitigen) những hậu quả (Folge) thảm hoạ
dầu (Ölkatasrtophe) trong vùng Vịnh (Golf) ở Mexiko (Mể Tây Cơ) gây ra. Đại
doanh nghiệp này hy vọng rằng có thể kiếm vào khoảng 20 tỷ Dollar qua việc sang
nhượng này.
Một trong mối thu nhập qua sự sang nhượng này một phần cho các doanh nghiệp
ở Mỹ là công ty Apache cung cấp dầu và khí đốt co thể thu vào 12 tỷ Dollar.
Ngoài ra BP tìm cách (versuchen) tạo phần hùn (Anteile) trong việc đầu tư vào
công ty cung cấp dầu (Ölförderer) Pan America Energy of Amerika cũng như ở các
khu vực dầu và khí đốt tại Kolumnien, Venezuela và Việt Nam.
Việc sang nhượng một phần của BP trong vùng dầu mỏ (Ölfeld) Mars ở Vịnh Golf
of Mexiko cho các công ty cạnh tranh như Royal Dutch Shell cũng đang được thảo
luận (diskutieren).
Để có vốn mới, ông Tony Hayward, giám đốc BP, đồng thời là nhân vật đầu tư (Investor)
trong vùng Trung Đông (Nahen Osten) đã phát biểu như vậy. Thái tử (Kronzprinz)
Sheikh Mohammed bin Zayed Al-Nahyan của quốc gia Abu Dhabis đã bày tỏ (bekunden)
sự quan tâm (Interesse). Tuy nhiên (allerdings) Abu Dhabi và quỹ quốc gia (Staatsfond)
khác ưa muốn cũng đang gặp khó khăn và vì thế không muốn tham dự vào cách giải
quyết của BP, thoe bài tường thuật của nhật báo trên.
DPA
Hình dpa: BP cần tiền để giải quyết những hậu quả gây ra từ thảm họa dầu hỏa
trong vùng Vịnh Golf of Mexiko.
Thứ sáu ngày 23.07.2010 Thương thuyết về lương bổng cho tài xe hỏa của Công ty
Đường sắt bắt đầu.
Trong vòng thương thuyết về lương bổng (Tarifrunde) của Công ty
Đường sắt Đức (Deutsche Bundesbahn, viết tắc là DB) cũng đã diễn ra những cuộc
đàm phán (Verhandlung) cho khoảng 20.000 tài xe hỏa (Lokführer). Đại diện (Vertreter)
Công đoàn GDL và đại doanh nghiệp (Konzern) thuộc chính phủ đã gặp nhau tại
Berlin để gặp gở đầu tiên (Auftakttreffen).
Ông Claus Weselsky, Chủ tịch GDL nói rằng ông kỳ vọng (erwarten) có những cuộc
hội đàm (Gesrpäche) về yêu cầu (Forderung) theo tiêu chuẩn lương bổng (Tarifstandard)
thống nhất (einheitlich) cho các tài xe hỏa của DB và những doanh nghiệp cạnh
tranh (Konkurrent) tư nhân. „Tôi không đe dọa (drohen) đình công (Streik) vì
chúng tôi tin chắc rằng sẽ có kết quả (Ergebnis) bằng đường lối đàm phán (Verhandlungsweg).“
Những cuộc hội đàm cho nhân công các ngành nghề (Berufsgruppe) khác của DB với
các công đoàn Transnet và GDBA cũng đang diễn biến.
DPA
Hình dpa: Công đoàn GDL đòi lên lương hơn năm (fünf) phần trăm cho công nhân
đường sắt.
Thứ năm ngày 22.07.2010
Khiếu nại hiến pháp chống kiểm tra dân số.
Các nhà đấu tranh cho quyền công dân (Bürgerrechtler) đã nộp đơn
(einreichen) khiếu nại hiến pháp (Verfassungsbeschwerde) lên pháp đình tối cao
tại Karlsruhe để chống việc kiểm tra dân số (Volkszählung) trong năm 2011. Đồng
thời họ cũng nộp (abgeben) 13.000 chữ ký (Unterschrift) đã thu nhập của những
người ủng hộ (Unterstützer) lên Tòa án Hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht).
Một nhóm (Gruppe) đấu tranh cho quyền công dân trước đây đã thành công trong
việc khiếu nại hiến pháp chống đạo luật (Gesetz) lưu trữ dữ liệu (Vorratsdatenspeicherung).
Họ phản đối (protestieren) sự ghi chép (Erfassung) dữ liệu cá nhân (persönlich)
cho việc kiểm tra dân số đã được kế hoạch trong năm tới và muốn ngăn chận (stoppen)
việc này qua đơn khiếu nại (Beschwerde).
Khác với (Gegensatz) những lần kiểm tra (Zählung) trước đây, theo „đạo luật
kiểm tra (Zensursgesetz) 2011“ chỉ (nur) có một phần (Teil) dân chúng (Bevölkerung)
được trực tiếp (direkt) hỏi (befragen). Sự kiểm tra dựa trên những dữ liệu từ
sổ bộ (Register) của các địa phương (Kommune) và Cục Lao động Đức (Bundesagentur
für Arbeit, viết tắc là BA).
Sáng kiến (Initiative) của khối làm việc (Arbeitskreis) kiểm tra trực thuộc
khối làm việc lưu trữ dữ liệu chỉ trích (kritisieren) rằng những dữ liệu về
nguyên quán (Herkunft), nghề nghiệp (Beruf) và tôn giáo (Religion) có thể được
quy thành mã số (Kennziffer) cho từng người một. Lần cuối (zuletzt) vào năm
1987 đã có nhiều cuộc phản đối chống lại việc kiểm tra dân số trong nước Đức.
Nước cộng sản Đông Đức cũ DDR đã thực hiện (durchführen) cuộc kiểm tra dân số
lần cuối vào năm 1981.
DPA
HÌnh dpa: Tòa án Hiến pháp Đức phải xử lý việc kiểm tra dân số đã được dự tính
trong năm 2011.
Thứ tư ngày 21.07.2010
Ngay cả việc làm nhỏ cũng bị mất trợ cấp phụ huynh.
Chính quyền Đức đang dự tính theo nguồn tin của nhật báo „Süddeutsche
Zeitung“ rằng, việc cắt giảm (Einschnitt) giúp đở (Unterstützung) tài chánh
gia đình còn cao hơn dự tưởng.
Những người làm công việc nhỏ (Mini-Jobber) và vợ chồng có nhận (erhalten) phụ
cấp con cái (Kinderzuschlag) phải dự trù rằng họ chỉ sẽ còn nhận ít (gering)
phụ cấp (Zuschuss) của nhà nước (staatlich), tờ báo đã tường thuật (berichten)
theo sự trích dẫn từ dự thảo (Entwurf) của Bộ Gia đình Đức (Bundesfamilienministerium).
Trong gói tiết kiệm (Sparpaket) của chính phủ Đức (Bundesregierung) dự tính
(vorsehen) rằng trợ cấp phụ huynh (Elterngeld) của những người nhận (Empfänger)
trợ cấp Hartz-IV sẽ bị loại bỏ (streichen). Tổng cộng (insgesamt) trợ cấp phụ
huynh được tiết kiệm (sparen) cho đến năm 2014 có thể lên đến 600 triệu Euro
hàng năm (jährlich).
Ai có thu nhập kém vì thế nhận thêm (zusätzlich) trợ cấp (Leistung) Hartz-IV
của nhà nước để nâng cao mức thu nhập sẽ bị cắt đến 300 Euro trợ cấp phụ huynh,
tờ „Süddeutsche Zeitung“ tường thuật.
Theo dự thảo của bà Bộ trưởng Bộ Gia đình Kristina Schröder (CDU), liên minh
cầm quyền đen-vàng cho rằng người có thu nhập (Einkommen) cao cũng không hơn
tiền sinh sống của các phụ huynh nghèo nhất (ärmsten). Như vậy chính phủ muốn
tiết kiệm khoản 155 triệu Euro qua số trợ cấp phụ huynh thu nhập thấp mỗi tháng
có thu nhập ròng (Nettoeinkommen) không hơn 1240 Euro. Sự cắt giảm (Kürzung)
gần gấp ba lần nhiều hơn đối với những gia đình nghèo – tổng cộng con số tiết
kiệm sẽ lên đến 440 triệu Euro. Sự biện giải (Begründung) về bản dự thảo cho
rằng những người nhận Hartz-IV có khả năng lao động (erwerbsfähig) sẽ được tác
động (Anreize) để nhận (aufnehmen) việc làm (Arbeit).
DAP
Hình dpa: Những người có việc làm nhỏ cũng bị chính phủ cắt giảm để tiết kiệm
(hình tiêu biểu).
Thứ ba ngày 13.07.2010
Thăm dó ý kiến: Việc chống cải cách học đường đứng hàng
đầu.
Liên minh cầm quyền đen-xanh (CDU/Grüne) tại Hamburg lo ngại (fürchten)
sẽ thất bại (Niederlage) bởi sự trưng cầu dân ý(Volksentscheid) về việc thực
thi (einführen) chính sách sáu năm tiểu học (Primarschule)
Theo cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) tiêu biểu (präsentativ) do nhật báo „Bild“,
„Welt“ và đài truyền hình Sat.1 Nord ủy nhiệm thực hiện có 41 phần trăm người
chống cải cách (Reformgegner), hơn liên minh (Bündnis) của những người ủng hộ
(Befürworter) đôc lập đảng phái (parteiübergreifend) – liên minh này chỉ đạt
38 phần trăm. Có khoảng 1,2 triệu cử tri (Wahlberechtigte) được kêu gọi (anrufen)
bỏ phiếu vào ngày 18 tháng bảy (Juli) tới đây.
Từ nhiều tháng qua, những lời đồn đại (Spekulation) đã đeo đuổi (verfolgen)
ông Ole von Beust (CDU), Thị trưởng (Bürgermeister) thành phố tự trị (autonom)
Hamburg, rằng ông sẽ từ nhiệm (zurücktreten) sau cuộc trưng cầu dân ý. Nghị
viên (Abgeordnete) các đảng khối (Fraktion) đã lên tiếng ủng hộ chính sách cải
cách học đường (Schulreform) dự tính (vorsehen) học sinh sẽ có điều kiện học
(lernen) chung (gemeinsam) với nhau lâu hơn (länger) và đây là ước muốn (Anliegen)
cải cách chính của đảng CDU và Grüne tại Hamburg, được gọi là (nennen) GAL.
Những người chống cải cách được lãnh đạo bởi ông luật sư (Rechtsantwalt) Walter
Scheuerl với sáng kiến (Initiative) mang tiêu đề là „Chúng tôi muốn học“ (Wir
wollen lernen) qua sự trưng cầu dân ý có kết quả khả quan và điều này ép buộc
(erzwingen) Thượng viện (Senat) Hamburg phải giải quyết vụ việc bằng chính trị.
28 phần trăm những cử tri cho biết ý kiến, theo cuộc thăm dò ý kiến của Viện
(Institut) Psephos, rằng họ sẳn sàng bỏ phiếu bằng thơ (Briefwahl) cho việc
thực hiện chính sách sáu năm tiểu học. Còn 34 phần trăm „có thể“ (wahrscheinlich)
hoặc „chắc chắn“ (sicher) muốn tham gia (beteiligen) cuộc trưng cầu dân ý.
dpa
Hình dpa: Một biển quảng cáo (Plakat) nói đến việc trưng cầu dân ý về cải cách
học đường.
Thứ hai ngày 12.07.2010
Sự căng thẳng (Stress) làm nhiều công nhân bệnh.
Người công nhân (Arbeitnehmer) tại Đức thường vắng mặt (fehlen)
chỗ làm (Arbeitsplatz) vì những chứng bệnh (Erkrankung) tâm lý (psychisch).
Con số (Anzahl) những trường hợp bệnh hoạn (Krankheitsfall) như vậy trong năm
qua đã lên đến cao điểm (Höchststand), theo tập báo cáo (Report) về giờ vắng
mặt (Fehlzeit) trong năm 2010.
Các nghiên cứu gia (Forscher) Viện Khoa Học (Wissenschaftliches Institut der
AOK, viết tắc là WIdO) hãng bảo hiểm sức khoẻ luật định AOK đã đánh giá dữ liệu
bệnh trạng (Krankheitsdaten) của 9,7 triệu hội viên (Mitglieder) AOK đang lao
động (Erwerbstätigte). „Những ngày nghỉ (Fehltage) vì bệnh tâm lý trong 12 (zwölf)
năm qua tăng gần (fast) 80 phần trăm“, ông Helmut Schröder, người đồng chủ biên
(Mitherausgeber) công trình nghiên cứu (Studie) và Phó Quản đốc (Vize-Geschäftsführer)
Viện WIdO, đã nói với nhật báo „Süddeutsche Zeitung“ hôm thứ sáu (Freitag) tuần
qua.
Những rối loạn (Störung) tâm thần (seelisch) theo tập báo cáo đứng hàng thứ
tư trong những nguyên nhân (Ursache) bệnh hoạn của người lao động (Berufstätigte).
Tổng cộng (insgesamt), theo công trình nghiên cứu giờ nghỉ làm, sự rối loạn
tâm thần trong năm qua là lý do (Grund) cho 8,6 phần trăm ngày nghỉ làm của
hội viên AOK. Năm 2008 số này còn ở mức 8,3 phần trăm.
Những bệnh vì (bedingt) yếu tố tâm thần là lý do những ngày nghỉ làm nhiều nhất.
„Ở bệnh hô hấp (Atemwegserkrankung) trung bình người thợ nghỉ 6,5 ngày, ở bệnh
tâm lý tầm 23 ngày“, ông Schröder giải bày (erläutern).
Theo quan điểm (Ansicht) của Công đoàn Kỹ nghệ và Kim khí IG Metall thì những
bệnh tâm lý có nguy cơ trở thành „căn bệnh đại chúng (Volkskrankheit) của thế
kỷ (Jahrhundert) 21“. Những hệ thống sớm cảnh báo (Frühwarnsystem) thật cần
thiết (notwendig) để kịp thời (rechtzeitig) đối phó (reagieren) những điều kiện
lao động (Arbeitsbedingung) bị gánh nặng (Belastung) bởi tình trạng căng thẳng
(Stress) và tâm lý gây nên (auslösen), Ông Hans-Jürgen Urban, thành viên ban
chấp hành (Vorstandmitglied) IG Metall, đã giải thích (erklären) tại Frankfurt/Main.
Lý do bệnh (Krankheitsgrund) số một vẫn có khoảng cách (Abstand) lớn là đau
nhức cơ bắp (Muskulatur) và xương cốt (Skelett). Nó chiếm một phần tư (Viertel)
tất cả các bệnh. Đa phần (meistens) là đau lưng (Rückenbeschwerden).
Những nguyên nhân làm tăng rõ rệt (deutlich) vấn đề tâm lý được các nhà công
đoàn (Gewerkschafter), bác sĩ xí nghiệp (Betriebsarzt) và tâm lý gia (Psychologe)
ước đoán (vermuten) vì thế giới lao động (Arbeitswelt) thay đổi (Veränderung)
mạnh (strak) và tăng tốc (beschleunigen). „Nhân viên (Personal) khắp nơi (überall)
bị phân tán mỏng (ausdünnen). Cộng sự viên (Mitarbeiter) không giải quyết được
hết (erledigen) trách nhiệm (Aufgabe) thừa hành“, ông Manfred Oetting, nhà tâm
lý học về kinh tế (Wirtschaftspsychologe), đã phát biểu trong một cuộc đàm thoại
(Gespräche) với thông tấn xã Đức (Deutscher Nachrichtenagentur, viết tắc là
dpa). „Chính ngay những nhân vật lãnh đạo (Chef) thường xuyên bị áp lực (Druck)
ngày càng tăng, rồi họ chuyển tiếp đến (weitergeben) cộng sự viên.“ Ông Oetting
nói „nền đạo đức (Moral) đang đi xuống (sinken).“
Tuy nhiên trong thống kê (Stastistik) còn cho thấy rằng những yếu tố (Faktor)
khác cũng có thể làm tăng chứng bệnh tâm lý: Theo ông Oetting chẳng hạn sự chẩn
đoán (Diagnose) đã trở nên chi li (fein) hơn làm con bệnh càng tin tưởng hơn
về những lời khuyên nhủ (Rat) và hổ trợ (Hilfe). „Lý do chính (Hauptgrund) làm
tăng bệnh tâm lý vẫn còn tùy thuộc cụ thể vào những điều kiện (Bedingung) hoàn
toàn bên ngoài. Tất cả những cái khác đều là những lập luận chưa chính xác“,
nhà tâm lý học và viết sách (Buchautor) nói.
Căng thẳng (Stress) ở chỗ làm có thể đưa đến nhiều chứng bệnh. Đặc thù là bệnh
trầm cảm (Depression), nữ tâm lý học Julia Scharnhorst nói với dpa. Nhiều người
nảy sinh (entwickeln) ra những chứng sợ hãi (Ängste). „Có ít người bỗng dưng
(plötzlich) không muốn đi xe điện (S-Bahn) cho nên họ sẽ không đến chỗ làm được
nữa“, nữ khoa học gia về y tế (Gesundheitswissenschaftlerin) này giải thích.
Cũng như bệnh nghiền ngập (Suchterkrankung) và những triệu chứng (Symptom) ở
thân thể (körperlich) như đau bụng (Magenschmerzen) hay đau lưng (Rückenschmerzen)
cũng có thể xảy ra (auftreten).
Những chứng bệnh tâm lý như vậy hầu hết xuất hiện trong những thành phố lớn
(Grpßstadt). „Ở đó (dort) có nhiều hộ độc thân (Single-Haushalt) và họ ít được
giúp đở (Unterstützung) xã hội (sozial), những yếu tố được xem là các đệm phát
sinh sự căng thẳng (Stresspuffer)“, nữ chuyên gia (Expertin) giải thích. Trong
các thành phố lớn, thành phần lao động đa số có gốc ngoại kiều (Migrationshintergrund)
và họ bị áp lực lớn ở những chỗ làm không tốt (schlecht).
Theo phỏng đoán (Einschätzung) của Hội đồng tâm lý gia trị liệu Đức (Bundespsychotherapeutenkammer)
thì những bệnh tâm lý đã bị lơ là (übersehen) trong nhiều thập niên (jahrzehntelang)
hoặc không được chẩn đoán (diagnostisieren) chính xác (richtig). Cho nên con
số ngày càng tăng của các công nhân nghỉ việc (arbeitsunfähig) vì rối loạn tâm
thần không có gì phải ngạc nhiên. Theo hội đồng thì những người thất nghiệp
(Arbeitslose) thường bệnh tâm lý gấp ba bốn lần hơn người đang có công ăn việc
làm (Erwerbstätige).
Mặc dù có tình trạng khủng hoảng kinh tế trong năm qua nhưng con số những ngày
nghĩ bệnh nói chung theo công trình nghiên cứu vẫn có tăng chút đỉnh (leicht).
Trong năm 2008 nó nằm ở mức 4,6 phần trăm, còn năm ngoái là 4,8 phần trăm.
Trong năm 2009, hội viên AOK có trung bình (Durchschnitt) 17,3 ngày nghỉ bệnh.
Điều này trái chống (widersprechen) những kinh nghiệm (Erfahrung) trong qua
khứ (Vergangenheit): Khi có khủng hoảng kinh tế thì mức bệnh hoạn (Krankheitsstand)
theo đó đi xuống, vì người lao động sợ bị mất việc (Job-Verlust) nên dù bị bệnh
họ vẫn muốn đi làm.
Số giờ vắng mặt đa phần trong số hội viên AOK là những người làm sạch sẽ đường
phố (Straßenreiniger) và đổ rác (Müllmänner). Trung bình là 28,8 ngày nghỉ đến
cả tháng. Số giờ vắng mặt thấp nhất là các giáo viên đại học (Hochschullehrer)
với 4,3 ngày nghỉ.
Theo thống kê, phụ nữ thường bệnh nhưng nghỉ bệnh ngắn hơn. Đàn ông thường mắc
chứng đau cơ bắp (Muskel) hay xương cốt (Skelett) và thương tích (Verletzung);
còn phụ nữ thường mắc chứng hô hấp và trầm cảm nhiều hơn.
dpa
Hình dpa: Bệnh trầm cảm từ lâu đã là một chứng bệnh đại chúng, nhưng người ta
không muốn đế ý đến nó (hình tiêu biểu).
Chủ nhật ngày 11.07.2010
Ông Steimeiner tiên đoán sự thảm bại của bà Merkel.
Phe đối lập mạnh mẽ chống liên minh cầm quyền: Ông Steimeier, chủ
tịch đảng khối SPD trong quốc hội không tin vào một sự hài hòa (Harmonie) mới.
Đảng Grüne đã nhận ra một hòn đá vấp ngã (Stolperstein) mới, đó là việc tăng
(Erhöhung) phí đóng (Beitrag) bảo hiểm y tế (Krankenkasse).
„Sự hoen rĩ (Erosion) của Đen – Vàng đang tiếp tục (fortschreiten) không ngưng
(unaufhaltsam)“, ông Frank – Walter Steimeier nói trên tuần báo „Frankfurt Allgemeinen
Sonntagszeitung“. Sự ngờ vực (Misstrauen) giữa CDU, CSU và FDP trong cuộc bầu
cử Tổng thống Đức vừa qua ngày càng sâu đậm (tief). „Ai có chút (bisschen) kinh
nghiệm (Erfahrung) chính trị thì biết ngay rằng: Không thể tiếp tục được nữa.“
„Chưa bao giờ (nie) có một chính quyền tệ (so schlecht) như chính quyền này“,
nhà chính khách SPD nói. Chính ngay các nghị viên khối liên hiệp Cơ đốc (Union)
và đảng FDP cũng biết tình trạng này. Cái nhục nhã (Blamage) của bà Thủ tướng
Đức Angela Merkel (CDU) trong cuộc bầu cử Tổng thống chỉ có thể được giải thích
bằng „sự thất vọng (Frust) và nóng giận (Wut) trong việc lãnh đạo đảng (Parteiführung)
của chính bà và ngay trong nội bộ đảng với nhau (untereinander)“.
Đảng Grüne cũng chê trách bà Merkel không lãnh đạo đủ (nicht ausreichend) liên
minh cầm quyền. „Chiếc thuyền chính quyền đen-vàng“ đang đong đưa „không có
động cơ (Antrieb) và sự lèo lài (Steuerung)“, ông Jürgen Trittin, chủ tịch đảng
khối Grüne trong quốc hội nói với nhật báo trên. „“Dòng chảy chính (Grundströmung)
của xã hội (Gesellschaft)“ đang trôi ngược hướng (Kurs) của liên minh cầm quyền.
Vì mọi người không muốn kéo dài thời gian hoạt động các lò điện tử lực hạt nhân
và không muốn có sự mất đoàn kết (Entsolidarisierung) trong bảo hiểm y tế (Krankenversicherung)
theo luật định (gesetzlich).
Dự kiến nâng (Anebung) phí đóng (Beitrag) bảo hiểm y tế theo luật định đã va
chạm phe đối lập, cũng như các nhà kinh tế và tổ chức xã hội, họ nhất trí từ
chối. Liên hội (Bundesvereinigung) các Hiệp hội Chủ nhân (Arbeitgeberverband)
Đức và Hội đồng Công nghiệp và Thương mại Đức (Deutscher Industri- und Handelskammertag,
viết tắc là DIHK) cũng lên tiếng chỉ trích chính phủ tăng phí phụ đồng lương
(Lohnnebenskosten), sự kiện đã hủy bỏ lời hứa (Versprechen) của họ trước khi
đắc cử. Quy chuẩn phí đóng (Beitragsatz) sẽ bị nâng (anheben) từ 14,9 lên 15,5
phần trăm.
Ông Thomas Oppermann, quản đốc (Geschäftsführer) quốc hội thuộc đảng khối SPD,
giải thích (erklären) rằng chính phủ đã nhất trí đi đến một thỏa hiệp (Kompromiss)
tệ nhất (schlechst). Ông Karl Lauterbach, phát ngôn viên về chính sách y tế
(Gesundheitspolitik) thuộc đảng khối SPD trong quốc hội, phê bình rằng như vậy
những người đóng bảo hiểm (versicherte) sẽ bị nghiền ép (ausquetschen).
Dù vậy liên minh cầm quyền hiện nay vẫn hy vọng vào sự tiến bộ (Fortschritt)
– ngay trong chính sách của họ cũng như trong bầu không khí (Stimmung) của liên
minh cầm quyền. Bà Birgit Homburger, chủ tịch đảng khối FDP trong quốc hội,
đã biện hộ (verteidigen) kế hoạch dự tính tăng phí đóng bảo hiểm y tế các quỹ
y tế (Kranekenkasse) theo luật định. „Chúng tôi luôn nói rằng, sự thâm thụt
(Defizit) tài chánh cũng phải do các chủ nhân (Arbeitgeber), công nhân (Arbeitnehmer),
người phục dịch (Leistungsbringer) và người đóng thuế (Steuerzahler) đóng góp
để quân bình (ausgleichen)“, bà Homburger nói với FOCUS. „Điều này hợp tình
(fair) và công bằng (gerecht). Chúng tôi đạt nhiều sự công bằng (Gerechtigkeit)
hơn trong lãnh vực y tế (Gesundheitswesen) bởi quy định mới (Neuregelung).
Ông Florian Rentsch, chủ tịch đảng khối FDP thuộc tiểu bang Hessen, yêu cầu
phải có sự đoàn kết trong tương lai: „CDU, CSU và FDP đặc biệt ngay từ bây giờ
phải hợp tác nhau (zusammenarbeiten) trong im lặng (lautlos) thay vì (anstatt)
lớn tiếng (lautstark) tranh cãi (streiten). „ Đồng thời ông Rentsch cũng kêu
gọi bà Merkel phải tiếp nhận (übernehmen) quyền lãnh đạo chính trị. Chính quyền
Đức phải làm rõ ràng bây giờ khung sườn giá trị (Wertegerüst) nào họ đang thể
hiện và làm thế nào để cốt lõi thông tin (Kernbotschaft) về công việc làm cho
những năm tới được vang dội (laut). „Bà Thủ tướng phải sử dụng (nutzen) quyền
hạn của bà mạnh hơn trước“, nhà chính trị đảng FDP nói.
ott/ddp/apn
Hình dpa: Ông Frank-Walter Steinmeier nói: „Không thể tiếp tục như vậy được
nữa!“
Thứ bảy ngày 10.07.2010
Công trình nghiên cứu – Cái dù cứu nguy đồng Euro vi phạm
hiến pháp.
500 tỷ Euro, đây là độ lớn của cái dù cứu nguy (Rettungsschirm)
đồng Euro đã được các quốc gia EU thông qua trong tháng năm (Mai). Cái dù này
bất hợp pháp (rechtswidrig), theo một công trình nghiên cứu (Studie) mới nhận
thấy. Việc này có thể đưa đến một vụ kiện cáo (Klage) mới trước tòa án hiến
pháp (Verfassungsgericht) Đức.
Cái dù cứu nguy đã được Liên hiệp châu Âu (europäische Union) quyết định để
làm ổn định (Stabilisierung) thị trường tài chánh (Finanzmarkt) và có thể cứu
nguy từng quốc gia thành viên EU đã vi phạm (verstoßen) Hiến pháp (Grundgesetz)
Đức và luật pháp (Recht) EU. Đây là kết quả một công trình nghiên cứu của Trung
tâm Chính trị châu Âu (Centrum für Europäische Politik, viết tắc là CEP) tại
Freiburg được loan báo trên nhật báo „Welt“ hôm thứ hai (Montag). Bài báo còn
nói thêm rằng, công chúng (Öffentlichkeit) đã bị lừa gạt (täuschen) ở một vài
điểm (Punkt) về sự thiết kế (Ausgestaltung) của cái dù cứu nguy Euro.
„Người ta đã quảng bá (verbreiten) trong công chúng rằng liên hiệp EU chỉ được
phép nhận (aufnehmen) tối đa (maximal) 60 tỷ Euro trái phiếu (Anleihen). Nhưng
trong quy chế (Verordnung) không tìm ra được một điều tương ứng (entsprechend)“,
công trình nghiên cứu nói. Tương tự (Gleiche) như vậy liên quan đến kỳ hạn (Befristung)
ba (drei) năm. Gói cứu nguy cũng đã chứng tỏ vi phạm (Bruch) luật EU, vì lẽ
ra quyết định phải được Quốc hội Châu Âu (Europäisches Parlament) chấp thuận
(Beschluss). „Như vậy quy chế không đáp ứng (erfüllen) những điều kiện (Vorrausetzung)
hình thức (formell) do luật pháp EU đặt ra (stellen).“ Trên nguyên tắc (grundsätzlich),
EU không được phép chi (ausgeben) trái phiếu để tài trợ (finanzieren) giúp đở
một quốc gia Euro.
Cũng như việc hợp tác (Mitwirkung) của Quốc hội (Bundestag) và Thượng viện (Bundeart)
do Tòa án Hiến pháp đòi hỏi (verlangen) chưa thực hiện đủ (unzureichend). Tòa
án Hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) đã nhận khá nhiều đơn tố tụng chống
lại cái dù cứu nguy. Ông Peter Gauweiler, nghị viên (Abgeordnete) đảng CSU trước
đây một tháng đã đệ đơn khẩn (Eilantrag) để ngăn chận (stoppen) sự tham gia
(Beteiligung) của nước Đức vào chương trình cái dù cứu nguy, vụ việc đã không
thành công (scheitern).
mh/Reuters
Hình dpa: Tương lai (Zukunft) đồng Euro sẽ được cái dù cứu nguy phòng hộ (schützen)
– Nhưng cái dù này dường như vi phạm hiến pháp Đức và luật EU.
Thứ sáu ngày 09.07.2010
Cải cách thuế giá trị thặng dư. Ông Schäuble cảnh báo những
hy vọng hão huyền.
Ông Bộ trưởng Tài chánh (Finanzminister) không tin (galuben) có
doanh thu (Einnahme) nhiều hơn qua việc cải tổ (Reform) thuế giá trị thặng dư
(Mehrwertssteuer). Chỉ (lediglich) xóa bỏ (Streichung) quy chuẩn (Satz) giảm
(ermäßigen) thuế thực phẩm (Lebensmittel) mới có thể đem tiền vào quỹ (Kasse)
được. Dù vậy (trotzdem) đảng FDP vẫn làm áp lực (Druck) chống lại.
„Chúng ta đừng mong đợi quá nhiều ở nó“, ông Wolfgang Schäuble (CDU) đã nói
trên nhật báo „Tagesspiegel am Sonntag“. Thậm chí theo ông bộ trưởng (Minister),
nếu hủy bỏ (abschaffen) tất cả các loại giảm thuế giá trị thặng dư (Mehrwertssteuerermäßigung)
thì có khoản 23 tỷ Euro chảy vào quỹ nhà nước. Trong số đó có 17 tỷ Euro dành
cho thực phẩm đến nay đã được hưởng quy chuẩn giảm là 7 (sieben) phần trăm.
Ông Schäuble hỏi „Vậy thì ai không muốn đề nghị (vorschlagen) xóa bỏ nó?“
Nhà chính trị đảng CDU cho thấy rõ rằng, liệu dự tính cải tổ lợi điểm thuế (Steuervergünstigung)
cho các chủ khách sạn (Hotelier) đang gây tranh cãi (umstritten) có cần phải
bàn đến chăng. Ông đã từng nói với những người ủng hộ (Befürworter) loại giảm
thuế (Steuerermäßigung) này rằng: „Các bạn sẽ tự nguyền rủa (verfluchten) chính
mình“ thậm chí có nhiều lý do để nói nhưng khó diễn đạt (vermittelbar) được.“
Các chính trị gia đảng Tự do (Liberalen) hiện nay vẫn tiếp tục làm áp lực để
thúc đẩy (vorantreiben) việc cải cách. Khi bà Thủ tướng Angela Merkel (CDU)
tìm cách (versuchen) kéo dài thời gian vần đề này thì Hội đống Thượng viện (Bundesratinitiative)
tiểu bang Schleswig – Holstein sẽ lên tiếng, vị chủ tịch đảng khối quốc FDP
trong quốc hội tiểu bang này đã tuyên bố (ankündigen) trong quốc hội (Landtag)
tại Kiel, ông Wolfgang Kubicki. Ông Kubicki khuyến cáo ông Schäuble đừng trì
hoãn (verzögern) tiếp tục triệu tập (einberufen) một ủy ban (Kommission) tổ
chức lại cơ cấu (Neuordung) thuế giá trị thặng dư. Đảng FDP đã nhất trí qua
phiên họp kín ban chấp hành đảng (Vorstandsklausurtagung) để soi sáng (lichten)
sự âm u (Dickicht) của những quy chuẩn thuế giá trị thặng dư được giảm. Trong
đó có việc kiểm tra (Überprüfung) lại quy chuẩn thuế được giảm cho doanh nghiệp
khách sạn (Hotelbetriebe). Ông Christian Lindner, Tổng Thư ký (Generalsekretär)
đảng FDP đã đề nghị có sự hậu thuẩn (Rückendeckung) của các lãnh tụ (Spitze)
FDP để nhanh chóng sửa chữa (Korrektur) quy chuẩn giảm thuế giá trị thặng dư
đã được thông qua (beschließen) vào đầu năm (Jahresbeginn) nay.
Sự phát biểu của ông Kubicki đã làm tổn hại (schaden) không khí (Atmosphäre)
liên minh cầm quyền, khi bà Thủ tướng đặt vấn đề liên quan đến những quyết định
(Beschluss) chung của liên hiệp Cơ đốc và đảng FDP. Bà Merkel không thể tự mình
giải thích (erklären) được rằng quy chuẩn giảm thuế cho doanh nghiệp khách sạn
là điều cấm kỵ (tabu).
Ông Kurt Beck (SPD), Thủ hiến tiểu bang Rheinland-Pfalz, lên tiếng sẳn sàng
giúp đở chính quyền Đức. „Đề nghị của tôi là: Quy chuẩn giảm thuế gía trị thặng
dư cho thực phẩm cơ bản (Grundnahrungsmittel) và một vài nhu yếu chính (Grundbedarf)
phải được chúng ta định nghĩa (definieren) – chỉ có thế“, ông Beck nói với tuần
báo „Welt am Sonntag“(Thế giới ngày chủ nhật). Khi chính quyến Đức mời (einladen)
các tiểu bang do SPD lãnh đạo để có một „cuộc đối thoại (Dialog) thành thật
(ehrlich)“ thì cá nhân ông và các đồng đảng SPD cũng không chối từ (verweigern).
ott/ddp
Hình dpa: Ông Bộ trưởng Tài chánh Đức Wolfgang Schäuble (CDU).
Thứ năm ngày 08.07.2010
Khủng hoảng của đảng CDU – Bà Merkel không muốn trao quyền
lực.
Làm thế nào đảng CDU có thể ra khỏi cơn khủng hoảng? Bà Thủ tướng
có phải tìm người kế vị (Nachfolger) chăng? Bà Merkel đặt vấn đề rõ ràng rằng:
Không có chuyện chia nhiệm sở (Ämterteilung). Hiện nay (derweil) phe đối lập
(Opposition) đang tấn công vào thế yếu kém (schwäche) của đảng CDU.
Bà Thủ tướng Angela Merkel (CDU) đã trả lời một câu hỏi (Frage) trong cuộc phỏng
vấn mùa hè (Sommerinterview) của đài truyền hình RTL, liệu nhiệm sở Thủ tướng
(Kanzleramt) và đảng trưởng (Parteivorsitz) có phải là gánh nặng (Last) lớn
lao cho bà hay không và điều tốt nhất là có nên tách riêng hai nhiệm sở này
ra không, rằng: „Hoàn toàn (überhaupt) không có chuyện này. Điều tuyệt đối (absolut)
quan trọng là làm chính trị phải xuất phát từ hai nhiệm sở này.“ Ở câu hỏi,
liệu bà đã làm đúng tất cả liên quan đến (angesichts) những vấn đề lớn trong
liên minh cầm quyền đen-vàng chăng, thì bà Merkel trả lời (Merkel): „Câu hỏi
này tôi đã tự đặt ra cho mình trong lúc khả quan (gut) cũng như trong lúc khó
khăn (schlecht). „Một bà Thủ tướng dĩ nhiên (natürlich) không thể làm hết tất
cả công việc của chính quyền (Regierungsarbeit) được. Cho nên chính quyền này
cũng có nhiều tài năng (Talente) trẻ (Jüngere) cũng như già (Ältere).“
Nhưng bà Merkel cũng nói rằng ngay trong đảng CDU còn có nhiều nhân vật (Persönlichkeit)
thích hợp ở chức vụ phó đảng trưởng (Vize-Parteivorsitzende). Các Thủ hiến tiểu
bang Baden – Württemberg và Niedersachsen cũng như nữ ứng cử viên hàng đầu (Spitzenkandidatin)
cho cuộc bầu cử quốc hội tiểu bang (Landtagswahl) tại Rheinland-Pflaz trong
năm tới là bà Julia Klöckner cũng là những chính trị gia (Politiker) quan trọng
(wichtig). „Vì thế có lẽ (vielliecht) công chúng (Öffentlichkeit) cũng phải
nên làm quen (gewöhnen) với một hay nhiều nhân vật mới.“ Trong ý này, bà muốn
đề cập đến (erwähnen) bà Ursula von der Leyen, Bộ trưởng Bộ Lao động, là nhân
vật được bà Merkel xem là người có „trách nhiệm then chốt (Schlüsselaufgabe)
trong nội các (Kabinet).“
Việc tổ chức lại (Neuausrichtung) đảng sau vụ từ chức (Ausscheiden) Thủ hiến
của các ông Roland Koch, Jürgen Rüttgers và Christian Wulff sẽ không có xảy
ra. „Tôi không tin rằng, chúng tôi phải cần tổ chức lại liên hiệp Cơ đốc (Union).“
Sẽ có một chính sách hỗn hợp (Mischung) từ kinh tế và xã hội vẫn nằm trong tay
các vị đại diện (Stellvertreter).
Ông Steinmeier tấn công (attackieren) bà Merkel.
Việc thiếu đoàn kết (Geschlossenheit) của liên minh cầm quyền đen-vàng trong
cuộc bầu cử ông Wulff được bà Merkel đáng giá như một tín hiệu (Signal) cho
liên minh cầm quyền. Nó có liên quan đến sự „đòi hỏi“ (Aufforderung) giải quyết
(lösen) những vấn đề đương đại (aktuell) và „tập trung (konzentriert)“ để làm
việc. Đồng thời (zugleich) bà Thủ tướng cam kết (versichern) rằng bà „không
thể làm ngơ“ vụ bầu cử Tổng thống (Präsidentenwahl). Đối với bà điều quá rõ
ràng rằng „vần đề đã không đơn thuần (einfach) như dự tưởng“.
Những sự chỉ trích về khả năng (Fähigkeit) lãnh đạo của bà Merkel xuất phát
từ phía đối lập. „Điều thật tế (Tatsache) là bà Merkel không thể lãnh đạo (führen),
mà lúc nào (immer) cũng chờ đợi (abwarten)“, ông Frank – Walter Steinmeier (SPD)
chủ tịch đảng khối SPD trong quốc hội nói với nhật báo „Kölner Stadt – Anzeiger“
hôm thứ bảy (Samstag) tuần qua. Trong liên minh cầm quyền với SPD bà Merkel
đã có nhiều thành công (Erfolg) bởi vì „bà đã làm việc với những đầu não (Kopf)
có kinh nghiệm lãnh đạo chính quyền (regierungserfahren) và được lèo lái bằng
những đề nghị (Vorschlag) thích hợp. Sự kiện này không hề có trong chính quyền
liên minh với đảng FDP.
Ngay trước đó (zuvor), các chính trị gia lãnh đạo liên hiệp Cơ đốc đã cảnh báo
(warnen) việc đưa ra cuộc tranh luận (Debatte) về chủ tịch đảng. „Thành công
và thất bại (Misserfolg) luôn có trách nhiệm (verantworten) liên đới (gemeinsam)“,
bà Annette Schavan, Bộ trưởng Bộ Huấn dục Đức (Bundesbildungsministerium) kiêm
phó chủ tịch đảng CDU, nói trên đài truyền thanh Tây Nam (Südwestrundfunk).
Việc chê trách bà Merkel thật đặc biệt lạ lùng (seltsam), khi có kẻ muốn lãnh
đạo (Führung) nhưng không để cho người khác lãnh đạo. Giờ đây thì đòi hỏi đủ
thứ. „Chúng ta đang đứng trong giai đoạn thử thách (Bewährungsprobe), điều này
có giá trị cho liên hiệp Cơ đốc lẫn đảng FDP“, một thân tín (Vertraute) của
bà Merkel nói.
Hôm thứ năm tuần qua, các vị Thủ hiến đảng viên CDU các tiểu bang Thüringen
và Baden – Württemberg là Christine Lieberknecht và Stefan Mappus, đã cảnh báo
về việc tranh luận về vị nữ đảng trưởng. Chính bà Merkel cũng đã kêu gọi (appellieren)
sự đoàn kết (Geschlossenheit) nhiều hơn nữa. Bà nhấn mạnh (betonen) rằng „Một
mình vị Thủ tướng dĩ nhiên không thể làm hết được mọi công việc của chính quyền.“
nb/dpa/Reuters/ddp
Hình dpa: Bà Angela Merkel (CDU), Thủ tướng Đức quốc.
Thứ tư ngày 07.07.2010
Nữ thẩm phán thanh thiếu niên tại Berlin tự sát.
Bà Kirsten Heisig, nữ thẩm phán thanh thiếu niên (Jugendrichterin)
nổi tiếng (bekannt) tại Berlin đã tự sát (sich selbst töten). Việc khám nghiệm
tử thi (Obduktion) đã xác chứng điều này khi xác chết (Leiche) đã được cảnh
sát sau nhiều ngày điều tra tìm được (finden) hôm thứ bảy (Samstag) trong một
cánh rừng (Waldstück). Cái chết (Tod) của người phụ nữ 48 tuổi này không có
dấu vết gì cho thấy đã bị người khác giết.
Ông Martin Steltner, phát ngôn viên của Công tố viện (Staatsanwaltschaft) đã
cho biết hôm chủ nhật (Sonntag) và không đề cập đến những chi tiết (Einzelheit)
khác.
Nữ thẩm phán (Richterin) nổi tiếng qua những hành động cụ thể đối với thành
phần thanh thiếu niên (Jugendliche) phạm pháp (kriminell). „Bà được tôn quý
(achten) vì khả năng chuyên ngành (fachlich) và được Công tố viện rất kính nể“,
vị phát ngôn viên này nói.
Bà Heisig có thẩm quyền (zuständig) và chịu trách nhiệm về những khó khăn trong
quận (Bezirk) Neukölln, nơi được xem là điểm nóng (Brennpunkt) xã hội. Bà đã
phát minh (entwickeln) cái gọi là mô hình (Modell) Neukölln để trừng phạt (bestrafen)
nhanh chóng (schnell) các thanh thiếu niên phạm tội hình (Delikt) nhỏ (klein)
nội trong vòng một tháng. Mục đích để sớm đạt được (erreichen) hiệu quả (Wirkung)
giáo dục (Erziehung). Nhờ sáng kiến (Initiative) này, sự nổi tiếng (Bekanntheit)
của bà đã vượt ra ngoài khu phận Berlin. Trong khối tư pháp người ta nói rằng
cái chết của bà có liên quan đến những vấn đề (Problem) riêng tư (persönlich).
dpa
Hình dpa: Bà Kirsten Heisig, nữ thẩm phán thanh thiếu niên phạm pháp tại Berlin,
đã tự sát. (Hình lưu trữ (Archivbild) ngày 24.02.2010)
Thứ ba ngày 06.07.2010
Đảng CSU muốn liên kết thời gian hoạt động của các lò điện
lực hạt nhân và thuế.
Liên minh cầm quyền đen-vàng muốn liên kết (verknüpfen) có tính
cách chính trị loại thuế được dự kiến cho hạt nhân (Brennelement) và thời gian
hoạt động (Laufzeit) dài hơn của các lò điện tử lực hạt nhân (Atomkraftwerke)
với nhau (miteinander).
“Hôm nay (heute) chúng tôi nói rằng, vì chúng tôi thấy được mối tương quan (Zusammenhang),
nên đã nhìn vấn đề trên quan điểm chính trị“, ông Hans-Peter Friedrich, chủ
tịch nhóm liên bang (Landesgruppe) đảng khối CSU trong quốc hội, phát biểu sau
cuộc gặp gỡ (Treffen) các lãnh tụ liên minh cầm quyền. Trong sự tranh chấp (Streit)
với phe đối lập (Opposition) về thời gian hoạt động lâu hơn cho thấy tiểu bang
Bayern sẽ bị đe dọa (drohen) bằng một vụ tố tụng phản kháng (Gegenklage) do
liên hiệp đỏ-xanh (SPD/Grüne) nộp lên tòa án hiến pháp Đức tại Karlsruhe. Tron
trường hợp đảng SPD và Grüne kiện lên tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht)
chống việc kéo dài (Verlängerung) thời gian hoạt động các nhà điện tử lực hạt
nhân, thì họ cũng phải tính đến việc đối đầu vụ tố tụng chống việc ra khỏi sử
dụng hạt nhân (Atomausstieg) đã được quyết định năm 2002. Ông Joachim Herrmann
(CSU), Bộ trưởng Nội vụ tiểu bang Bayern, nói với tờ „Welt“.
Ông Friedrich, lãnh đạo nhóm tiểu bang đảng CSU, yêu cầu có sự rõ ràng về thời
gian hoạt động dài hơn . Ông nói: „Chúng tôi cần chắc chắn (definitiv) ít nhất
(mindestens) 15 năm.“ Ông tỏ ra tin chắc (überzeugen) rằng các tiểu bang cũng
có thể bỏ qua (umgehen) vấn đề này. „Tình trạng pháp lý (Rechtslage) đã rõ rệt
(eindeutig). Chúng ta không có sự đồng ý (Zustimmung) của Thượng viện (Bundesrat).“
Theo một bản giám định (Gutachten) của Bộ Nội vụ và Tư pháp, thì điều này cũng
chỉ cho sự kéo dài thời gian hoạt động „phải chăng“ (moderate). Bốn đại doanh
nghiệp năng lượng (Energiekonzert) lớn đốc thúc (dringen) việc kéo dài tời gian
hoạt động các lò nguyên tử (Meiler) và đe dọa sẽ kiện chống lại thuế hạt nhân
(Atomsteuer). Thuế này có thể mang đến mỗi năm 2,3 tỷ Euro cho nước Đức.
Lý do đe dọa tố tụng (Klagedrohung) của đảng CSU là vì chính quyền Đức (Bundesregierung)
của liên minh đỏ-xanh trước đây (damalig) mà không có sự chấp thuận của Thượng
viện – và bây giờ bây giờ họ lại nói rằng hủy bỏ sự ra khỏi này không có sự
đồng ý của Thượng viện thì không thể được. Đảng CSU lập luận (argumentieren)
rằng, phải có cùng (gleich) một quy chế chung (Grundlinie) cho cả hai quyết
định: Vì Thượng viện trong năm 2002 đã không chấp thuận việc rút ngắn (Verkürzung)
thời gian hoạt động, theo ông Herrmanns thì chính quyền hiện nay cũng không
có bổn phận (verpflichten) cần phải có sự biểu quyết (abstimmen) của Thượng
viện cho việc kéo dài. Điều không thể là vì chính quyền đỏ-xanh năm 2002 đã
thực hiện (verwirklichen) việc ra khỏi sử dụng hạt nhân cũng không có sự đồng
ý của Thượng viện, nhưng bây giờ thì phe đối lập yêu cầu Thượng viện phải có
bổn phận chấp thuận, ông Herrmann nói với tờ „Welt). „Đây là một điều hoàn toàn
(völlig) vô lý (unlogisch).“
Ông Jürgen Trittin, chủ tịch đảng khối Grüne, cựu Bộ trưởng Bộ Môi sinh (Bundesumweltminister)
từ 1998 đến 2005, ước tính (einschätzen) khả năng thắng lợi (Erfolgsaussicht)
của tiểu bang Bayern rất mong manh (gering). „Đây chỉ là tiếng huýt gió (Pfeifen)
của tiểu bang Bayern trong đám rừng (Wald). Tiểu bang Bayern cũng như tiểu bang
Hessen và Baden – Württemberg trong năm 2002 rõ ràng (ausdrücklich) đã từ chối
(verzichten) sự khiếu nại (Einspruch) của Thượng viện chống lại đạo luật ra
khỏi việc sử dụng hạt nhân (Atomausstiegsgesetz)“, ông cũng đã lên tiếng trên
nhật báo ấy. Bộ Nội vụ tại München tùy trường hợp sẽ nộp (einreichen) một đơn
kiện kiểm tra quy tắc (Normenkontroll) mang tính chất mờ ảo (abstrakt), vì hình
thức tố tụng này không quy định thời tiêu (Frist).
dpa
Hình dpa: Chiến dịch phản đối (Protestaktion) của tổ chức Greenpeace (Hòa bình
Xanh) chống lại sự kéo dài hoạt động lò điện lực hạt nhân Isar tại Unterahrain
gần Landshut (Vùng Hạ Bayern).
Thứ hai ngày 05.07.2010
Cấm lái xe vận tải trong tháng bảy và tháng tám.
Thêm (zusätzlich) lệnh cấm (Fahrverbot) lái xe vận tải (Lastwagen,
viết tắc là Lkw) vào những cuối tuần (Wochendende) để tạo điều kiện dễ dàng
(erleichtern) cho các tài xế (Autofahrer) xe nhà đi nghỉ hè (Urlaub) trong thời
gian nghỉ học (Fertienzeit).
Để giảm gánh nặng (entlasten) cho các xa lộ (Autobahn) và đường quốc lộ (Bundesstraße),
các Lkw sẽ không được phép (dürfen) sử dụng (nutzen) trong khoản thời gian từ
7.00 sáng đến 20.00 giờ tối trên một vài lộ trình (Straßenabschnitt) có nhiều
xe lưu thông trong những ngày thứ bảy (Samstagen) của tháng bảy (Juli) và tháng
tám (August).
Quy chế này nhắm đến tất cả xe tải (Brummi) có tổng trọng lượng (Gesamtgewicht)
trên 7,5 tấn (Tonnen) cũng như Lkw kéo rờ-mọc (Anhänger). Việc cấm lưu thông
Lkw trong những ngày chủ nhật (Sonntag) và ngày lễ (Feiertag) từ giữa khuya
(Mitternacht) đến 22 giờ tối có hiệu lực trong tương lai theo thông báo của
Bộ Lưu thông (Verkehrsministerium). Ông Peter Ramsauer (CSU), Bộ trưởng Bộ Lưu
thông Đức, nói trên „Bild.de“ rằng trong thời gian nghỉ hè có thêm hàng triệu
xe lưu thông, nên „Tôi muốn rằng họ có được an toàn tối thiểu và không bị căng
thẳng (dtressfrei) để đến mục tiêu (Ziel) nghỉ hè.“
Cái gọi là (sogenannte) cấm lái trong mùa nghỉ hè (Ferienfahrverbot) đã được
Bộ Lưu thông ban hành (erlassen) từ nhiều năm qua và khởi điểm từ quy chế (Verordnung)
tạo điều kiện dễ dàng (Erleichterung) cho sự lưu thông du lịch (Reiseverkehr)
từ năm 1985.
dpa
Hình dpa: Theo một bài viết của nhật báo (Tageszeitung) „Bild“, việc cấm lái
Lkw trong khoản thời gian du lịch (Reisezeit) trong mùa hè (Sommer) sẽ được
làm mạnh (verschärfen).
Chủ nhật ngày 04.07.2010
Phòng hộ sự tịch biên – Một trương mục cho những người có
ít tiền.
Những cái bẫy lệ phí (Gebührenfalle) hay cái neo cứu nguy (Rettungsanker):
Kể từ đầu tháng bảy (Juli) sẽ bắt đầu có một trương mục (Konto) mới gọi là P-Konto.
Nó đảm bảo (garantieren) cuộc sống tối thiểu (Existenzminimum), nhưng phải tốn
lệ phí nhiều hơn.
Một thành tích (Errungenschaft) cho ngành ngân hàng (Bankenbranche) không chỉ
là một loại trương mục mới P-Konto. Chữ P viết tắc cho từ „phòng hộ tịch biên“
(Pfändungsschutz). Ngay trong tháng tư (April) 2009 đã được quyết định (beschließen)
rằng thân chủ của ngân hàng mà có ít tiền (finanzschwach) sẽ được hưởng (genießen)
từ tháng bảy năm 2010 sự phòng hộ (Schutz) được cải thiện hơn (besserer), khi
nước (Wasser) lên đến tận cổ (Hals).
Ai có một trương mục nhưng sợ (fürchten) chủ nợ (Gläubiger) mó tới (zugreifen)
có thể yêu cầu (verlangen) ngân hàng của họ giữ lại 985,15 Euro khoản tiền không
bị tịch biên (Pfandungsfreibetrag) được luật pháp quy định (vorschreiben). Thì
cái trương mục mang chữ N, gọi là trương mục bình thường (N-Konto), trở thành
P-Konto. Như vậy, con nợ (Schuldner) tin chắc (sichergehen) rằng những chi phí
(Kosten) phải thanh toán liên tục (laufend) như tiền mướn nhà (Miete), điện
thoại (Telefon) hoặc vườn trẻ (Kindergarten) vẫn có thể được tiếp tục giải quyết,
cho dù chủ nợ xiết (pfänden) trương mục. Không cần biết (egal) là tiền từ đâu
(woher) chuyển vào trương mục của họ. Sự phòng hộ này dành cho người thất nghiệp
(Arbeitslose), hành nghề tự lập (Selbständige) và doanh nhân mới lập nghiệp(Existenzgründer).
Cho đến nay (bislang), ngân hàng khóa (sperren) trương mục, khi chủ nợ muốn
xiết trương mục. Hậu quả (Folge) của nó là việc trả tiền nhà, điện (Strom) hoặc
bảo hiểm (Versicherung) không thể thực hiện được, cho dù trương mục có đủ tiền
(ausreichend) để thanh toán. Phụ phí (Zusatzkosten) cho việc tự rút tiền thanh
toán (Lastschrift) và hợp đồng trả tiền dài lâu (Dauerauftrag) không thực hiện
được chính là hậu quả và thường dẫn đến việc cắt (kündigen) ngân hàng và nhiều
rắc rối tiếp theo. Ai còn muốn sử dụng trương mục thì đến nay phải có phán của
tòa án (Gericht).
“Trương mục P-Konto bảo đảm không có tính cách quan liêu (unbürokratisch) để
phòng hộ một cuộc sống tối thiểu“, ông Gerd Billen, giám đốc tổ chức phòng hộ
người tiêu thụ (Verbraucherschützer), ca ngợi (loben) việc áp dụng trong năm
qua. Nhưng giờ đây họ lại báo động (alarmieren). Lý do (Grund): Những ngân hàng
(Kreditinstitut) đầu tiên đã tăng lệ phí trương mục (Kontogebühr). Rỏ ràng (offenbar)
các ngân hàng đã mưu mẹo (findig) áp đặt cấu trúc lệ phí (Gebührstruktur) mới.
Chính bà Illse Aigner (CSU), Bộ trưởng Tiêu thụ Đức (Bundesverbraucherministerin),
cũng lên tiếng về dự kế (Plan) này. Trong tuần qua, bà yêu cầu các ngân hàng
và ngân hàng tiết kiệm (Sparkasse) hãy cung ứng (anbieten) P-Konto miễn phí
(kostenfrei) hoặc có chút ít (etwas) thân thiện ngành nghề (branchenfreundlich)
– ít nhất (zumindest) là không đòi tiền thêm ngoài lệ phí bình thường.
Một yếu điểm khác: Sự phòng hộ không phải tự động (automatisch), mà chỉ tùy
thuộc vào đơn (Antrag) cứu xét của ngân hàng. Để ngừa (vorbeugen) sự lạm dụng
(Missbrauch), việc phòng hộ chỉ dành cho một trương mục đã có sẳn (bereits bestehen).
Cho đến nay ai chưa có một trương mục vẫn phải chịu vậy – cho dù có sửa đổi
pháp luật (Gesetzänderung). Ngân hàng không nhất thiết có bổn phận (Pflicht)
phải mở (Eröffenen) một trương mục không lời (Girokonto), các nhà tư vấn nợ
(Schuldnerberater) đã phê phán. Một trương mục cho người nào đó (jedermann)
cho đến nay vẫn thật sự còn là một ước mơ (Wunsch).
Một điểm (Punkt) khác mà người có P-Konto cần phải lưu ý (beachten) là: Ai chuyển
đổi (umstellen) trương mục của để phòng hộ việc tịch biên thì phải tính đến
Schufa. Cơ quan này sẽ được ngân hàng thông báo (informieren) sự chuyển đổi
(Umstellung) này. Nhưng điều này không có ảnh hưởng (Einfluss) đến những điều
kiện (Kondition) ký kết (Abschluss) chẳng hạn vay tín dụng (Kredit), các hợp
đồng (Vertrag) điện thoại di động (Handy), đặt hàng qua danh mục (Katalogbestellung)
hoặc những giao dịch (Geschäft) khác mà ở đó các doanh nghiệp muốn truy vấn
(abfragen) khả tính vay tín dụng (Kreditwürdigkeit) của khách hàng. Liệu giá
trị (Wert) điểm và xếp hạng cho vay tín dụng có bị ảnh hưởng hay không, các
viên chức bảo hộ người tiêu thụ (Verbraucherschützer) muốn kiểm tra lại (überprüfen).
Bài của Michaela Hutterer, nữ biên tập viên FOCUS-Online.
Hình dpa: Sự phòng hộ tịch biên đảm bảo người làm chủ một trương mục (Kontoinhaber)
có mức sống tối thiểu.
Thứ bảy ngày 03.07.2010
Thuế giá trị thặng dư – Cơ quan Tối cao Kiểm soát Chi thu
Đức yêu cầu có quy tắc rõ ràng.
Bảy (sieben) phần trăm cho trứng cút (Wachteleier) và 19 phần trăm
cho nước khoáng (Mineralwasser) – mức độ thuế giá trị thặng dư (Mehrwertsteuer)
không còn ai có thể nhìn thấu (durchblicken) được nữa. Cơ quan Tối cao Kiểm
soát Chi thu Đức quốc (Bundesrechungshof) thậm chí (sogar) còn tìm thấy được
(finden) những ngoại lệ (Ausnahme) hết hy vọng (hoffnungslos) đã lỗi thời (veralten).
Cơ quan này yêu cầu (fordern) tái kiểm (Überprüfung) những trường hợp (Fall)
thay vì đánh thuế giá trị thặng dư bình thường (normal) là 19 phần trăm của
mức thuế (Steuersatz) giảm (ermäßig) thật ra là bảy phần trăm. „Mọi sự giản
đơn (Erleichterung) cần phải được kiểm tra (untersuchen), liệu những tiêu chuẩn
(Kriterien) luật pháp vẫn còn đứng vững (standhalten) như trước đây (nach wie
vor) hay không“, ông Dieter Engels, giám đốc cơ quan tối cao kiểm soát chi thu
Đức quốc, phát biểu hôm thứ hai (Montag) nhân dịp (anlässlich) giới thiệu (Präsentation)
bản báo cáo đặc biệt (Sonderbericht) của cơ quan đến quốc hội (Parlement) và
chính phủ Đức (Bundesregierung) tại Bonn. Mục tiêu (Ziel) ban đầu (ursprünglich)
về lợi điểm (Vergünstigung) của nó là giảm giá (verbilligen) một số mặt hàng
(Güter) nhất định (bestimmt) cho nhu cầu (Bedarf) quan trọng của cuộc sống (lebensnotwendig)
và những lý do (Grund) chính trị xã hội (Sozialpolitik), ông Engels nói. Nhưng
điều này hiện nay không còn thích hợp trong nhiều trường hợp nữa.
Kể từ khi áp dụng (einführen) mức thuế doanh thu (Umsatzsteuersatz) được gia
giảm (ermäßig) trong năm 1968 thì hệ thống tính (Systematik) của nhiều sản phảm
(Produkt) được hưởng lợi (begünstigen) càng tăng (zunehmend) thêm rắc rối (unübersichtlich)
và trở nên mâu thuẩn hơn (widersprüchlicher), Cơ quan tối cao kiểm soát chi
thu đã phàn nàn (beklagen). Việc phân định (Abgrenzung) ngày nay thường xảy
ra tùy tiện (willkürlich).
Trong bản báo cáo đặc biệt của cơ quan này gửi đến quốc hội và chính phủ Đức,
họ đã đề nghị (empfehlen) nên điều chỉnh lại (überarbeiten) toàn bộ bảng danh
mục (Katalog) gia giảm thuế (Steuerermäßigung) và bỏ đi (abschaffen) những dữ
kiện gia giảm (Ermäßigungstatbestand) không có tiêu chuẩn rõ ràng (Klarheit),
minh bạch (Nachvollziehbarkeit) và bình đẳng thuế vụ (Steuergerechtigkeit).
Nếu điều này dẫn đến thu nhập thêm (Mehreinnahme) tiền thuế thì đây là vụ việc
(Sache) của chính trị làm thế nào để có thể sử dụng nó được.
Đảng FDP và Grüne hoan nghênh sự thúc đẩy (Vorstoß) của Cơ quan Tối cao Kiểm
soát Chi Thu Đức quốc. Một danh sách (Liste) phức tạp (kompliziert) với bảy
phần trăm thuế giá trị thặng dư tạo thêm gánh nặng (belasten) cho dịch vụ (Dienstleistung)
và sản phẩm đã dấy lên nhiều cuộc tranh cải (Streit) trong nhiều thập niên (Jahrzehnt)
qua. Nhà nước (Staat) đến nay đã tốn kém )kosten) khoản 20 tỷ Euro mỗi năm cho
hệ thống (System) mức thuế được gia giảm.
mh/dpa/apn
Hình colourbox: Thật tế (eigentlich) các thực phẩm nhu yếu (Grundnahrungsmittel)
được hưởng quy chế gia giảm mức thuế. Nhưng những ngoại lệ cũng từ đó mà sinh
ra rất nhiều.
Thứ sáu ngày 02.07.2010
Khối EU ký hiệp ước (Abkommen) Swift.
Các dữ liệu ngân hàng (Bankdaten) khách hàng (Kunde) châu Âu được
chuyển tiếp (weitergeben) đến USA. Người dân (Bürger) chuyển tiền (überweisen)
ra nước ngoài (ins Ausland) giờ đây có thể bị nằm trên tầm nhắm (Visier) của
các viên chức điều tra khủng bố (Terrorfahnder).
“Hiệp ước (Abkommen) bao gồm (enthalten) nhiều cải tiến (Verbesserung) rõ rệt
(deutlich) nhắm đến sự phòng hộ pháp luật (Rechtsschutz) và dữ liệu (Datenschutz)
chống lại các thoả thuận tạm thời“, ông Thomas de Maizière (CDU), Bộ trưởng
Nội vụ Đức, đã phát biểu tại Berlin. Các quốc gia thuộc EU đã đồng ý biểu quyết
(Abstimmung) văn bản (schriftlich) thủ tục (Verfahren) về Swift.
Quốc hội (Parlament) châu Âu dự kiến (vorraussichtlich) sẽ chấp thuận (zustimmen)
hiệp ước này. Ba nhóm (Gruppe) lớn gồm bảo thủ (Konservativen), dân chủ xã hội
(Sozialdemokraten) và tự do (Liberalen) báo hiệu (signalisieren) cũng sẽ đồng
ý. Ngay trong tháng hai (Februar), quốc hội Âu châu đã bác bỏ hiệp ước. Cơ hội
(Gelegenheit) tới (nächste) để chấp thuận trong vài tuần nữa, khi quốc hội Âu
châu nhóm họp (zusammenkommen) tại Straßburg.
Swift giải quyết (abwickeln) mỗi ngày (täglich) khoản (rund) 15 triệu giao dịch
chuyển ngân (Überweisung) giữa hơn (mehr als) 8300 ngân hàng trên thế giới (weltweit).
USA đã sử dụng (nutzen) những dữ liệu chuyển ngân (Überweisungsdaten) của tư
dân (Privatbürger) và doanh nghiệp (Unternehmen) trong châu Âu ngay trong vụ
tấn công khủng bố (Terroranschlag) ngày 11 tháng chín (September) năm 2001 đến
cuối năm 2009 trong khuôn khổ (Rahmen) „chương trình theo dõi tài chánh quân
khủng bố „Terrorist Finance Tracking Program (TFTP)“. Mục tiêu của nó là làm
khô cạn (trockenlegen) nguồn tài chánh (Finanzquelle) của những thủ phạm (Attentäter)
khủng bố bị tình nghi.
Mới đây, những dữ liệu được lưu trữ (speichern) trong hai máy chủ (Server)
giống nhau (identisch) tại Âu châu và USA, vì thế cho nên nó cũng có thể bị
người Mỹ sử dụng (verwenden). Kể từ năm 2010, các dữ liệu ngân hàng châu Âu
được xử lý (verarbeiten) và lưu trữ bởi Swift trong phạm vi châu Âu cũng có
thể bị USA mó tay vào (zugänglich) không khó khăn gì. Cho nên cần phải có (notwendig)
một hiệp ước giao dịch.
Đảng Grüne đã chỉ trích (kritisieren) sự thỏa thuận (Vereinbarung) là „không
thích hợp“ (nicht verhältnismäßig). Ông Cem Özdemir, chủ tịch đảng Grüne, nói
rằng nếu không có sự phòng hộ pháp lý (Rechtsschutz) hữu hiệu (wirksam) thì
những dữ liệu cá nhân của hàng triệu người dân Đức (Bundesbürger) sẽ được chuyển
giao (übermitteln) USA. „Đây là một việc làm thiếu trách nhiệm“, ông khuyến
cáo (mahnen) và kêu gọi (appellieren) quốc hội Âu châu hãy ngăn chận (verhindern)
sự hiệu lực (Inkrafttreten) của hiệp ước này.
Ngoài ra còn có những lời chỉ trích nặng nề (scharf) tương tự từ đảng Linke
Tả khuynh. Ông Jan Korte, chính trị gia đảng Linke, chorằng hiệp ước này là
một „thảm họa (Katastrophe) về kỹ thuật phòng hộ dữ liệu (Datenschutztechnik)“.
Đây là một vụ „bê bối“ (Skandal) mà chính phủ Đức đã đồng ý.
afi/AFP/ddp
Hình wdr: Khi thanh toán bằng tiền mặt (bar zahlen), thì người ta không có lo
ngại gì đến việc dữ liệu cá nhân bị lạm dụng.
Thứ năm ngày 01.07.2010
Ông Wulff trở thành Tổng thống Đức sau một cuộc bầu cử gây
cấn.
Ông Christian Wulff được bầu làm vị Tổng thống (Bundespräsident)
mới của nước Đức sau một cuộc bỏ phiếu (Abstimmung) gây cấn (Drama) làm chấn
động thần kinh (nervenzehrend). Dù vậy đối với liên minh cầm quyền (Koalition)
đen-vàng của bà Thủ tướng Đức Angela Merkel (CDU) thì vụ việc này lại là một
thất lợi (Rückschlag) tiếp theo, vì nhân vật chính trị đảng CDU mãi (erst) đến
vòng thứ ba (dritter Durchgang) mới được đắc cử.
Dù cho liên hiệp Cơ đốc (Union) và đảng FDP vẫn được đa số (Mehrheit) nhưng
không chứng tỏ được sự nhất trí (Einigkeit) mà họ muốn biểu dương (Demonstration).
Vị Thủ hiến (Ministerpräsident) tiểu bang Niedersachsen đến nay đã thắng cử
sau một ván gây cấn (Zitterpartie) kéo dài nhiều tiếng đồng hồ (stundenlang)
đến tối ngày thứ tư (Mittwochabend) với 625 phiếu (Stimme) thuận chống lại ông
Joachim Gauck, nhân vật trước đây là một nhà đấu tranh dân quyền (Bürgerrechtler)
ở Đông Đức DDR và được đảng SPD và Grüne đề cử (nominieren). Ông Gauck chỉ có
494 phiếu. Trong hai vòng đầu bầu cử (Wahlgang) đã có nhiều nhân vật khác chính
kiến (Abweichler) trong hàng ngũ đen-vàng muốn ngăn cản (verhindern) sự thắng
lợi (Sieg) của ông Wulff. Đến vòng ba chỉ cần có đa số tương đối (einfache Mehrheit).
Sau một tràn vỗ tay (Beifall) dài, ông Wulff đã chính thức chấp nhận (annehmen)
kết quả bầu cử. Ông mới 51 tuổi và trở thành vị Tổng thống Đức trẻ tuổi nhất
(jüngst) cho đến nay. „Tôi vô cùng (außerordentlich) hạnh phúc chấp nhận và
với niềm tin (Überzeugung) cùng sung sướng nhận lãnh trách nhiệm (Aufgabe)“,
ông Wulff nói. Đây là một vinh dự (Ehre) đặc biệt cho ông, vì đã được bầu làm
Tổng thống sau 20 năm thống nhất Đức quốc. Ông muốn góp sức nổ lực (sich einsetzen)
cho sự thống nhất (Einheit) nội bộ (innere) của đất nước (Land) này. Nhìn về
ba vòng bầu cử, ông nói rằng: „Tôi thực sự (eigentlich) đã học hỏi được rất
nhiều từ sự thất bại (Niederlage) hơn thắng lợi (Sieg).“
Bà Bettina Wulff, người vợ (Ehefrau) 36 tuổi của ông, đã theo dõi (verfolgen)
cuộc bầu cử trên khán đài (Tribühne) trong tòa nhà quốc hội. Nhìn về diễn tiến
(Verlauf) cuộc bầu cử và ứng cử viên đối thủ (Gegenkandidat) Gauck, ông Wulff
đã tri ân (sich bedanken) một „sự cạnh tranh (Wettbewerb) ngay thẳng (fair)“.
Ông Gauck cũng ca ngợi (loben) tinh thần „trung thực“ (Fairness) trong những
tuần qua. Ông đã nhận được những tràng vỗ tay nồng nhiệt và tỏ ra (sich zeigen)
rất cảm kích (bewegt).
Vị Tổng thống mới sẽ được tuyên thệ (vereidigen) vào thứ sáu (Freitag) tuần
này trong một phiên họp (Sitzung) chung (gemeinsam) của Quốc hội (Bundestag)
và Thượng viện (Bundesrat). Nhiệm kỳ (Amtzeit) của ông là 5 (fünf) năm. Các
lãnh tụ (Spitze) liên minh cầm quyền đã đánh giá (bewerten) kết quả đa số (Mehrheit)
xém (knapp) tuyệt đối (absolut) trong vòng ba bầu cử như là một chứng minh sự
tin tưởng (Vertrauensbeweis) dành cho ông Wulff. Liền ngay (unmittelbar) sau
cuộc bầu cử, bà Thủ tướng (Kanzlerin) đã kêu gọi (aufrufen) liên minh cầm quyền
bắt tay tiếp tục công việc lập tức.
Bà Merkel đã ca ngợi người thắng cử (Wahlsieger): „Ông Christian Wulff là một
người (jemand) luôn tiếp cận (zugehen) với người dân và sẽ đại diện đất nước
chúng ta ngay trong những tình huống (Situation) khó khăn (schwierig).“
dpa
Hình dpa: Vị tân Tổng thống Đức, ông Christian Wulff, đang đón nhận những tràng
vỗ tay của các cử tri thuộc đảng CDU.
|